Ngày hôm sau cuộc điều tra cái chết, thi thể của Sidney Bolton được an táng tại nghĩa trang nhà thờ Gartley. Do tính chất của vụ án mạng và sự chú ý lớn mà báo chí dồn vào đó, một đám đông người đã tụ tập để chứng kiến lễ chôn cất, và một sự im lặng trang nghiêm bao trùm khi hạ huyệt. Sau đó, như một điều tất nhiên, đã có rất nhiều tranh luận xoay quanh phán quyết của bồi thẩm đoàn. Đa số đều cho rằng bồi thẩm đoàn không thể đưa ra phán quyết nào khác dựa trên những bằng chứng đã thu thập; tuy nhiên, nhiều người tuyên bố rằng lẽ ra phải triệu tập Cố vấn Thuyền trưởng Hervey của tàu The Diver. Những kẻ khôn ngoan này cho rằng nếu người quá cố có kẻ thù, thì có lẽ hắn đã kể về chúng cho viên thuyền trưởng nghe. Nhưng họ lại quên mất rằng các nhân chứng tại buổi điều tra, bao gồm cả mẹ của nạn nhân, đều khẳng định Bolton không hề có kẻ thù nào, thế nên thật khó để biết họ mong đợi Thuyền trưởng Hervey sẽ nói gì.
Sau tang lễ, các tờ báo chỉ đưa ra vài dòng ngắn ngủi về vụ án bí ẩn này. Thỉnh thoảng, lại có những lời bóng gió rằng một manh mối đã được tìm thấy, và sớm muộn gì cảnh sát cũng sẽ tóm được hung thủ. Nhưng rồi tất cả những lời bàn tán vu vơ đó đều chẳng đi đến đâu, và khi thời gian trôi qua, công chúng — ít nhất là ở London — bắt đầu mất kiên nhẫn với vụ án. Tờ tuần báo đầy xông xáo từng hứa thưởng căn nhà đầy đủ tiện nghi kèm theo khoản thu nhập trọn đời cho ai tìm ra kẻ sát nhân đã nhận được thông báo từ Chính phủ rằng một hình thức xổ số như vậy là không được phép. Do đó, tờ báo đành quay lại với trò chơi Limericks, và những thám tử nghiệp dư, giống như những Othello thời hiện đại, chợt nhận ra rằng mình đã thất nghiệp. Ngay sau đó, một cuộc khủng hoảng chính trị nổ ra ở Viễn Đông, thế là công chúng cả thèm chóng chán liền đẩy vụ án mạng của Bolton vào danh sách những tội ác không bao giờ tìm ra thủ phạm. Ngay cả các thám tử Scotland Yard, vì không tìm nổi một manh mối nào, cũng mất dần hứng thú với vụ việc, và có vẻ như bí ẩn về cái chết của Bolton sẽ mãi mãi không được giải mã cho đến Ngày Phán Xét.
Tuy nhiên, tại ngôi làng nhỏ, người ta vẫn tiếp tục dành sự quan tâm sâu sắc, bởi Bolton dường như là người của chính họ, hơn nữa, Góa phụ Anne cứ liên tục than khóc thảm thiết về đứa con trai xấu số của mình. Bà đã mất đi khoản tiền trợ cấp hàng tuần nhỏ nhoi mà Sidney từng trích từ tiền lương của nó để gửi cho bà, thế nên những người hàng xóm, tầng lớp thượng lưu quanh vùng, cùng các sĩ quan tại Pháo đài đã gửi rất nhiều quần áo cho bà giặt giũ. Chỉ trong vài tuần, Góa phụ Anne đã có một lượng khách hàng khá lớn nếu tính theo quy mô của ngôi làng, và bà triết lý với một người hàng xóm rằng “Cái rủi thế này lại may thế khác,” đồng thời nói thêm rằng Sidney chết đi còn mang lại nhiều lợi ích cho bà hơn lúc sống. Dù vậy, ngay cả ở Gartley, người dân làng cũng bắt đầu cảm thấy mệt mỏi khi phải bàn tán mãi về một bí ẩn chẳng bao giờ có lời giải, và thế là vụ án dần chìm vào quên lãng. Trong những ngày tháng bận rộn, lo toan và cạnh tranh này, thật đáng kinh ngạc là con người ta có thể nhanh chóng quên đi cả những sự kiện quan trọng đến thế nào. Nếu một mặt trời màu xanh xuất hiện để chiếu sáng thế gian thay vì mặt trời vàng, thì chỉ sau chín ngày ngạc nhiên, loài người cũng sẽ nhanh chóng quen dần với một bầu trời xanh biếc. Sức thích ứng của nhân loại thật là kỳ diệu.
Giáo sư Braddock thì ítng quên hơn, bởi ông luôn canh cánh trong lòng nỗi mất tích của xác ướp, đồng thời không ngừng suy tính các kế hoạch để tóm gọn kẻ sát hại cựu thư ký của mình. Không phải vì ông quan tâm đến người chết, ngoại trừ góc độ thuần túy thương mại, mà việc bắt được thủ phạm đồng nghĩa với việc đòi lại được xác ướp, và — như Braddock tuyên bố với bất cứ ai ông gặp — ông quyết tâm giành lại báu vật của đời mình. Ông tự mình đến quán trọ Sailor's Rest, khiến chủ quán và đám nhân viên phát điên lên bằng những câu hỏi hách dịch và nổi giận lôi đình khi không nhận được câu trả lời thỏa đáng. Quass cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm khi nhìn thấy tấm lưng tròn lẳn của ông già cáu kỉnh, kẻ cứ bám dai như đỉa theo một vụ việc mà tất cả mọi người đã bỏ cuộc.
“Cuộc đời quá ngắn ngủi,” Quass càu nhàu, “để mà chịu đựng mấy chuyện phiền toái kiểu đó.”
Chuyện tình cảm giữa Archie và Lucy vẫn tiến triển tốt đẹp, và vị Giáo sư không hề có dấu hiệu muốn hủy bỏ hôn ước. Tuy nhiên, như tâm sự với Lucy, Hope có đôi chút lo lắng, vì người chú nghèo khó của anh, với một số vốn vay mượt mà không đủ lớn, đã bắt đầu lao vào đầu cơ các mỏ khoáng sản ở Nam Phi, và có nguy cơ sẽ mất sạch tiền. Trong trường hợp đó, Hope nghĩ rằng mình lại phải đứng ra gánh vác khoản thua lỗ của ông chú, và vì thế đám cưới sẽ buộc phải hoãn lại. Nhưng tình cờ thay, ông chú nghèo khó ấy lại có những cú đầu cơ may mắn và kiếm được một khoản tiền, rồi nhanh chóng tái đầu tư vào những mỏ khoáng sản rủi ro khác. Dù sao đi nữa, hiện tại mọi thứ vẫn ổn thỏa, và đôi uyên ương đang có những ngày tháng bình yên và hạnh phúc.
Rồi một tai họa bất ngờ ập xuống dưới hình hài của Thuyền trưởng Hervey, người đã đến gặp Giáo sư đúng hai tuần sau đám tang. Viên thuyền trưởng là một người cao gầy, gầy đét như một tu sĩ ăn chay trường và rắn rỏi như sắt nguội, với mái tóc đỏ cắt ngắn, bộ râu mép cùng màu hung dữ và chòm râu dê kiểu Mỹ. Ông ta nói chuyện với giọng đặc sệt miền Nam nước Mỹ và một thái độ hách dịch, đủ sức làm vị Giáo sư nóng tính phải phát điên. Khi chạm mặt Braddock trong phòng trưng bày, cả hai lập tức trở thành kẻ thù ngay từ cái nhìn đầu tiên, và vì tính tình ai cũng ương bướng, cáu kỉnh, họ nhanh chóng ghét cay ghét đắng đối phương. Chẳng có cái sự "hút nhau" nào giữa những kẻ đồng điệu ở đây cả.
“Anh tìm tôi có việc gì?” Braddock cộc cằn hỏi. Ông vừa bị Cockatoo lôi ra khỏi việc nghiên cứu một cuộn giấy cói mới để tiếp khách, thế nên tâm trạng chẳng lấy gì làm vui vẻ.
“Tôi ghé qua đây để tán gẫu đôi chút thôi mà,” Hervey đáp với chất giọng đậm đặc kiểu Mỹ.
“Tôi bận rồi: biến đi,” câu trả lời chẳng có chút khách sáo nào.
Hervey kéo một chiếc ghế, duỗi thẳng đôi chân dài ngoẵng và rút ra một điếu xì gà đen, dài và gầy y hệt chủ nhân của nó.
“Nếu ông đang ở nước Mỹ, Giáo sư ạ, tôi đã chĩa súng vào ông vì cái kiểu ăn nói đó rồi đấy. Nhưng tôi không thèm chấp. Nhé!” rồi ông ta châm lửa hút.
“Anh là thuyền trưởng tàu 'The Diver'?”
“Đúng vậy; à mà trước kia là thế. Giờ thì tôi đã chuyển sang một con tàu buồm bảnh chọe nào đó có thể chạy nhanh gấp mấy lần con tàu rệu rã cũ. Tôi đoán là mình sẽ khởi hành đi Nam Hải để săn ngọc trai trong vòng ba tháng nữa. Nếu ông thích, tôi có thể mang theo gã người Kanaka đó đi cùng, Giáo sư ạ,” rồi ông ta liếc nhìn Cockatoo, kẻ đang ngồi xổm như thường lệ, cấy cọ một chiếc bình tráng men xanh từ ngôi mộ Thebes.
“Tôi cần sự phục vụ của hắn ta,” Braddock cứng nhắc đáp. “Còn về phần anh: anh đã được trả công sòng phẳng cho chuyến đi của Bolton và việc vận chuyển xác ướp của tôi rồi, cho nên chẳng còn gì để nói nữa.”
“Còn khối! Cả đống ấy chứ, cứ tin tôi đi,” gã đàn ông miền biển điềm tĩnh nhận xét, kìm nén sự tức giận mà ở những nơi hoang dã hơn có lẽ đã khiến hắn cho tay nhà khoa học béo tốt này một trận nên thân. “Chủ tàu của tôi được trả tiền cho vụ đó: chứ không phải tôi. Không, thưa ông. Thế nên tôi mới tạt vào cảng này để xem có kiếm chác được chút đỉnh nào cho riêng mình không.”
“Tôi chẳng có đồng nào để cho anh cả — ý tôi là làm từ thiện ấy.”
“Hừ! Ai thèm xin bố thí hả, cái lão đầu hói ôm túi thạch này?”
Braddock tức giận đến đỏ bừng cả mặt. “Nếu anh còn dám nói chuyện với tôi kiểu đó, đồ côn đồ, tôi sẽ ném cổ anh ra ngoài.”
“Gì cơ? — Ông á?”
“Ừ, tao đấy,” và vị Giáo sư nhón chân lên, trông hệt như một con gà chọi.
“Ông làm tôi vừa buồn cười vừa phát mệt đấy,” Hervey lầm bầm, thầm thán phục sự gan dạ của ông lão thấp bé. “Nghe này Giáo sư, nói về cái vụ xác ướp thì sao?”
“Xác ướp của tôi: xác ướp xanh của tôi. Sao nào?” Braddock đã cắn câu khi vị "lão ngư" tài tình này tung mồi.
“Đúng thế. Ông chịu trả bao nhiêu nếu tôi mang cái xác đó đến cho ông?”
“A!” Vis Giáo sư lại nhón chân, thở hồng hộc với khuôn mặt tím tái. Giận đến cực điểm, ông suýt thét lên. “Tôi biết ngay mà.”
“Biết cái gì?” viên thuyền trưởng ngạc nhiên hỏi thật lòng.
“Tôi biết chính anh đã đánh cắp xác ướp của tôi. Đúng thế, anh đừng có chối. Bolton, cái đồ ngốc nghếch đó, đã kể cho anh nghe xác ướp quý giá thế nào, rồi anh đã siết cổ tội nghiệp hắn để cướp tài sản của tôi.”
“Từ từ nào,” vị thuyền trưởng nói, chẳng hề nao núng trước lời buộc tội này. “Tôi muốn ông nhớ lại rằng tại cuộc điều tra, người ta đã khai là cửa sổ bị khóa và cửa chính thì mở. Vậy thì làm sao mà tôi có thể bước vào cái khách sạn quái quỷ đó để sắp xếp một màn tang lễ cơ chứ? Hơn nữa, tôi nghĩ dùng súng bắn người còn hợp với tôi hơn là bóp cổ. Việc đó để dành cho mấy gã da vàng bờ Đông đi.”
Braddock ngồi phịch xuống ghế và lau mồ hôi trên mặt. Ông thừa hiểu rằng mình chẳng có chút lý lẽ nào để bấu víu, vì Hervey rõ ràng là vô tội.
“Hơn nữa,” viên thuyền trưởng tiếp tục, nhai nhai điếu xì gà, “tôi nghĩ nếu tôi thực sự muốn cái thây ma cũ rích ấy của ông, tôi đã ném Bolton xuống biển và đổ tội cho thời tiết rồi. Ra tay ngay trên tàu còn hơn là làm trò hề trên bờ. Không, thưa ông, H.H. không bao giờ tự tổ chức mấy cái trò hề ngu ngốc kiểu đó đâu.”
“H.H.? Quỷ tha ma bắt H.H. là ai chứ?”
“Là tôi chứ ai, cứ tin đi. Hiram Hervey, công dân Hoa Kỳ. Quê nhà ở vùng Nantucket. Và này, đừng có làm tôi nổi giận, nếu không tôi lột da đầu ông đấy.”
“Anh không lột da đầu tôi được đâu,” Braddock cười khúc khích, đưa tay xoa lên cái đầu nhẵn bóng của mình. “Thế này đi, anh muốn gì nào?”
“Nói một giá đi rồi tôi sẽ lo tìm lại cái thây ma xanh lè đó cho ông.”
“Tôi tưởng anh định đi Nam Hải cơ mà?”
“Ba tháng nữa mới đi săn ngọc trai cơ. Tôi nghĩ còn khối thời gian để giải quyết cái trò hề mà ông muốn tôi nhúng tay vào đây.”
“Anh có nghi ngờ ai không?”
“Không, trừ phi tôi không tin vào cái vụ cửa sổ đó.”
“Ý anh là sao?” Braddock ngồi thẳng người dậy.
“Chà,” gã người Mỹ kéo dài giọng, “ông thấy đấy, tôi đã gặng hỏi cô ả đưa ra cái lời khai dối trá đó tại tòa rồi.”
“Eliza Flight. Cô ta khai dối ư?”
“À, không hẳn thế. Cửa sổ thực sự được cài then, nhưng việc đó được làm sau khi kẻ đã tiễn bạn của ông về với Chúa kịp chuồn ra ngoài.”
“Ý anh muốn nói là cửa sổ đã được khóa từ bên ngoài á?” Braddock hỏi, và khi Hervey gật đầu, ông thốt lên “Không thể nào!”
“Chẳng có gì là không thể cả, cứ tin tôi đi. Kẻ dàn dựng vụ này cực kỳ ranh mãnh. Cái then cài đã cũ, hắn luồn một sợi dây vòng qua nó, rồi luồn đầu dây lọt qua khe giữa hai khung cửa sổ trên và dưới. Khi ra ngoài, hắn chỉ việc giật mạnh, và thế là then cửa sập vào khớp. Nhưng hắn lại để quên sợi dây ở dưới đất bên ngoài. Tôi nhặt được nó vào ngày hôm sau và đoán ra mánh khóe của hắn. Tôi thử làm lại y như vậy và thành công mĩ mãn.”
“Nghe thật kỳ lạ mà lại như thật,” Braddock kêu lên, vừa xoa đầu hói vừa đi lại đầy phấn khích. “Này, tôi sẽ đi cùng anh để xem người ta làm thế nào.”
“Đừng có mơ ông già, trừ khi ông chịu chi tiền. Nghe đây” — Hervey chồm người về phía trước — “nhìn vào vụ cửa sổ đó là đủ hiểu chẳng có ai bên trong cái quán trọ dám ra tay sát hại bạn của ông cả. Kẻ đã làm việc đó đột nhập và tẩu thoát qua cửa sổ, mang theo cả cái xác cũ rích mà ông đang thèm khát. Giờ ông chỉ cần xì ra năm trăm bảng — tính theo tiền Anh nhé — tôi sẽ đi lùng sục tìm tên cướp cho.”
“Và anh nghĩ tôi có thể kiếm đâu ra năm trăm bảng?” Giáo sư hỏi với giọng đầy cay đắng.
“Chà, tôi nghĩ nếu cái xác quái quỷ đó đáng giá chừng ấy, ông sẽ sẵn sàng buôn bán thôi. Đâu phải tự dưng ông sống trong cái quán trọ này mà không mất tiền thuê.”
“Bạn hiền ạ, tôi chỉ đủ tiền trang trải cuộc sống, và sở hữu ngôi nhà này với giá thuê rẻ mạt vì nó nằm ở nơi quạnh hiu. Nhưng bắt tôi tìm ra số tiền năm trăm bảng thì thà bảo tôi bay còn dễ hơn.”
Hervey đứng dậy, duỗi thẳng đôi chân.
“Thế thì tôi đoán mình nên quay lại Pierside thì hơn.”
“Khoan đã, thưa anh. Có chuyện gì xảy ra trong chuyến hải trình không? — Bolton có nói điều gì khiến anh cho rằng hắn đang gặp nguy hiểm bị cướp và giết không?”
“Không,” viên thuyền trưởng đăm chiêu đáp, vừa đưa tay vuốt chòm râu dê. “Hắn chỉ nói với tôi là đã lấy được cái xác cũ và đang mang nó về cho ông. Tôi không nói chuyện nhiều với Bolton; hắn không phải tuýp người hợp với tôi.”
“Anh có ý tưởng gì về kẻ đã giết hắn không?”
“Không, chẳng có manh mối nào.”
“Thế thì anh định làm thế nào để tìm ra tên tội phạm đang giữ xác ướp?”
“Ông cứ đưa tôi năm trăm bảng rồi sẽ rõ,” Hervey điềm nhiên đáp.
“Tôi không có tiền.”
“Thế thì tôi đoán ông chẳng lấy lại được xác ướp đâu. Chào nhé,” và viên thuyền trưởng thong thả bước về phía cửa. Braddock bước theo hắn.
“Anh có manh mối cơ mà?”
“Không, tôi chẳng có gì sất; thậm chí còn chẳng có cả năm trăm bảng mà ông cứ làm ầm lên ấy chứ. Hôm nay coi như H.H. mất công uổng công rồi, tôi đoán thế. Chờ chút!” Hắn hí hoáy viết gì đó lên một tấm danh thiếp rồi ném nó bay qua phòng. “Đó là địa chỉ của tôi ở Pierside nếu ông đổi cái ý định keo kiệt của mình.”
Vị Giáo sư nhặt tấm danh thiếp lên. “Quán trọ Sailor's Rest! Gì chứ, anh đang trọ ở đó sao?” Rồi khi Hervey gật đầu, ông giận dữ hét lên: “Chao ôi, tôi tin là anh có manh mối trong tay, và cứ bám lấy khách sạn đó để lần theo nó.”
“Có thể có mà cũng có thể không,” viên thuyền trưởng đáp trả, giật mạnh cửa mở tung; “dù sao thì tôi cũng chẳng đi săn cái xác đó nếu không có tiền mặt.”
Khi Hiram Hervey bỏ đi, vị Giáo sư lồng lộn đi qua đi lại trong phòng với cơn thịnh nộ dữ dội đến mức Cockatoo cũng phải co rúm lại vì sợ hãi. Rõ ràng là viên thuyền trưởng người Mỹ này biết điều gì đó có thể dẫn đến việc tìm ra hung thủ, và tiện thể đòi lại được xác ướp xanh về cho chủ nhân thực sự của nó. Nhưng hắn kiên quyết không nhúc nhích nếu không được trả năm trăm bảng, trong khi Braddock lại chẳng biết xoay sở số tiền đó ở đâu. Vốn đã nắm rõ tình hình tài chính của Hope từ lâu, ông thừa biết chẳng có chút hy vọng nào để vòi vĩnh thêm một tấm sec nữa từ phía đó. Dĩ nhiên vẫn còn Random, người mà ông nghe loáng thoáng là đã trở về sau chuyến du ngoạn bằng du thuyền và hiện có mặt ở Pháo đài. Nhưng Random đang say đắm Lucy, và có lẽ hắn sẽ chỉ chịu cho mượn hoặc cho tiền với điều kiện vị Giáo sư phải giúp hắn cưa cẩm cô nàng. Trong trường hợp đó, vì Lucy đã đính hôn với Hope, mọi chuyện sẽ trở nên vô cùng rắc rối để thay đổi hiện trạng. Nhưng khi nghĩ đến đây giữa những dòng suy nghĩ đầy giận dữ, Braddock sai Cockatoo mang lời nhắn đến cô con gái riêng của vợ, bảo rằng ông muốn gặp cô.
“Ta phải xem con bé có thực sự yêu Hope không đã,” vị Giáo sư thầm nghĩ, xoa xoa đôi bàn tay mập mạp. “Nếu nó không yêu, vẫn còn cơ hội để nó đá hắn đi và trở thành phu nhân Random. Khi đó ta sẽ có tiền. Và quả thật,” vị Giáo sư tự lẩm bẩm với vẻ đầy đạo đức giả, “mình phải chỉ cho nó thấy việc kết hôn với một kẻ nghèo túng là sai lầm thế nào, trong khi nó hoàn toàn có thể lấy được một người chồng giàu có. Mình chỉ đang làm trònn bổn phận với người vợ quá cố thân yêu bằng cách ngăn cản nó bước vào cảnh nghèo hèn mà thôi. Nhưng mấy cô gái trẻ thì thật là bướng bỉnh, và Lucy lại đúng là một đứa cứng đầu chính hiệu.”
Sự quan tâm đầy "thiện chí" của ông dành cho cô tiểu thư Kendal nhanh chóng bị cắt đứt bởi sự xuất hiện của chính cô. Ngay lập tức, Giáo sư Braddock bộc lộ rõ ý đồ khi tỏ thái độ vô cùng niềm nở để lấy lòng cô bằng mọi giá. Ông kéo ghế mời cô ngồi: ông ân cần hỏi thăm sức khỏe: ông khen cô ngày càng xinh đẹp, và cư xử khác hẳn ngày thường đến mức Lucy đâm hoảng và thầm nghĩ không biết dạo này ông bố dượng có uống nhầm thuốc gì không.
“Ông gọi tôi có việc gì thế?” cô hỏi, muốn đi thẳng vào vấn đề.
“Aha!” Braddock nghiêng cái đầu đáng kính của mình sang một bên như một chú chim ranh mãnh và mỉm cười ngây thơ. “Ta có tin vui cho con đây.”
“Về cái xác ướp ạ?” cô ngây thơ hỏi.
“Không, về người bằng xương bằng thịt cơ, thứ mà con thích hơn ấy. Ngài Sir Frank Random đã trở về Pháo đài rồi. Thế nào!”
“Tôi biết chuyện đó rồi,” câu trả lời bất ngờ từ cô Kendal.
“Du thuyền của anh ta đã cập cảng Pierside vào đúng buổi chiều tàu The Diver đến.”
“Ồ, vậy sao!” vị Giáo sư thốt lên, sững sờ vì sự trùng hợp. “Sao con lại biết?”
“Archie gặp Sir Frank hôm nọ, và anh ấy kể vậy.”
“Gì cơ?” Braddock làm vẻ mặt bi kịch. “Ý con là hai kẻ trẻ tuổi đó vẫn còn qua lại nói chuyện với nhau à?”
“Vâng. Sao lại không chứ? Họ là bạn mà.”
“Ồ!” Braddock lại giở giọng ranh mãnh. “Ta cứ ngỡ bọn chúng là tình địch tranh giành một tiểu thư nào đó đang có mặt trong căn phòng này chứ.”
Đến lúc này thì Lucy bắt đầu đoán ra ý đồ của bố dượng, và cơn giận trong cô bùng lên tương ứng.
“Bây giờ Archie là người yêu duy nhất của tôi,” cô lạnh lùng tuyên bố. “Sir Frank biết chúng tôi đã đính hôn và hoàn toàn sẵn sàng làm bạn của cả hai chúng tôi.”
“Và hắn gọi thế là tình yêu ư? Thật là đồ đần!” vị Giáo sư hét lên với vẻ khinh bỉ tột độ. “Nhưng ta muốn chỉ cho con thấy, Lucy — và ta làm điều này vì tình yêu sâu sắc dành cho con, đứa con gái thân yêu — rằng Sir Frank rất giàu có.”
“Archie cũng thế — trong tình yêu của tôi.”
“Vớ vẩn! Hoàn toàn vớ vẩn! Đó chỉ là thứ tình cảm lãng mạn nhảm nhí. Hắn chẳng có xu dính túi.”
“Ông không nên nói thế. Archie có một nghìn bảng Anh, và anh ấy đã đưa hết cho ông rồi còn gì.”
“Một nghìn bảng: chẳng bõ bèn gì. Hãy nghĩ xem, Lucy, nếu con lấy Random, con sẽ có cả một tước hiệu quý tộc đấy.”
Cô Kendal, người đã cạn kiệt sự kiên nhẫn, dậm mạnh một chiếc giày xinh xắn xuống sàn.
“Con chẳng hiểu sao bố cứ nói mấy chuyện này làm gì.”
“Ta muốn con được hạnh phúc.”
“Thế thì điều ước của bố thành hiện thực rồi đấy: con đang rất hạnh phúc đây. Nhưng con sẽ chẳng hạnh phúc nổi lâu nếu cứ bị bố quấy rầy để ép lấy một kẻ mà con chẳng mảy quan tâm. Con sẽ trở thành vợ của anh Hope, chấm hết.”
“Con gái yêu của ta,” vị Giáo sư cất giọng, thứ giọng luôn mang vẻ phụ tử mỗi khi ông bướng bỉnh nhất, “ta có lý do để tin rằng chiếc xác ướp xanh có thể được tìm thấy và cái chết của tội nghiệp Sidney sẽ được rửa hận nếu có một khoản thưởng năm trăm bảng được treo lên. Nếu Hope có thể đưa cho ta số tiền đó—”
“Anh ấy sẽ không đưa: và con cũng không cho phép. Anh ấy đã mất quá nhiều rồi.”
“Trong trường hợp đó, ta buộc phải cầu cứu Sir Frank Random.”
“Tùy bố cứ việc,” cô cáu kỉnh đáp, hoàn toàn nổi giận; “chẳng liên quan gì đến con cả. Con không muốn nghe thêm bất cứ điều gì về chuyện đó nữa.”
“Đó chính là chuyện của con, cô gái trẻ!” Braddock gầm lên, bắt đầu mất bình tĩnh và mặt đỏ lựng; “con thừa biết rằng chỉ có cách bắt con lấy Random thì ta mới kiếm được số tiền đó.”
“Ồ!” Lucy lạnh lùng thốt lên. “Hóa ra đây là lý do bố cho gọi con tới đây. Nghe này bố, con chịu đủ lắm rồi đấy. Bố đã đồng ý cho con đính hôn với Archie để đổi lấy một nghìn bảng Anh. Vì con yêu anh ấy nên con sẽ giữ lời hứa của bố. Nếu không yêu, con đã từ chối lấy anh ấy từ lâu rồi. Bố hiểu chứ?”
“Ta hiểu rằng ta đang phải đối phó với một đứa con gái cực kỳ bướng bỉnh. Con sẽ phải kết hôn theo sự lựa chọn của ta.”
“Con sẽ không làm thế đâu. Bố không có quyền ép buộc sự lựa chọn chồng con của con.”
“Không có quyền khi ta là bố con ư?”
“Bố không phải bố ruột của con: chỉ là bố dượng — chỉ là họ hàng qua đường thông gia. Con đã trưởng thành. Con có quyền làm những gì mình thích, và con sẽ làm thế.”
“Nhưng Lucy,” Braddock van xin, đổi giọng mềm mỏng, “con hãy suy nghĩ lại đi.”
“Con đã suy nghĩ kỹ rồi. Con sẽ lấy Archie.”
“Nhưng cậu ta nghèo còn Random thì giàu.”
“Con mặc kệ. Con yêu Archie và con không yêu Frank.”
“Bộ con muốn ta mất xác ướp ấy vĩnh viễn sao?”
“Vâng, đúng thế đấy, nếu sự bất hạnh của con phải làm cái giá để đổi lấy nó. Tại sao con phải bán thân mình cho một kẻ mà con chẳng mảy may quan tâm, chỉ vì bố muốn một cái xác cũ rích mốc meo cơ chứ? Giờ thì con đi đây.” Lucy bước về phía cửa. “Con sẽ không thèm nghe thêm nửa lời nào nữa đâu. Và nếu bố còn dám làm phiền con, con sẽ cưới Archie ngay lập tức và dọn khỏi cái nhà này.”
“Tao sẽ đuổi cổ mày đi bất kể trường hợp nào, cái đồ con bé vô ơn!” Braddock gào lên, tím tái mặt mày vì giận dữ, vốn dĩ tính tình ông ta chưa bao giờ điềm tĩnh cho cam. “Nhìn xem tao đã làm những gì cho mày!”
Cô Kendal suýt nữa đã chỉ ra rằng người bố dượng này chẳng làm gì ngoài việc lo cho cái thân ông ta. Nhưng cô khinh bỉ việc đôi co như vậy, và không nói thêm lời nào nữa, cô mở cửa bước thẳng ra ngoài. Gần như ngay lập tức sau đó, Cockatoo bước vào, mang lại sự giải tỏa cho vị Giáo sư, kẻ đang trút giận lên người gã người Kanaka tội nghiệp bằng những cú đá. Rồi ông ta lại ngồi xuống để tính toán các phương kế nhằm vừa tóm được xác ướp, vừa vớ được số tiền còn cần thiết hơn nhiều.