Điều nổi bật nhất ở Luân Đôn chính là sự rộng lớn của nó. Chính cảm giác vô tận ấy đã tạo nên nét đặc trưng cho thành phố. Luân Đôn không hề mang vẻ tráng lệ. Nó chỉ sở hữu một trong những tiêu chí của một đô thị lớn là quy mô, nhưng lại thiếu đi một yếu tố quan trọng không kém: vẻ đẹp. Sự kết hợp của hai phẩm chất này mới tạo nên những thành phố vĩ đại như thành ROME, Babylon hay trăm cổng thành của các vị Pharaon; đó là sự đông đúc đi liền với sự tráng lệ, là hàng triệu con người chịu ảnh hưởng bởi nghệ thuật. Những thành phố vĩ đại đã vắng bóng kể từ khi cái đẹp không còn là nguyên tắc sáng tạo. Trong số các thủ đô hiện đại, Paris từng khao khát đạt được vóc dáng ấy; nhưng dẫu Paris có là một thành phố đẹp, thì chắc chắn nó không thể coi là vĩ đại; dân cư của nó quá ít ỏi, và do đặc thù nhà ở, họ chỉ chiếm một không gian tương đối nhỏ. Constantinople mang vẻ đẹp nên thơ; thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây một vị thế tuyệt trần, nhưng lại nghèo nàn về lộng lẫy kiến trúc, và ta có thể tiếp cận vùng ngoại ô một cách dễ dàng đến mức đáng ngại. Luân Đôn áp đảo chúng ta bằng sự mênh mông của nó.
Hãy đặt một Quảng trường La Mã hoặc một Acropolis vào trung tâm thành phố, và hiệu ứng của khối đô thị vốn đang vô hồn và thiếu sức sống ấy, thay vì gây cảm giác đờ đẫn, sẽ nâng tầm con người ta lên. Không gì đại diện cho một quốc gia trọn vẹn hơn một công trình công cộng. Một nghị sĩ quốc hội tối đa chỉ đại diện cho các cử tri hợp nhất; nhưng Cung điện của Quốc vương, một Phòng trưng bày Quốc gia, hay một Bảo tàng mang tên của đất nước, đó mới là những tượng đài mà tất cả mọi người đều có thể ngước nhìn với niềm tự hào, và là thứ truyền nguồn cảm hứng nâng cao tinh thần cho cả những kẻ bần hàn nhất. Ảnh hưởng của chúng tại Luân Đôn là gì? Thôi đừng chỉ trích những điều mà ai cũng chê bai. Nhưng làm sao để cứu vãn tệ trạng này? Điều mà kiến trúc đang khao khát, cũng như bao lĩnh vực khác, chính là một con người tài năng. Liệu chúng ta có nên tìm kiếm chốn dung thân nơi Ủy ban Thẩm mỹ? Tránh khỏi sự tầm thường của một cá nhân để lao vào sự tầm thường của đám đông? Chúng ta chỉ đang nhân lên sự yếu kém và trầm trọng hóa những khiếm khuyết của chính mình mà thôi. Song, có một gợi ý thế này có lẽ nên được đưa ra. Chẳng nghề nghiệp nào ở nước England hoàn thành trách nhiệm cho đến khi họ hiến dâng được nạn nhân của mình. Nền tư pháp liêm chính bắt đầu từ sự phế truất Macclesfield. Ngay cả hải quân được ca tụng của chúng ta cũng chưa từng lập được chiến công lớn cho đến khi chúng ta đem xử bắn một đô đốc. Giả sử như một kiến trúc sư bị đem treo cổ thì sao? Sự sợ hãi cũng có nguồn cảm hứng riêng của nó, chẳng kém gì sự cạnh tranh.
Dù Luân Đôn rất rộng lớn, nó lại vô cùng đơn điệu. Tất cả những khu phố mới mọc lên trong nửa thế kỷ qua, những đứa con của sự thịnh vượng thương mại và thuộc địa, quả thực không thể tưởng tượng nổi lại có thể tẻ nhạt, nhạt nhẽo và đồng dạng đến thế. Pancras giống hệt Mary-le-bone, Mary-le-bone tựa như Paddington; các con phố đều ná ná nhau, buộc bạn phải đọc tên các quảng trường trước khi dám gõ cửa bất kỳ ngôi nhà nào. Nguồn vốn xây dựng khổng lồ ấy đáng lẽ ra phải tạo nên một thành phố vĩ đại. Thật là một cơ hội lớn cho kiến trúc khi bất ngờ được triệu tập để cung cấp nhà ở cho một dân cư tương đương với thành phố Bruxelles, và lại là một tầng lớp dân cư rất giàu có. Riêng Mary-le-bone đáng lẽ đã phải tạo ra một cuộc cách mạng trong kiến trúc nhà ở của chúng ta. Nhưng nó chẳng làm gì cả. Nó được xây dựng theo Đạo luật của Nghị viện. Nghị viện thậm chí còn quy định cả mặt tiền. Chính Nghị viện là đấng bề trên ban ơn cho chúng ta những Gloucester Places, Baker Streets, Harley Streets, Wimpole Streets, cùng tất cả những con phố phẳng lì, tẻ ngắt, vô hồn ấy; chúng giống nhau như đúc trong một gia đình đông con nhưng nhạt nhòa, với Portland Place và Portman Square đóng vai trò những bậc sinh thành đáng kính. Ảnh hưởng của Chính phủ Nghị viện đối với mỹ thuật là một chủ đề rất đáng để đào sâu. Thế lực từng đẻ ra Baker Street làm hình mẫu cho kiến trúc đường phố trong Đạo luật Xây dựng lừng danh của họ, cũng chính là thế lực đã ngăn cản việc hoàn thành Whitehall, và là kẻ đã đem bán cho người ngoại quốc toàn bộ tranh ảnh mà Vua của nước England từng dày công sưu tầm nhằm khai hóa thần dân của mình.
Ngay trong thời đại chúng ta, ta đã chứng kiến sự ra đời nhanh chóng của một khu đô thị mới, được xây dựng hoàn toàn dành riêng cho tầng lớp quý tộc bởi một nhà quý tộc. Khu Belgrave cũng đơn điệu chẳng kém gì Mary-le-bone; và được thiết kế sao cho vừa nhạt nhẽo lại vừa hào nhoáng một cách rẻ tiền.
Nơi Luân Đôn trở nên thú vị hơn chính là Charing Cross. Hướng về phía Northumberland House, và quay lưng lại với Quảng trường Trafalgar, The Strand có lẽ là con phố đẹp nhất châu Âu, pha trộn kiến trúc của nhiều thời kỳ; những lối đi ven sông của nơi đây mang một nét đặc trưng riêng biệt và đong đầy hoài niệm. Fleet Street, cùng với khu The Temple, hoàn toàn xứng đáng nằm liền kề The Strand. Hỏa hoạn ở Luân Đôn đã tước đi niềm vui được chiêm ngưỡng một khu phố cổ đích thực của thành phố; nhưng một vài mảnh ghép vẫn còn đó, và khắp nơi là dòng người nhộn nhịp, cùng tiếng xe ngựa kèn kẹt va đập vào nhau đầy hỗn độn. Các Khu nhà Biện lý (Inns of Court), cùng những khu vực lân cận cảng biển như Thames Street, Tower Hill, Billingsgate, Wapping, Rotherhithe, mới là những phần đẹp nhất của Luân Đôn; chúng đậm đà bản sắc: các công trình kiến trúc gắn kết mật thiết với nhịp sống của người dân hơn là ở những khu vực hào nhoáng khác.
Những thương gia kỳ cựu thời các đời vua George đầu tiên là một thế hệ tuyệt vời. Họ ý thức rõ vị thế của mình và xây dựng cơ ngơi tương xứng với tầm vóc ấy. Trong khi giới quý tộc điền chủ đập bỏ những dinh thự gia tộc của họ để dựng lên những con phố và quảng trường dung tục trên chính mảnh đất đó, rồi dọn vào ở một trong những căn hộ mới xây ấy, thì các thương gia lão luyện lại lấp đầy những con hẻm ngoằn ngoèo nối liền Sở giao dịch Hoàng gia với cảng Luân Đôn bằng những dinh cơ đồ sộ; nếu không hẳn sánh ngang với các cung điện ở Venice hoa lệ, thì ít ra chúng cũng đủ sức đọ lại nhiều dinh thự ở Paris cổ kính. Vài trong số đó, dẫu phần lớn đã bị chia nhỏ thành các căn phòng và văn phòng kế toán, nay vẫn còn nguyên vẹn.
Trong một con hẻm dài, tối tăm, hẹp và ngoằn ngoèo — nơi vẫn mang tên là một con hẻm — chạy từ phía nam phố Lombard hướng về phía sông, có một trong những ngôi nhà cổ từ thế kỷ trước như thế. Cả trong thiết kế ban đầu lẫn tình trạng hiện tại, nó là một mẫu mực cao quý cho dòng kiến trúc của mình. Một cặp cổng sắt đồ sộ, được chế tác tinh xảo, ngăn cách đường phố với khoảng sân rộng rãi và thoáng mát, hai bên được bao bọc bởi hai dãy nhà của dinh thự — bản thân nó là một công trình xây bằng gạch đỏ thẫm, với phần mái tam giác trang trí, các cột ốp tường và gờ chắn bằng đá. Một dãy bậc thang dẫn thẳng lên lối vào cao ráo ở chính giữa; giữa sân là một khoảng vườn nhỏ bao bọc lấy một đài phun nước và một cây chi phong cổ thụ.
Sự tĩnh mịch, càng thêm bội phần ấn tượng sau tiếng ồn ào náo động vừa bỏ lại phía sau, tiếng nước chảy róc rách ru ngủ, khung cảnh dịu ngọt của những tán lá rung rinh, tòa kiến trúc đường bệ cùng khoảng sân tứ giác mát mẻ và rộng rãi, thậm chí cả diện mạo của những kẻ bước vào chốn này — những người thường là thanh niên, lướt ra lướt vào với vẻ đầy đắc chí và trầm ngâm — tất cả hòa quyện lại để ban cho chốn này chút tĩnh lặng cổ kính của một học viện, thay vì là một nơi chốn bị bủa vây bởi những lợi ích cấp bách của thời đại; một chốn can thiệp vào vận mệnh của các vị vua chúa và đế chế, điều phối những sự vụ trọng đại nhất của các quốc gia, bởi đây chính là phòng kế toán của thành phố hiện đại vĩ đại nhất, thuộc về nhà tài phiệt lừng lẫy nhất thời cận đại.
Chính chuyến viếng thăm của Tancred đến Khu tài chính (the City) vào sáng thứ Tư, ngay sau khi chàng gặp Lãnh chúa Eskdale, đã khơi gợi cho tôi những nét đặc trưng ấy của thủ đô chúng ta. Đó là lần đầu tiên Tancred đặt chân đến khu trung tâm tài chính chính gốc của Luân Đôn, và điều đó khiến chàng vô cùng thích thú. Chuyến đi của chàng bắt nguồn từ việc nhận được bức thư sau vào sáng sớm thứ Tư:
‘Tancred thân mến: Ta đã gặp Sidonia hôm qua và nói với cậu ấy về điều cháu muốn. Cậu ta hiện đang rất bận rộn, vì người chú từng gánh vác công việc ở đây vừa mới qua đời; và cho đến khi tìm được một người chú hay họ hàng nào khác để thay thế, cậu ta buộc phải tự mình chèo lái con thuyền, trong bối cảnh thời cuộc đang vô cùng nhạy cảm. Nhưng cậu ta bảo ta nhắn rằng cháu có thể ghé qua gặp cậu ta ở Khu tài chính vào lúc hai giờ chiều nay. Cậu ta sống tại Sequin Court, gần Ngân hàng. Cháu sẽ chẳng gặp khó khăn gì khi tìm kiếm nó đâu. Ta khuyên cháu nên đi, vì cậu ta là kiểu người thực sự thấu hiểu điều cháu đang mưu tính — điều mà cả cha cháu lẫn ta đều không tài nào nắm bắt trọn vẹn; hơn nữa, cậu ta là một nhân vật rất đáng để giao du.
‘Ta có gửi kèm một mảnh giấy nhỏ, cháu hãy đưa nó vào để tránh mọi nhầm lẫn. Vì cháu còn quá non nớt, ta cũng xin nhắc trước rằng cậu ta là người gốc Hebrew; thế nên đừng có huyên thuyên quá nhiều về Ngôi mộ Thánh đấy.
‘Thân ái,
‘ESKDALE.
‘Spring Gardens, sáng thứ Tư.’
Ngay tại khúc đường đông đúc nhất, nơi lòng đường thu hẹp lại, và khi vừa rời bỏ cái tên Cheapside để khoác lên mình cái tên Poultry, một chuỗi ách tắc giao thông cuối cùng đã xảy ra; một sự đình trệ mà chỉ sau mười phút đã đánh mất vẻ trì trệ nguyên thủy của một vụ tắc đường thông thường, để chuyển hóa thành những nét sinh động đặc trưng của một vụ lộn xộn đường phố. Có tiếng chửi thề, tiếng cãi vã, tiếng đe dọa: ‘Không, mày không được đi; Có, tao sẽ đi; Không, tao không làm thế; Có, mày đã làm; Không, mày chưa làm; Có, tao đã làm;’ tiếng roi quật vất vả, sự can thiệp của cảnh sát, một tiếng va chạm chói tai, một tiếng thét gào. Tancred ngó đầu ra khỏi cửa sổ chiếc xe brougham của mình. Chàng nhìn thấy một cỗ xe ngựa quý phái đang gặp hoạn nạn, một cỗ xe vốn chỉ dành cho một nàng tiên nước bên hồ Serpentine, chứ tuyệt đối không phải là loại phương tiện mà người ta có thể ngờ tới sẽ bị đập nát bét ở khu Poultry. Việc làm vỡ những chiếc lò xo tinh xảo, rạn nứt lớp gỗ ép nâu sẫm, làm vấy bẩn tấm thảm phủ ghế yêu kiều, và đẩy cuộc sống của vị đánh xe trẻ tuổi trong bộ tóc giả màu lanh cùng hai gã hầu cận cao kều mặc áo khoác ngắn xứng tầm Lọ Lem vào cảnh nguy hiểm, quả thực chẳng khác nào dùng búa tạ để đập vỡ một cánh bướm.
Tiếng thét ấy, hơn nữa, cất lên từ một nữ chủ nhân xinh đẹp đang bị vây quanh bởi những kẻ đánh xe lớn tiếng và đám cảnh sát thị chính; giữa một vùng đất xa lạ, nàng hoảng sợ rằng mình sẽ bị tống giam vào nhà giam thành phố chỉ vì dân chúng nơi đây đã phá hủy cỗ xe tuyệt mỹ của nàng. Tancred tự mình bước ra khỏi xe brougham, và không mấy dễ dàng, chàng rẽ qua lối đi chật hẹp chen chúc giữa hai hàng xe để tiếp cận cỗ xe ngựa đang đi ngược chiều với mình. Vẫn có những viên chức vô cảm đang thuyết phục người phụ nữ xinh đẹp rời khỏi chiếc xe có phần bánh đã bị gãy. ‘Nhưng tôi biết đi đâu bây giờ?’ nàng kêu lên. ‘Tôi không thể đi bộ được. Tôi sẽ không rời khỏi xe cho đến khi các ông mang tới đây một phương tiện khác. Các ông phải trừng trị những kẻ này, chúng đã phá hủy hoàn toàn cỗ xe của tôi rồi.’
‘Họ bảo đó là lỗi tại người đánh xe của cô; chúng tôi không dính dáng gì đến chuyện đó; vả lại, cô cũng biết họ là ai rồi đấy. Tên chủ của bọn họ có ghi rõ trên xe kìa, Brown, Bugsby và Cty, Limehouse. Cô có thể đòi bồi thường từ Brown, Bugsby và Cty, Limehouse nếu người đánh xe của cô không sai; nhưng cô không thể cứ đứng đây chặn đường thế này được, tốt hơn là nên bước ra ngoài và để chiếc xe được kéo đến khu Steel-yard.’
‘Tôi phải làm sao đây?’ người phụ nữ thốt lên với đôi mắt đẫm lệ và gương mặt đầy vẻ hoảng loạn.
‘Tôi có sẵn một chiếc xe ở đây,’ Tancred — người vừa lúc ấy chen đến bên nàng — lên tiếng, ‘và nó hoàn toàn sẵn sàng phục vụ cô.’
Nàng ngước đôi mắt đẹp tuyệt trần của mình lên, với một vẻ kinh ngạc không sao giấu nổi, nhìn vị công tử hào hoa đột nhiên xuất hiện giữa đám phu xe hỗn hào, cảnh sát vô cảm và toàn bộ những kẻ hâm mộ mang cái nhìn yếm thế của một đám đông. Công luận ở khu Poultry đang chống lại nàng; mái tóc giả của người đánh xe đã khơi ngợi sự chế nhạo; đám gia nhân thì cứ ra vẻ ta đây quyền quý; và có một sự bất mãn ngấm ngầm chĩa vào những chiếc áo khoác ngắn. Còn về phần người phụ nữ, dẫu ban đầu bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp và sự lộng lẫy của nàng, đám đông nhanh chóng nổi loạn chống lại cái thái độ trịch thượng ấy. Hơn thế nữa, nàng lại không đi một mình. Đi cùng nàng là một quý ông để ria mép, kẻ từ đầu đã tham gia vào vụ việc bằng cách lớn tiếng quát nạt đám phu xe bằng tiếng Pháp. Điều này thì quả là quá giới hạn, và đám đông liền hô hào rằng hắn chính là Don Carlos.
‘Ngài thật quá tử tế,’ người phụ nữ nói với một giọng điệu ngọt ngào.
Tancred mở cửa cỗ xe ngựa, cảnh sát kéo bậc thảm xuống, đám gia nhân được lệnh tùy cơ ứng biến với cỗ xe đang hỏng nặng; chỉ trong chớp mắt, người phụ nữ và người đồng hành đã ở trong chiếc xe brougham của Tancred. Chàng dặn dò gia nhân phải tuân thủ mọi mệnh lệnh của họ, rồi biến mất, bởi lúc này đoàn xe bắt đầu dịch chuyển và chẳng còn thời gian đâu để đứng đây đôi co khách sáo.

Chàng đã đặt chân lên vỉa hè, lách mình đi mãi cho đến tận Tòa thị chính (Mansion House), và khi nhận ra một cụm công trình công cộng trước mắt, chàng thấy tốt hơn hết là nên hỏi xem đâu mới là Ngân hàng.
‘Kia chính là Ngân hàng,’ một người đàn ông tốt bụng nhưng đang bận rộn thốt lên, bị thu hút bởi diện mạo khác thường của Tancred. ‘Cậu muốn tìm gì thế? Tôi cũng đang đi về hướng đó đây.’
‘Tôi không hẳn muốn tìm Ngân hàng,’ Tancred đáp, ‘mà là một địa điểm nào đó ở gần đó. Ông có vô tình biết nơi nào mang tên Sequin Court không, thưa ông?’
‘Làm sao mà tôi lại không biết được chứ,’ người đàn ông mỉm cười đáp. ‘Hóa ra cậu đang trên đường đến chỗ Sidonia đấy à?’