Tancred: Cuộc Thập Tự Chinh Mới

Lượt đọc: 381 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 53
Những Mưu Đồ Của Fakredeen

❊ ❊ ❊

– Và từ khi nào mà loài người thôi không còn thờ phụng họ nữa? – Fakredeen hỏi Tancred. – Trước vị Tiên tri ư?

– Khi chân lý từ Thiên đường giáng thế trong hình hài của Chúa Giê-su Christ.

– Nhưng chân lý đã từng giáng thế trước thời Giê-su rồi chứ – Fakredeen đáp; – bởi vì, như anh đã nói với tôi, Chúa từng phán với Môi-se trên đỉnh núi Sinai, và sau đó còn phán với nhiều nhà tiên tri cùng các vương tôn công tử của xứ Israel nữa.

– Và Giê-su cũng là một trong số đó – Tancred nói; – ngài vừa là hậu duệ của Vua David, vừa là Con Thiên Chúa. Nhưng qua vị vương tử cuối cùng và vĩ đại nhất ấy, định mệnh đã an bài rằng tinh thần Híp-ri được ơn trên soi sáng sẽ nhào nặn và thống trị thế giới. Qua Giê-su, Chúa đã ngỏ lời với dân ngoại, chứ không chỉ riêng với các chi tộc Israel. Đó chính là điểm khác biệt lớn lao về mặt trần thế giữa Giê-su và những bậc tiền bối được ơn trên soi sáng của ngài. Cơ Đốc giáo chính là đạo Do Thái dành cho quảng đại quần chúng, nhưng suy cho cùng nó vẫn là đạo Do Thái, và sự phát triển của nó chính là đòn giáng chí mạng vào thói thờ phụng tà thần của dân ngoại.

– Dân ngoại... – Fakredeen thì thầm; – dân ngoại! Anh cũng là một người ngoại đạo phải không, Tancred?

– Hỡi ôi! Đúng vậy – anh đáp, – ta xuất thân từ một lũ cướp biển vùng biển Baltic, những kẻ chưa từng được nhắc đến trong những trang sử lớn của nhân loại, một dòng dõi mà từ nhỏ ta được dạy dỗ để tin rằng đó là vinh dự lớn lao nhất. Ta không dám tưởng tượng nổi chúng ta sẽ ra sao nếu các tín điều Syro-Arab không nhào nặn tâm trí chúng ta. Có lẽ chúng ta đã tự tiêu diệt lẫn nhau trong sự tàn sát đồng loại rồi. Tuy nhiên, dẫu chỉ là những kẻ ngoại đạo thô kệch và sinh sau đẻ muộn, những kẻ mà các Tông đồ chưa từng hay biết, cuối cùng chúng ta cũng được chạm đến linh tượng thiêng liêng và vốn được ban phuơng cách tổ chức ở tầng lớp cao từ thuở ban đầu, bởi tổ tiên chúng ta từng phiêu bạt từ vùng Caucasus; nay chúng ta đã trở thành những vị vua và vương công.

– Lịch sử mới khôi hài làm sao – Fakredeen nói. – À! Nếu tôi chỉ cần am hiểu về nó thôi, nền giáo dục của tôi coi như viên mãn. Anh có gọi tôi là người ngoại đạo không?

– Tôi rất hoài nghi việc một danh xưng như vậy có thể áp dụng cho hậu duệ của Ishmael. Tôi luôn coi cậu là một thành viên thuộc dòng giống thánh thiêng. Đó là một vinh hạnh lớn lao đối với bất kỳ ai; và đối với cậu, nó có thể dẫn lối đến ngai vàng đế quốc.

– Julius Cæsar có phải là người ngoại đạo không?

– Hiển nhiên là vậy.

– Thế còn Iskander? (Alexander xứ Macedon.)

– Chắc chắn rồi; đó là hai kẻ ngoại đạo lẫy lừng nhất từng tồn tại, đại diện cho hai chủng tộc lớn ven bờ Địa Trung Hải – nơi những tư tưởng tông đồ từng hướng đến đầu tiên.

– Chà, dòng máu của họ, dẫu là ngoại đạo, cũng đã dẫn dắt đến đế quốc đấy chứ – Fakredeen nói.

– Nhưng những cuộc chinh phạt của họ thì thấm tháp gì so với những chiến công của Chúa Giê-su Christ? – Tancred nói với vẻ đầy nhiệt huyết. – Triều đại của họ đâu rồi? Thần dân của họ đâu rồi? Cả hai đều được tôn làm thần thánh: giờ đây còn ai đốt hương kính bái họ nữa? Hậu duệ của họ, từ Hy Lạp đến La Mã, đều đang cúi đầu trước các bàn thờ của nhà David. Nhà David được tôn sùng ngay tại chính Rome, tại mọi trung tâm đế quốc hùng mạnh và đang lớn mạnh trên thế giới, từ London, St. Petersburg cho đến New York. Riêng châu Á lại phản bội Đấng Á Châu; nhưng châu Á đã bị người Thổ và người Tatar giày xéo. Gần năm thế kỷ nay, tâm hồn thuần chất phương Đông đã bị bắt làm nô lệ. Chỉ có bán đảo Arab là vẫn giữ được sự tự do và lòng trung kiên với truyền thống thiêng liêng. Từ sâu thẳm lòng mình, chúng ta sẽ bước ra và quét sạch những tàn tích mục nát của hệ thống Tatar; và rồi, khi phương Đông khôi phục lại trí tuệ bẩm sinh của mình, khi các thiên thần và nhà tiên tri hòa quyện trở lại với nhân loại, vùng đất linh thiêng của địa cầu này sẽ giành lại vị thế tối cao nguyên thủy và thần thánh của nó; nó sẽ tác động đến các đế quốc hiện đại, và đức tin nhút nhát của châu Âu – vốn chỉ là cái bóng của một cái bóng – sẽ trở nên mạnh mẽ dũng mãnh như bản tính của những con người hằng ngày thông công với Đấng Tạo Hóa.

p>– Nhưng giả sử rằng – Fakredeen nói với giọng điệu bắt bẻ không giống với vẻ thường ngày của cậu ta, – giả sử khi hệ thống Tatar bị quét sạch, châu Á quay trở lại với những vị thần xinh đẹp mà chúng ta đã diện kiến sáng nay thì sao?

Hơn một lần, kể từ khi rời khỏi hiện diện của Astarte, Fakredeen cứ mãi day dứt về ý tưởng này. Kể từ cuộc gặp gỡ đó, hai người bạn đã trở về trong tâm trạng ủ rũ và trầm ngâm lạ thường. Kỳ lạ thay, giữa họ dường như có một sự ngầm hiểu với nhau là rất ít khi bàn luận về chủ đề đang chiếm lĩnh tâm trí họ. Những lời họ bàn qua tán lại về Astarte thì ít ỏi và gượng gạo; họ có phần cởi mở hơn chút ít khi nói về chuyến thăm đền thờ; nhưng chủ yếu họ vẫn duy trì những câu chuyện phiếm xã giao thông thường bằng những quan sát có phần nhạt nhẽo về Keferinis cùng những sự việc, con người vốn ít có sự thu hút và tầm quan trọng.

Sau buổi yết kiến, họ dùng bữa tối với vị bộ trưởng, không hẳn theo kiểu cách của phố Downing, hay thậm chí với sự xa hoa tương đối của Canobia; nhưng bữa ăn là một sự kiện thú vị và do đó cũng dễ chịu. Một đĩa cơm pilaff ngon miệng vẫn dễ chấp nhận hơn mấy con gà gò tẩm dầu và mật ong: nhưng người phương Đông vốn dĩ rất ôn hòa, và những chuyến đi rèn luyện cho người phương Tây tính tiết chế. Cả Fakredeen lẫn Tancred đều không phải là những kẻ hay chê bai bữa ăn: bánh mì, cơm, cà phê, một chú chim hay con cá cũng đủ khiến họ hài lòng. Vị Tiểu vương giả vờ làm người theo đạo Hồi khi vị bộ trưởng mời ông thứ rượu của núi rừng – loại rượu vốn gắt và nặng sau thứ Vino d’Oro tuyệt hảo của vùng Lebanon; nhưng Tancred vẫn khéo léo nâng ly chúc sức khỏe Nữ vương Astarte mà không hề lộ chút biểu cảm nhăn nhó nào trên khuôn mặt.

– Tôi tin rằng – Keferinis nói, – người Anh, trên hòn đảo London của họ, chỉ nâng ly vì phụ nữ; còn những thổ dân khác của xứ Franguestan chủ yếu cạn ly vì nam giới; chúng tôi coi cả hai cách đó đều là rợ.

– Dù sao đi nữa, các ông cũng thờ vị thần rượu vang đấy thôi – Tancred nhận xét, vị vốn chẳng bao giờ có ý định chỉnh đắc vị bộ trưởng tự đắc. – Hôm nay tôi đã nhìn thấy bức tượng của thần Bacchus.

– Bacchus! – Keferinis nói với nụ cười nửa dò hỏi, nửa xót xa. – Bacchus: chắc là một cái tên theo kiểu Anh! Tất cả các vị thần của chúng tôi đều xuất phát từ vùng Antakia cổ xưa từ trước khi người ta nghe nói đến người Thổ hay người Anh. Tên thật của các ngài mang ý nghĩa thiêng liêng về mọi mặt; và chúng cũng sẽ không được thốt ra, ngay cả với người Ansarey, cho đến khi nghi thức khai tâm linh thiêng được cử hành trong những thánh lễ hoàn mỹ nhất và tuyệt diều không sao tả xiết,

Sau bữa ăn, Keferinis đề xuất rằng trong ngày họ nên đi thả diều hâu của Nữ vương, rồi rời đi, và đoạn hội thoại mà chúng ta vừa lược qua đã diễn ra sau đó. Tuy nhiên, như chúng ta đã quan sát thấy, nhìn chung họ vẫn ủ rũ và trầm ngâm lạ thường. Riêng Fakredeen chìm đắm trong mộng tưởng, và khi cất lời, cậu ta luôn nhắc đến cảnh tượng kỳ lạ vào buổi sáng. Trầm tư buộc cậu phải tìm tòi thắc mắc, bởi trước đó cậu chưa từng nghe nói về hệ thống thần thoại đỉnh Olympus, cũng chẳng biết gì về những khu rừng ở Daphne, hay vị chúa tể rạng ngời mang cây cung bạc.

Tại sao họ lại ủ rũ và trầm ngâm đến vậy?

Về phần lãnh chúa Montacute, những sự kiện diễn ra vào buổi sáng có lẽ đủ để lý giải cho vẻ mặt đăm chiêu của ông, bởi bản tính vốn dĩ ông là người hay suy tư và trầm mặc. Cuộc chạm trán bất ngờ với đỉnh Olympus này gợi lên rất nhiều suy ngẫm cho một kẻ vốn quen đắm chìm trong những suy nghĩ về các ảnh hưởng thần thánh. Cũng không cần phải chối cãi rằng nhân vật Nữ vương đã thu hút sâu sắc sự chú ý của ông. Tâm trí bà vốn đã hòa nhịp với những tư tưởng siêu việt. Bản thân bà từ lâu đã tin rằng mình đang thực hiện một sứ mệnh thiêng liêng. Tancred không thể làm ngơ trước tầm quan trọng của một nhân vật như Astarte trong vở kịch vĩ đại về sự tái sinh thần thánh – điều luôn hiện hữu trong tâm trí ông. Việc cải đạo của bà có thể mang sức nặng ngang ngửa mười trận thắng lớn. Ông không hề dửng dưng trước hiệu quả của ảnh hưởng nữ tính trong việc truyền bá chân lý tôn giáo, cũng chẳng hề hay biết rằng sự phát triển vĩ đại nhất của các tín điều Arab – nơi chính Đấng Tối Cao cũng hạ mình trở thành một nhân vật nhập cuộc trực tiếp – đã được trợ giúp biết bao bởi bùa chú thiêng liêng của người phụ nữ. Không chỉ có Hoàng hậu Hélène là người sánh ngang, hay đúng hơn là vượt qua những chiến công của các tông đồ lẫy lừng nhất. Ba đế quốc lớn của thời đại – Pháp, Anh và Nga – đều mang ơn những bờ môi phụ nữ về đạo Cơ Đốc của mình. Tất cả chúng ta đều ghi nhớ sức ảnh hưởng cứu rỗi của Clotilde và Bertha – những người đã mang truyền thống từ sông Jordan đến sông Seine và sông Thames: cũng không nên quên rằng nhờ cuộc hôn nhân tốt đẹp giữa Vladimir – Công tước xứ Moscovy – với người em gái của Hoàng đế Hy Lạp Basil, mà chúng ta mới có được sự kiện nổi bật là toàn bộ sự phát triển trí tuệ của xứ Nga rộng lớn đều được định hướng dựa trên các nguyên tắc Arab. Chính nàng Giselle dịu hiền – vị hậu duệ xứng đáng của những người phụ nữ có trái tim nhân hậu xứ Galilee, bản thân là em gái của Hoàng đế Henry Đệ Nhị – đã khai tâm cho người chồng của mình là Vua xứ Hungary về sự khôn ngoan uyên bác của người Híp-ri, về luật pháp của Môi-se và những lời răn của Giê-su. Ba Lan cũng tìm thấy một vị tông đồ và một nữ vương nơi người em gái của Công tước xứ Bohemia, chính là người đã hé lộ cho Micislas người Sarmatia những huyền nhiệm cao quý của đỉnh Sinai và đồi Calvary.

Hỡi những người con của Israel, khi các vị hồi tưởng lại rằng chính các vị đã tạo ra thế giới Cơ Đốc giáo, các vị có thể tha thứ cho người Cơ Đốc ngay cả những giàn hỏa thiêu autos da fè của họ!

Fakredeen Shehaab, Tiểu vương xứ Canobia, và là hậu duệ trực hệ của người mang cờ hiệu của Tiên tri, lại không có đủ niềm tin vào các nguyên tắc Arab để mà mơ đến chuyện cải đạo cho Nữ vương xứ Ansarey. Hoàn toàn ngược lại; Nữ vương xứ Ansarey mới là người cải đạo cho cậu ta. Ngay từ khoảnh khắc đầu tiên nhìn thấy Astarte, bà đã tạo ra ở cậu thứ sức hút từ tính mà cậu vốn dĩ rất dễ bị chiêu cảm, và cũng chính thứ sức hút đó đã khiến Tancred lập tức bị thu hút và thuần phục. Nhưng Astarte còn bồi đắp thêm vào sức ảnh hưởng ấy một quyền năng mà người phương Đông nói chung không dễ gì khuất phục: uy lực của giới tính. Ngoại trừ Eva, chưa từng có người phụ nữ nào dẫn dắt tâm hồn hay nhào nặn sự nghiệp của Fakredeen; và trong trường hợp của Eva, quyền tối thượng ấy đã phần nào bị suy giảm bởi sự quen biết từ thuở nằm nôi – thứ có xu hướng làm phai mờ lý tưởng, dẫu nó có thể củng cố tình cảm đi chăng nữa. Nhưng Astarte hiện lên trước mắt cậu đầy uy quyền và trọn vẹn, một vì sao mà sự hình thành dần dà của nó cậu chưa từng chứng kiến, và do đó độ rực rỡ bất ngờ của nó lại càng gây ấn tượng mạnh mẽ hơn cả thứ ánh sáng vượt trội mà cậu vốn quen ngắm nhìn. Trẻ trung, xinh đẹp, vương giả, đầy nhiệt huyết và hùng biện, được vây quanh bởi những yếu tố tôn lên trí tưởng tượng, và được bao bọc bởi sự huyền bí đầy mê hoặc, Fakredeen – trong sự im lặng và say đắm – đã dâng hiến tâm hồn mình cho Astarte, thậm chí còn trước khi bà hé lộ cho tâm trí chưa quen thuộc và đầy kinh ngạc của cậu những hình hài tựa thần linh của hệ thống thần thoại cổ đại của mình. Eva và Tancred từng nói với cậu về các vị thần; Astarte đã cho cậu tận mắt chứng kiến họ. Tất cả những hình ảnh hữu hình về các vị thần tự hào của Sinai và Calvary mà cậu từng biết đều được thờ phụng phía trên các bàn thờ trong các tu viện xứ Lebanon. Cậu đặt những hình tượng thiếu đi vẻ đẹp hay sự duyên dáng ấy – những hình tượng quá tầm thường, ảm đạm và vô hồn, hoặc nếu có được ban phuơng cách quyền năng thì lại mang vẻ đe dọa nhiều hơn là uy nghi, ủ dột hơn là siêu việt – lên bàn cân so sánh với những hình hài đối xứng ấy, những khuôn mặt mang vẻ đẹp bất tử, bình thản nhưng đong đầy cảm xúc, mà cậu đã ngắm nhìn vào buổi sáng hôm đó với niềm say mê thánh thiện. Nữ vương đã nói rằng, bên cạnh núi Sinai và núi Calvary, còn có cả đỉnh Olympus. Điều đó hoàn toàn đúng; thậm chí Tancred cũng không hề thách thức lời khẳng định của bà. Và những huyền thoại về đỉnh Olympus thì cổ xưa chẳng kém – thậm chí còn cổ xưa hơn – so với những truyền thuyết trong tu viện hay đền thờ Hồi giáo.

Đây không phải là ảo tưởng thần thoại của vị nữ vương xinh đẹp Astarte; cũng không phải là truyền thống ấp ủ của một gia tộc, một chủng tộc, hay thậm chí của một quốc gia. Đây không đơn thuần là những vị thần của núi non: họ đã từng – và hoàn toàn xứng đáng được như vậy – là những vị thần của một thế giới vĩ đại, của những quốc gia vĩ đại, và của những con người vĩ đại. Họ là những vị thần của Alexander và của Caius Julius; họ là những vị thần dưới sự cai trị linh thiêng của họ mà châu Á từng trở nên hùng cường, giàu có, xa hoa và hạnh phúc. Họ là những vị thần từng phủ kín các bờ biển và đồng bằng bằng những đô thị tráng lệ, làm chật ních vùng biển nội địa bằng những chiếc chiến thuyền dát vàng, và lấp đầy những tỉnh bang vốn nay đã hóa thành chuỗi hoang mạc và sa mạc bằng hàng triệu con người đông đúc và thịnh vượng. Chẳng có gì lạ khi người Ansarey vẫn trung thành với những vị thần như thế. Điều kỳ lạ là tại sao con người lại có thể từng ruồng bỏ họ. Nhưng con người đã ruồng bỏ họ, và con người đã trở nên bất hạnh. Tất cả mọi thứ – từ Eva, Tancred, chính nhận thức của bản thân cậu, cho đến những cảnh tượng đang diễn ra xung quanh cuộc đời cậu – đều khẳng định rằng con người đang bất hạnh, suy đồi, hoặc bất mãn; nói tóm lại là khốn khổ. Cậu chẳng lấy làm ngạc nhiên khi một người Syria lại bất hạnh, kể cả một vị vương tử Syria, bởi anh ta chẳng có lấy một sự nghiệp; cậu cũng không ngạc nhiên khi người Do Thái bất hạnh, bởi họ là thành phần bị đàn áp dữ dội nhất trong nhân loại, và rất có thể, điều đó hoàn toàn hợp lý, vì một ngoại lệ như Eva chẳng chứng minh được điều gì cả; nhưng ở đây lại có một người Anh, trẻ tuổi, quý tộc, rất giàu có, sở hữu mọi lợi thế của tự nhiên lẫn vận mệnh, vậy mà lại cất công đến tận Syria để báo cho họ biết rằng toàn bộ châu Âu cũng khốn khổ chẳng kém gì họ. Sẽ ra sao nếu nỗi khốn khổ của họ xuất phát từ việc họ ruồng bỏ những vị thần từng mang lại cho họ sự hạnh phúc nhường ấy?

Một câu hỏi lớn lao; Fakredeen chìm đắm trong vô vàn những sự suy tính khi cậu hút không biết bao nhiêu ống nargileh. Nếu tôn giáo có thể chữa lành cho thế giới, giả sử họ thử nghiệm đức tin cổ xưa và từng một thời rất được ưa chuộng này – thứ đức tin từng rất phổ biến ở Syria thì sao. Nữ vương xứ Ansarey có thể huy động hai mươi lăm nghìn chiến binh tinh nhuệ, và Tiểu vương xứ Lebanon có thể triệu tập một đạo quân, dẫu không được huấn luyện bài bản bằng, nhưng lại đông đảo hơn rất nhiều. Fakredeen, trong cơn cuồng nhiệt của mộng tưởng, mỗi lúc lại trở nên thực tế hơn. Quyền uy châu Á, sự tái sinh mang tầm vóc thế giới, và sự bình đẳng thần quyền, tất cả cứ thế phai nhạt dần. Một vương quốc Syria độc lập, được tạo dựng và bảo vệ bởi một trăm nghìn thanh gươm, hiện lên trước mắt cậu; một tôn giáo Olympus chính thống, mà người Druze theo sự xúi giục của cậu sẽ tiếp nhận, cùng sự khoan dung dành cho người Maronite cho đến khi cậu có thể hối lộ Giám mục Nicodemus để dàn xếp một sự đồng thuận chung, và cải đạo người đứng đầu vĩ đại của ông ta từ Thượng phụ thành Giáo hoàng xứ Antioch. Người Do Thái có thể tiếp tục ở lại, miễn là họ đàm phán một khoản vay nhằm củng cố các thiết chế Olympus và thiết lập triều đại ngoại giáo của Fakredeen và Astarte.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Earl Of Beaconsfield Benjamin Disraeli

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.