Buổi tối mấy anh em hẹn nhau đi câu lạc bộ thủy thủ cùng một thể cho vui. Thuyền viên tới câu lạc bộ thủy thủ mua đồ lưu niệm cùng vài thứ lặt vặt: kem đánh răng, dầu gội đầu, dao cạo râu, chuẩn bị cho chuyến đi dài ngày kế tiếp. Mới lãnh lương trên biển, túi ai nấy rủng rỉnh.
Rủng rỉnh đúng theo cả hai nghĩa bởi họ dùng tiền xu. Họ đeo chiếc đãy như mấy bà già xưa, bỏ tiền xu thắt dây rút lại để đãy trong túi hoặc đeo trên cổ. Đồng xu với các mệnh giá 1, 5, 10, 20, 50 cent và 1 đồng. Tuấn râu nói:
- Họ dùng tiền xu thuận lợi cho máy bán hàng tự động.
- Nước mình cũng có máy bán hàng tự động vậy.
- Nhưng con nít Úc không… nuốt tiền xu.
Đi bờ về, Tuấn râu xuống xưởng mượn khoan. Tuấn đóng một lỗ định vị ở mép, kẹp ê tô đồng xu năm mươi cent khoan một lỗ nhỏ rí.
- Khoan làm gì?
- Xỏ dây đeo chơi. Đố mày đồng tiền hình gì? Tuấn lấy tay che lại, hỏi bất ngờ.
- Chắc hình… hình… bát giác.
- Trật lất. Thập nhị giác. Cho mày đếm lại nè.
Nó nhấp miệng, đúng mười hai cạnh đều. Một mặt có hình nữ hoàng Elizabeth đệ nhị, mặt kia chú Kangaroo và chim công châu đầu nhau.
Đại lý làm xong thủ tục giấy tờ nhập cảnh còn bán thêm thẻ điện thoại. Một thẻ mười đô Australia gọi về chừng mươi mười lăm phút, cũng thẻ ấy nếu gọi Mỹ, Canada hay Anh được ba tiếng đồng hồ. Trạm điện thoại thẻ ngoài cổng cảng hư, đi hơn ba cây số mới có. Mỗi lần gọi điện phải bỏ xu mồi, có khi tiền mồi còn tốn hơn tiền mua thẻ.
Khác múi, gọi điện phải canh giờ. May mắn gặp trụ điện thoại vắng người, có hôm gặp đám thủy thủ Philippine vốn nói nhiều, cước phí gọi về nước họ rẻ rề. Khi gặp thủy thủ Philippine gọi điện chỉ còn cách quay về ngủ một giấc cho khỏe, quay ra nhiều khi họ vẫn còn ôm ống nói. Vừa đi từng chữ lại nhảy múa:
Anh!
Là em đây.
Lâu rồi mới mở thư. Em đã vào học trở lại, mọi việc cơ bản tốt nhưng cũng hơi bận rộn một tí. Vừa rồi em cùng chủ nhà cũng là mẹ nuôi đi Florida công việc luôn tiện nghỉ xả hơi mấy ngày. Bà đã lớn tuổi, sức khỏe cũng không được tốt lắm nên em đi cùng. Dù đường xa đi có hơi mệt một chút xíu nhưng vui, cảnh ở đó cũng đẹp lắm. Những ngày đó hai mẹ con mới có thời gian trò chuyện chứ khi đi học em ở trường suốt, về nhà còn lo bài vở. Bà cũng lái xe đi làm xa nên dù sống cùng nhà nhưng thời gian gặp nhau cũng không nhiều. Đôi khi muốn nhắn gì lại bà hay ghi mảnh giấy nhỏ để ở bàn ăn cho em dễ thấy.
Ngoài giờ học em còn đi dạy thêm ở trường. Bài vở công việc dạy thêm cũng bận bịu. Đôi lúc em cảm thấy ngột ngạt vì có quá nhiều việc phải làm nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu. Trừ anh em không nói cho ai biết, sợ người ta nghĩ rằng em không biết sắp xếp thời gian.
Công việc nhiều em lại cứ lề mề nên đôi khi đâm ra quạu quọ, khó chịu với chính bản thân. Phải rồi, em gửi cho anh đường link hình chụp vào mùa hè khi đi chơi với đám bạn cùng trường, còn chuyến đi Florida em chưa kịp đổ ảnh. Em gửi hình cho anh xem nhưng anh không được cười em, nhớ nha anh. Anh cười, em sẽ không cho anh xem hình nữa đâu.
Còn rất lâu nữa mới đến Tết. Bố mẹ em muốn em thu xếp về dịp Tết để thăm nhà. Em cũng rất muốn về nhưng lịch học sắp tới có thể thay đổi. Hôm nay thứ Bảy, em không phải đi học nhưng tuần sau em có bài phải nộp, bài kiểm tra phải làm nên em chuẩn bị đi học bài đây.
Em mong mọi việc đến với anh luôn được thuận lợi suôn sẻ và anh lúc nào cũng yêu thích công việc của mình. Em nghĩ khi yêu thích một việc làm nào đó, mình sẽ không ngần ngại, sẽ làm việc đó thật tốt. Phải không anh?
★
Chẳng mấy chốc đã tới trạm điện thoại. Nó nhét thẻ vào trụ, nghe tổng đài hướng dẫn, bấm mã pin, kết nối, ba lần vẫn chưa gọi được.
Nó loay hoay chợt có người bản địa đậu xe hơi kế trạm điện thoại. Ông bước tới giới thiệu tên John, hỏi có cần giúp gì không. Nó hỏi sao gọi mãi chẳng được. Ông nói đưa thẻ ông bấm giùm cho. Nó đưa thẻ, tiền xu cùng tờ giấy ghi số điện thoại. Ông đút xu mồi vào khe, ngón tay ông to múp míp nhấn từng phím số bíp bíp. Thẻ mới cào chứ đã cho ai mượn để gọi đâu mà hết tài khoản. Hay thẻ ở Townsville qua bang này không gọi được. Phó ba Việt có lần nói, thẻ Úc gọi được ở bất kỳ nơi đâu, miễn có trụ thẻ. Hạn sử dụng còn dài.
Vẫn không gọi được. Chắc ông dùng điện thoại di động, điện thoại bàn chứ không sử dụng trụ thẻ nên không quen. Tấm thẻ trồi ra, ông cầm lấy đọc lại hướng dẫn trong thẻ.
Nó đưa thêm đồng xu, ông không lấy. Ông thò tay vào túi quần lấy cái đãy móc ra một đồng nhét khe mồi. Nhấc máy nghe hướng dẫn, ấn số gọi. Ông rút tới đồng xu thứ tư cũng không gọi được. Cứ mỗi lần lấy xu ông lại móc chiếc đãy ra, như lần này sẽ là lần cuối, xong lại bỏ vào túi quần. Ông là người bản địa gọi điện thoại thẻ còn khó huống chi nó. Sắp tới giờ về nhận ca, cứ đứng chờ ông bấm bíp bíp sốt ruột lắm.
Nó còn cầm trên tay ba đồng xu. Chờ cho tấm thẻ vừa trồi ra nó cất lời:
- Xin lỗi ngài, thôi để khi khác gọi cũng được, không gấp lắm đâu.
Ông John làm như không nghe. Trụ thẻ như đánh đố ông. Lần thứ năm, ông hốt ra một nắm xu. Không lẽ bỏ thẻ để về, làm vậy mất lịch sự quá. Chờ ông mồi hết nắm xu này chắc trễ làm là cái chắc. Mấy đồng năm mươi cent mười hai cạnh xinh xắn lần lượt chui khe. Ông nhíu mày có vẻ suy nghĩ dữ lắm. Ông đánh vật với trụ điện thoại thẻ, mồ hôi trên trán rịn ra, lưng áo ông cũng lấm tấm mồ hôi, phảng phất mùi nước táo. Ông đang hăng, và có lẽ cũng đang bực. Tại nó, ông đã tốn bộn xu oan uổng. Nó chỉ có ba đồng, biết nói với ông thế nào. Nếu nó bỏ về, trụ thẻ lạnh lùng kia sẽ há mồm nuốt hết số tiền trong chiếc đãy của ông.
- Thôi đừng gọi nữa chi, khó quá mình bỏ qua. Cho cháu gửi lại ngài mấy đồng. Xin lỗi, cháu không mang theo nhiều tiền…
Ông quay lại rút thẻ đưa cho nó, lắc đầu nhún vai:
- Bad one. Một ngày tồi tệ.
Ông khoát tay, thở dài, đá mũi giày vào chiếc trụ thẻ bon bon.