Hai vị lữ khách của chúng ta đang suy đoán, chẳng mấy hy vọng gì cho cam, về những phương kế có thể có ở Gindarics để giải khuây trong một tuần lễ, thì thật là nhẹ nhõm biết bao khi họ được Keferinis thông báo rằng Nữ hoàng đã định giờ ngọ vào ngày hôm nay, tức là ngày ngay sau khi họ đặt chân đến, để tiếp đón họ. Đúng vào giờ đó, một số thị vệ — tuy không đi cùng vị đại thần — đã tới chờ Tancred và Fakredeen, thông báo rằng họ có lệnh rước hai vị diện kiến hoàng nhãn. Rời khỏi phòng nghỉ, hai chàng bước lên một bậc thang dẫn đến dãy hành lang bằng gỗ, rồi tiếp tục bước đi dọc theo đó. Cuối hành lang là hai lính gác cầm giáo. Sau đó, họ đi xuống một cầu thang tương ứng và bước vào một căn phòng được các tiểu đồng tiếp đón; căn phòng kế tiếp rộng hơn thì đông đúc người, và họ ở lại đây trong giây lát. Đoạn, họ được dẫn vào yết kiến.
Nữ vương trẻ tuổi của xứ Ansarey đón tiếp họ với một vẻ mặt dửng dưng hết mực, cứ như thể bà đang tổ chức một buổi tiếp tân tại cung điện St. James vậy. Ngồi trên chiếc ghế dài divan, bà khoác một tấm áo choàng màu tía; mái tóc dài đen nhánh xõa qua đôi bờ vai, vén gọn khỏi vương trán trắng ngần được xiết bằng một vòng kim hoàn nguyên chất bản rộng và có từ thời cổ đại. Đứng bên tay phải bà là Keferinis, đội trưởng đội cận vệ của bà, cùng một nhân vật trông giống giáo sĩ với bộ râu dài màu trắng, rồi cách ba nhân vật này một khoảng là khá nhiều cá nhân mà bề ngoài chẳng khác biệt mấy so với thần dân bình thường của bà. Bên tay trái bà ngay sát đó là ba nữ thị tì trẻ trung và xinh xắn; cách họ một khoảng là một đoàn nữ nô; và xa hơn chút nữa là một nhóm thần dân khác mặc khăn vấn đầu trắng và trang phục đen. Căn phòng rộng rãi và được trang trí bằng những bức họa thô sơ theo phong cách Ionic.
Keferinis nói: "-Quả thực, theo lời khẩn khoản thiết tha cùng sự ân cần đầy thân thiện của Nữ vương bệ hạ không tài nào chối từ, các vương tử xin hãy an tọa.-" Thế là Tancred nhận chỗ ngồi đã định ở bên phải Nữ hoàng, dẫu cách một khoảng, còn vị Emir trẻ tuổi chiếm chỗ bên trái. Fakredeen diện trang phục lộng lẫy đậm chất Syria, rực rỡ những khăn choàng và vũ khí nạm ngọc; nhưng Tancred vẫn giữ nguyên bộ y phục châu Âu như trong mọi dịp khác, dẫu lần này có phần lộng lẫy hơn thường lệ đôi chút với quân phục màu xanh sẫm, những đường thêu tinh xảo và chiếc lông chim rủ trên mũ của lực lượng kỵ binh dân vệ Bellamont.
-Ngài là một vương tử của người Anh?- Nữ hoàng hỏi Tancred.
-Tôi là người Anh,- chàng đáp, -và là thần dân của Nữ vương chúng tôi, bởi chúng tôi cũng có diễm phúc được cai trị bởi một vị quân vương trẻ tuổi và xinh đẹp.-
-Tổ tiên tôi và vương tộc Shehaab xưa nay vẫn luôn là bạn hữu,- bà tiếp lời, quay sang Fakredeen.
-Nguyện cho tình hữu nghị đó mãi mãi trường tồn!- chàng đáp. -Bởi nếu dòng dõi Shehaab và xứ Ansarey chung một ý chí, thì Syria chẳng còn là cõi trần gian, mà thực sự là chốn thiên đường.-
-Các ngài sống trên tàu thuyền nhiều lắm phải không?- Nữ hoàng hỏi, quay sang Tancred.
-Chúng tôi là một dân tộc sống trên đảo,- chàng đáp, có phần bối rối, nhưng viên Keferinis am tường mọi thứ đã kịp thời giải vây cho cả Tancred lẫn nữ quân vương của mình.
-Người Anh chỉ sống trên tàu thuyền trong sáu tháng của năm, chủ yếu là khi họ đi Ấn Độ, thời gian còn lại họ hoàn toàn ở tại các điền trang của mình.-
-Phải đi tàu thì mới tới được Ấn Độ ư?- Bệ hạ hỏi.
Tancred cúi đầu đồng tình.
-Nữ vương của các ngài trạc tuổi ta chứ?-
-Bà ấy cũng trẻ như Bệ hạ khi bắt đầu trị vì.-
-Và bà ấy trị vì được bao lâu rồi?-
-Khoảng bảy năm gì đó.-
-Bà ấy có lâu đài không?-
-Nữ vương thường ngự tại một lâu đài rất nổi tiếng.-
-Chắc là kiên cố lắm nhỉ?-
-Đủ kiên cố ạ.-
-Emir Bescheer vẫn ở Stamboul chứ?-
-Tôi tin rằng hiện ngài ấy đang ở Brusa,- Fakredeen đáp.
-Ngài ấy có thích Brusa không?-
-Không thích bằng Stamboul ạ.-
-Stamboul có phải là thành phố lớn nhất trên thế giới không?-
-Thiết tưởng là không phải đâu ạ,- Fakredeen đáp.
-Nơi nào lớn hơn thế?-
-London lớn hơn, đó là thành phố lớn của người Anh, nơi vị vương tử xuất thân; Paris cũng lớn hơn, nhưng không lớn bằng London.-
-Có bao nhiêu người ở Stamboul?-
-Hơn nửa triệu người ạ.-
-Các ngài đã thấy Antakia (Antioch) chưa?- Nữ hoàng hỏi Tancred.
-Thưa chưa ạ.-
-Các ngài đã thấy Beiroot chưa?-
-Rồi ạ.-
-Antakia vốn chẳng lớn bằng Beiroot,- Nữ hoàng nói; -vậy mà đã từng có thời Antakia còn lớn hơn cả Stamboul; có lẽ lớn bằng thành phố lớn của các ngài ấy chứ.-
-Và còn đẹp hơn cả hai nơi ấy rất nhiều,- Tancred nói.
-À! Các ngài đã nghe nói về những chuyện này rồi sao!- Nữ hoàng thốt lên với vẻ đầy hứng khởi. -Bây giờ hãy nói cho ta hay, tại sao Antakia giờ đây không còn là một thành phố lớn, lớn bằng Stamboul và thành phố của người Anh, lại còn đẹp hơn nhiều nữa?-
-Đó là một câu hỏi có lẽ sẽ làm khó cả bậc hiền triết,- Tancred đáp.
-Ta chẳng phải hiền triết gì,- Nữ hoàng nói, đăm đăm nhìn Tancred, -tuy nhiên ta có thể giải đáp nó.-
-Ước gì Bệ hạ rủ lòng thương hạ cố làm điều đó.-
-Có những chuyện nên nói, và có những chuyện không nên nói,- câu trả lời là vậy, và Nữ hoàng nhìn sang Keferinis.
-Bệ hạ đã bày tỏ vô cùng chuẩn xác và đầy vẻ đoan trang nhã nhặn,- vị đại thần thưa.
Nữ hoàng lặng thím đi một lát, đầy suy tư, đoạn uyển chuyển phất tay; lập tức căn phòng trống hoác không còn một bóng người. Chỉ có các vị vương tử, theo chỉ dẫn của Keferinis, là ở lại, ngoại trừ vị đại thần — theo ý nguyện của nữ quân vương, giờ đây đã ngồi xuống, nhưng không phải trên ghế divan. Ông ngồi ngay trên sàn nhà đối diện với Nữ hoàng.
-Hỡi các vương tử,- Nữ hoàng nói, -chào mừng các ngài đến với Gindarics, nơi chẳng mấy ai lui tới. Bởi chúng ta là những con người không muốn nhìn cũng chẳng muốn kẻ khác nhìn ngó. Chúng ta không giống những người khác, cũng chẳng ghen tị với ai. Ta chẳng màng đến tàu thuyền của Nữ vương nước Anh, và thần dân của ta mãn nguyện sống như tổ tiên họ từng sống trước đây. Núi non chúng ta hoang vu và cằn cỗi; các thung lũng đòi hỏi sức lao động không mệt mỏi mới canh tác nổi. Chúng ta không có vàng bạc, chẳng có châu báu; lụa là cũng không. Nhưng chúng ta có những tư tưởng đẹp đẽ và an ủi biết bao, và hơn thế nữa là những điều mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ, tất cả chúng ta đều rộng mở đón nhận, và chỉ có chúng ta mới trân trọng hay thấu hiểu được. Khi Darkush, người cư ngụ tại Damascus và từng là tôi tớ của tiên vương ta, sai sứ giả trung kiên đến chỗ chúng ta và nói rằng có các vương tử muốn tới hội kiến, ông ấy thừa hiểu rằng cử đến đây những kẻ chỉ biết bàn chuyện người Anh và người Ai Cập, chuyện triều đình Ottoman và các quốc gia Frank-gestan là hoài công vô ích. Những điều ấy đối với chúng ta chẳng khác nào vỏ trái cây. Chúng ta cũng chẳng màng đến vải vông, hay những thứ người ta tìm kiếm ở các thành phố vùng đồng bằng, và có lẽ, hỡi ngài Emir cao quý, chúng cũng được nâng niu ở cả những ngọn núi thuộc dãy Lebanon. Đây không phải Lebanon, mà là núi non của xứ Ansarey — những con người vẫn sống như họ từng sống từ ngàn xưa, trước khi danh tính người Thổ hay người Anh được biết đến ở Syria, và họ sẽ mãi giữ nguyên như vậy, trừ phi điều chưa từng xảy ra có thể xảy ra, nhưng lại quá đỗi tuyệt vời để có thể tin rằng nó sẽ đến. Vì thế, ta nói chuyện với các ngài bằng sự bộc trực, hỡi các vị vương tử từ những xứ sở xa lạ: Darkush, kẻ hầu của tiên vương ta và cũng là của ta, đã nhắn nhủ qua sứ giả trung kiên rằng không phải về những thứ vốn trôi nổi như nước đổ đầu môn ấy mà các ngài muốn hội kiến, nhưng có những điều cần phải được giãi bày. Chính vì thế mà ta đã phái sứ giả trung kiên quay trở lại cùng lời nhắn: "Hãy đưa các vương tử ấy đến Gindarics, vì lời lẽ của họ không bàn về những chuyện hợp tan vốn gây náo động ngoài duyên hải và chốn đô hội rồi mau chóng lùi vào quên lãng." Những thứ đó ta khinh bỉ khôn cùng; nhưng những lời chân thật được thốt lên từ tinh thần hữu nghị sẽ trường tồn, nếu chúng mang trọng trách lớn lao và đề cập đến những vấn đề chính đáng cho những chuyến viếng thăm của vương tử tới các bậc nữ vương.-
Nữ hoàng dứt lời và nhìn Keferinis; ông cúi đầu bày tỏ sự tán thành sâu sắc. Tancred và Fakredeen cũng trao đổi ánh mắt cho nhau, nhưng vị Emir phất tay ra hiệu tỏ ý muốn Tancred đáp lời; sau một phút chần chừ, với vẻ cung kính hết mực, chàng cất lời bày tỏ:
-Đối với tôi và bằng hữu của tôi, vị vương tử xứ Lebanon, chúng tôi cảm thấy như mình vừa lắng nghe những lời lẽ đầy minh triết. Chúng hoàn toàn chính xác về mọi mặt. Bản thân chúng tôi không biết Darkush, nhưng ông ấy đã thông tin hoàn toàn chính xác cho Bệ hạ rằng chúng tôi đến Gindarics không phải vì những chủ đề tầm thường, dù là chính trị hay thương mại. Cũng chẳng phải vì sự tò mò vốn nung nấu lòng lữ khách. Bởi chúng tôi không phải lữ khách, mà là những con người ôm ấp một hoài bão cần phải thực hiện. Thế gian này, từ thuở khai thiên lập địa, vốn tôn sủng quyền tối thượng về tinh thần của châu Á — điều đó cũng tự nhiên thôi, bởi châu Á là vùng đất duy nhất mà Đấng Tạo Hóa đã rủ lòng ngự đến và chưa từng ngừng trò chuyện với con người — nay lại đang đau đớn đánh mất niềm tin vào những tư tưởng và niềm xác tín từng dẫn dắt nhân loại bấy lâu nay. Do đó, chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc châu Á nên thực hiện một trong những nỗ lực định kỳ đã được định sẵn của mình nhằm tái khẳng định quyền tối thượng ấy. Dẫu cho chúng ta đang hành động, như chúng tôi tin tưởng, dưới sự thúc đẩy của thần thánh, thì bổn phận của chúng ta là phải chọn lựa những tác nhân trần thế thích hợp nhất để hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng. Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng xứ Syria và Arabia — những quốc gia mà Chúa chúng ta từng ngự trị, và là nơi Ngài vẫn hằng giao tiếp trực tiếp, thường xuyên từ những ngày xửa ngày xưa — phải đảm nhận nhiệm vụ trọng đại này. Hai giống dân cùng chung tấm lòng tự do, một kẻ sống nơi sa mạc, kẻ kia ngụ chốn núi rừng, không hề vấy bẩn bởi bất kỳ thói hư tật xấu nào chốn đồng bằng, với nguồn sinh lực trinh nguyên của trí tuệ không bị thui chột bởi những thứ mê tín dị đoan câu nệ của thị thành và phố xá, một bên sẵn sàng cung cấp lực lượng kỵ binh vô địch, bên kia là một đạo quân bộ binh gan dạ đã trang bị đầy đủ, chính là những kẻ chinh phục tự nhiên và đoàn kết của thế giới mà chúng ta đang tìm kiếm. Chúng ta muốn chinh phục thế giới ấy, với các thiên thần dẫn lối đầu quân, ngõ hầu thiết lập hạnh phúc cho con người dưới triều đại thần thánh, và đập nát thứ chủ nghĩa vô thần chính trị đang tàn phá sự sống, triệt để tiêu diệt ách bạo ngược thấp hèn của quyền tự trị do con người áp đặt.-
Nữ vương xứ Ansarey lắng nghe Tancred với sự chăm chú sâu sắc và đầy xúc động. Khi chàng dứt lời, sau một thoáng ngưng lại, bà cất tiếng: "-Ta cũng tin vào sự cần thiết của quyền tối thượng tinh thần thuộc về châu Á của chúng ta. Và kể từ khi nó lụi tàn, ta thấy con người và cuộc đời con người chẳng còn vĩ đại hay tốt đẹp như trước kia nữa. Những gì ngài vừa giãi bày khiến ta đoan chắc rằng việc các ngài cất bước đến đây là một điều đúng đắn. Nhưng khi ngài nhắc đến Arabia, ngài đang nói về vị thần nào vậy?-"
-Tôi đang nói về vị Thiên Chúa duy nhất, Đấng Tạo Hóa muôn loài, vị Thiên Chúa từng cất lời trên núi Sinai xứ Arabia, và chuộc tội cho chúng ta trên ngọn đồi Calvary xứ Syria.-
-Nơi đó cũng có đỉnh Olympus nữa,- Nữ hoàng nói, -nằm ở Anatolia. Thuở trước các vị thần từng ngự trị ở đó.- "-Các vị thần của thi ca,- Tancred đáp. -Không; các vị thần của nhân dân; những kẻ yêu mến nhân dân và được nhân dân yêu mến.-"
Một khoảng lặng trùm lên, rồi Nữ hoàng phá vỡ khi nhìn vị đại thần của mình mà rằng: "-Hỡi Keferinis cao quý, tư tưởng của các vị vương tử này thật thần thánh, và hoàn toàn xứng đáng với những điều thiêng liêng. Há chẳng phải là điều hay khi chớ nên khép lại những cánh cổng dẫn đến chốn tốt đẹp và linh thiêng đó sao?-"
-Xét dưới mọi phương diện, hỡi Nữ vương không thể chối từ, quả là một điều hay khi cánh cổng của chốn tốt đẹp và linh thiêng không bị khép lại.-
-Vậy hãy mang vòng hoa đến đây. Hỡi các vương tử,- Nữ hoàng tiếp lời, -những gì mà ánh mắt của bất kỳ kẻ tha hương nào chưa từng được chiêm ngưỡng, giờ đây các ngài sẽ được tận mắt thấy. Điều này cũng mang bản sắc Á Đông và thần thiêng.-
Lập tức căn phòng lại đông nghịt người. Nữ hoàng nhìn hai vị vương tử và cúi đầu, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Họ lập tức làm theo. Một người bước lên, dâng vòng hoa cho Nữ hoàng, rồi lần lượt trao cho từng người bọn họ. Keferinis và một vài người khác cũng nhận vòng hoa. Cypros và những người đồng hành đi tiên phong, tiếp đó là Keferinis và một kẻ đứng gần chiếc divan hoàng gia; Nữ hoàng đi giữa hai vị khách của mình, theo sau là một đoàn người nhỏ bé được sắp xếp trật tự.
Họ dừng lại trước một cánh cổng bằng đồng cao lớn, rõ ràng là một tác phẩm nghệ thuật cổ xưa. Cánh cổng mở ra một lối đi có mái che và được đục khoét sâu vào lòng đất, xét vài phương diện thì khá giống với lối dẫn thẳng tới lâu đài Gindarics; nhưng dẫu tối tăm, nó lại chẳng cần đến ánh sáng nhân tạo, và chiều dài cũng chẳng phải là ngắn. Lối đi dẫn ra một bệ đá được đẽo gọt từ khối đá tự nhiên; bốn bề là những vách đá dựng đứng, phía trên là bầu trời xanh ngời rực rỡ. Khe núi trông như bị khép kín ở mọi hướng.
Vách đá đối diện cách đó vài trăm thước, dẫn đến qua một con đường quanh co, thoạt đầu trông giống như mặt tiền của một ngôi đền cổ; và khi đến gần, Tancred nhận ra bàn tay nghệ thuật đã góp phần tạo nên một công trình mô phỏng thiên nhiên: một trán mái, một hiên sảnh sâu được chống đỡ bởi những cột trụ kiểu Ionic, cùng một dãy bậc thang được tạc thẳng vào vách đá, dẫn vào những hang động mênh mông mà nghệ thuật cũng đã biến thành những căn phòng cao ráo và nguy nga. Khi họ đã bước lên các bậc thang, Nữ hoàng cùng những người tùy tùng giơ cao vòng hoa hướng về bầu trời, và cùng hòa giọng vào một khúc ca trang nghiêm, du dương, nhưng âm điệu nghe không giống ngôn ngữ của xứ Syria. Bước qua hiên sảnh, Tancred thấy mình như đang đứng trong một căn phòng rộng lớn, nơi chàng chứng kiến một cảnh tượng kỳ lạ.
Thoạt nhìn, tưởng chừng như được sắp xếp trên những khối đá của vùng núi xung quanh là vô số bức tượng điêu khắc làm bằng vật liệu đắt giá với vẻ đẹp tinh xảo; những hình hài mang dáng dấp uy nghi anh hùng và vẻ đẹp lý tưởng; tự thân chúng điềm tĩnh và vô cảm, phủ lên tâm trí người ngắm nhìn niềm kinh sợ và tôn kính. Phải đợi đến khi mắt đã quen với bầu không khí nơi đây, và tâm trí phần nào hoàn toàn định thần sau nỗi ngỡ ngàng kỳ lạ ban đầu, Tancred mới dần nhận ra những hình ảnh tốt lành và nổi tiếng mà tuổi trẻ của chàng từng suy ngẫm từ lâu và từ rất sớm. Trùm lên tâm hồn chàng là dung mạo uy nghiêm với bộ râu buông xõa cùng những lọn tóc vương giả, oai nghiêm ngự trên ngai vàng bằng ngà voi, một tay cầm tia chớp sẵn sàng giáng xuống, tay kia cầm quyền trượng hình cây bách; dưới chân ngài là con đại bàng cảnh giác với đôi cánh rộng mở: trùm lên tâm hồn vị lữ khách đang đăm đăm chiêm ngưỡng từng hình thái của hệ thống phẩm trật tinh tế và thanh nhã ấy — thứ được tạo ra để tôn sùng những bầu trời trong trẻo và miền đất ngập tràn nắng ấm; nữ thần và nam thần, tinh linh cùng nữ thần suối, thần rừng faun, tất cả những gì trí tuệ và trái tim con người có thể mường tượng và tạo tác để biểu trưng cho thiên tài và niềm đam mê của mình, tất cả những gì mà vô vàn biểu hiện của một thiên nhiên tươi đẹp có thể đòi hỏi để nhân cách hóa chúng. Một thứ ánh sáng đẹp đẽ và thỉnh thoảng chập chờn lướt qua những nhóm tượng và hình khối thần thiêng, làm dịu bớt dấu vết tàn phá của thời gian, và đôi khi khoác lên chúng thứ mà người ta có thể gọi là chuyển động của cõi tiên.-
-Các vị thần của người Hy Lạp!- Tancred thốt lên.
-Các vị thần của xứ Ansarey,- Nữ hoàng đáp; -các vị thần của tổ tiên ta!-
-Lòng tôi ngập tràn niềm kinh ngạc ngọt ngào,- Tancred thì thầm. -Cuộc đời này kỳ lạ hơn những gì tôi tưởng. Hồn tôi như thể đã rời khỏi quỹ đạo.-
-Dẫu vậy, ngài vẫn biết họ là các vị thần chứ?- Nữ hoàng hỏi; -còn vị Emir xứ Lebanon thì không biết họ là thần linh ư?-
-Tôi cảm thấy họ chính là như vậy,- Fakredeen nói.
-Vậy ra thế này ư?- Nữ hoàng cất lời. -Làm sao mà ngài, một đứa con của hòn đảo phương bắc——-
-Lại có thể nhận ra vị thần Jove xứ Olympia ư?- Tancred tiếp lời. -Nghe có vẻ lạ lùng; nhưng ngay từ thuở ấu thơ, tôi đã được học về những điều này.-
-À, thế thì,- Nữ hoàng thì thầm với chính mình, với vẻ mặt vô cùng thỏa mãn, -Darkush đã được thông tin chính xác; hắn là một người trong số chúng ta.-
-Cuối cùng thì tôi cũng được chiêm ngưỡng các vị thần của xứ Ansarey,- Fakredeen thốt lên.
-Tất cả những gì còn lại của Antioch, hỡi vị Emir cao quý; của thành Antioch kiêu hãnh với hàng trăm ngọn tháp, cùng những khu rừng linh thiêng và đền đài rực rỡ vẻ đẹp.-
-Hỡi xứ sở Syria bất hạnh!- vị Emir thốt lên; -ngươi quả thực đã lụi tàn rồi!-
-Khi mọi chuyện đã chấm dứt,- Nữ hoàng nói; -khi người ta từ chối dâng hiến tế vật, và các vị thần phẫn nộ rời bỏ trần gian — ta mong không phải là vĩnh viễn —, những kẻ trung kiên ít ỏi đã mang theo các bức tượng thần trốn chạy đến vùng núi non này, và chúng ta đã nâng niu, gìn giữ chúng. Ta đã nói với các ngài rằng chúng ta có những tư tưởng đẹp đẽ và an ủi, và hơn thế nữa. Mọi thứ khác đều đã mất, từ tài sản, nghệ thuật, sự xa hoa, phát minh, tất cả đều biến mất. Mảnh đất cằn cỗi hầu như chẳng nuôi nổi chúng ta; chúng ta ăn mặc như người Kurd, ăn uống còn chẳng bằng họ; nhưng nếu chúng ta rời bỏ chốn núi non này, lang thang như họ trên những cánh đồng cùng đàn gia súc đông đúc, chúng ta sẽ đánh mất các bức tượng thần linh thiêng, đánh mất tất cả những truyền thống mà chúng ta vẫn hằng ấp ủ trong tâm hồn — những thứ bất chấp cuộc sống khắc khổ vẫn chở che chúng ta khỏi việc trở thành những kẻ dã man; đó là cảm thức về cái đẹp và sự cao cả, cùng niềm hy vọng thần thánh rằng khi sự suy đồi đang diễn ra với tốc độ chóng mặt của châu Á đi đến hồi kết, nhân loại sẽ quay trở lại với những vị thần từng làm cho trái đất này trở nên tốt đẹp và hạnh phúc; và rằng họ, với lòng thương xót từ cõi thiên thai, có thể sẽ quay trở lại thăm viếng thế gian vốn không có họ đã trở thành một chốn hoang vu lạnh lẽo.-
-Thưa phu nhân,- Tancred nói với vẻ vô cùng xúc động, -với sự cho phép của Người, chúng ta phải bàn chuyện về những điều này. Trái tim tôi lúc này đang quá đỗi ngập tràn cảm xúc.-
-Hãy lại đây,- Nữ hoàng nói bằng một giọng vô cùng dịu dàng; rồi bà dẫn Tancred đi.
Họ bước vào một căn phòng nhỏ hơn nhiều, có thể xem như một nhà nguyện gắn liền với ngôi thánh đường hoặc đền thờ Pantheon mà họ vừa rời đi. Ở mỗi đầu phòng đều có một bức tượng. Chúng không lớn hơn người thật, làm bằng ngà voi và vàng; màu sắc tinh khiết hơn bất cứ điều gì người ta có thể tưởng tượng nổi, được đánh bóng kỹ lưỡng và ít bị hư hại đến mức ở khoảng cách xa, hiệu ứng tổng thể không hề bị suy giảm chút nào.
-Ngài có nhận ra điều đó không?- Nữ hoàng hỏi khi ngắm nhìn bức tượng, rồi quay sang nhìn Tancred.
-Tôi nhận ra vị thần của thi ca và ánh sáng,- Tancred đáp; -Phoebus Apollo.-
-Vị thần của chúng ta: vị thần của Antioch, vị thần của khu rừng linh thiêng! Nào ai có thể nhìn ngắm ngài mà còn hoài nghi về thần tính của ngài chứ!-
-Đây có thực sự là hình hài,- Tancred thì thầm, -nơi hàng trăm con bò đực từng ngã xuống dưới lưỡi dao tế lễ? nơi những giọt rượu mật ong từng được tưới xuống từ những chiếc chén vàng? vị thần từng sống trong một thiên đường ngập tràn hương trầm?-
-À! Ngài biết hết mọi chuyện đấy chứ.-
-Nguyện xin các thiên thần che chở!- Tancred thốt lên, -bằng không đầu óc tôi sẽ mất trí mất. Thế còn đây là ai?-
-Một vị thần mà những kẻ hành hương trên khắp thế gian từng quỳ lạy. Đây là nữ thần xứ Syria; vị thần Venus của vùng đất chúng ta, nhưng được gọi giữa chúng ta bằng một cái tên mà nhờ ân sủng của nàng, ta cũng mang theo: Astarte.-