Học thuyết của Chư Tử hưng thạnh vào cuối thời Xuân Thu (551 trước T.L.) cho đến thời Chiến Quốc thì phát triển rất mạnh, rồi đến thời Tây Hán (206 trước T.L.) thì suy vi lần lần. Sự hưng thạnh và suy vi ấy đều có nguyên nhân, xét về bản thân của các ngành học thuyết ấy, đó là "Nhơn", mà xét về hoàn cảnh của thời ấy, đó là "Duyên".
Sự vật phát sinh và tiêu diệt đều có cái "nhơn" nội tại, và cái "duyên" của ngoại giới (hoàn cảnh bên ngoài) ngành học thuật, tư tưởng, cũng không thoát khỏi thông lệ ấy.
Ví như loài cỏ cây, sở dĩ mọc mầm và lớn lên được, trước hết là nhờ hạt nẩy mầm, đó là cái "nhơn" nội tại, rồi kế đến là phải có đất nước, khí ấm mặt trời bên ngoài, tạo thành hoàn cảnh thuận tiện cho cái nhơn ấy nẩy nở và hoàn cảnh bên ngoài ấy gọi là "duyên".
Sách Hán Thơ Nghệ văn Chí có viết: "Phái Nho gia, xuất thân từ quan Tư Đồ". Phái Đạo gia xuất thân từ Sử quan; phái Âm dương xuất thân từ quan Nghi, Hòa; phái Pháp gia xuất thân từ Lý quan. Phái Danh gia xuất thân từ Lễ quan; Mặc gia xuất thân từ chức quan giữ Thanh miếu; Tung hoành gia xuất thân từ quan đi đó đi đây, Tạp gia xuất thân từ Nghị quan; Nông gia xuất thân từ quan Nông tắc; Tiểu thuyết gia thì xuất thân từ Ty quan, đó là thuyết Chư Tử xuất thân từ vua quan.
Hồ Thích có thuyết cho rằng Chư Tử không xuất thân từ vua quan, cho rằng sách Hán Chí nhận định sai, rồi Chương Bính Lân, Hồ Tiên Tiêu lại biện hộ cho sách Hán Chí.
Bình tâm mà xét, Hán Chí cứ cho rằng mỗi Chư Tử đều xuất thân từ một ngành quan lại, là một việc gượng ép. Như cho rằng Mặc gia xuất thân từ chức quan giữ Thanh miếu... cho rằng chủ trương tiết kiệm xuất phát từ hoàn cảnh nhà tranh vách đất, chuộng người hiền là do cách chọn hiền tài lúc ấy, và thờ kính tổ tiên là do việc cúng tế mà ra, v.v... Xét cho kỹ, nhận định như thế là cưỡng ép theo ý mình.
Chỗ phân biệt giữa các Môn phái, cho đến đời Tây Hán mới hoàn thành, mới xác định được một cách rõ ràng... rồi may mắn dưới thời cổ đại có 10 chức quan, cứ cho người của 10 Môn phái xuất thân từ đó, như thế là một điều nhận xét khá hời hợt.
Chức quan đâu phải có bấy nhiêu mà thôi, còn có Trủng Tể, Tông Bá, Tư Mã, Tư Khấu, Tư Không, v.v... tại sao các chức quan ấy lại không sản xuất ra một học phái nào cả? Như thế chúng ta đã thấy rõ thuyết của Hán Chí là miễn cưỡng rồi.
Chương Bính Lân, căn cứ theo sách Lã thị Xuân Thu có viết câu "Lỗ Huệ Công hỏi việc lễ ở giao miếu... Hoàng Vương sai Sử giác đến... hậu duệ của ông nầy còn ở nước Lỗ, Mặc Tử có học...". Như thế thì Mặc Tử xuất thân từ Thanh miếu cũng có thể là chuyện có thật, nhưng căn cứ vào đó để nói rằng nhờ đó mà mới có Mặc gia, thì e rằng không chắc.
Ngày xưa, chỉ có vua quan dạy học, chưa có thầy dạy tư, chưa có sách do tư nhân viết, đó là sự thật có chứng cớ.
Ở nước Trung Hoa, vào thời Thượng Cổ từ đời nhà Ân trở về trước, đa số sử liệu đều không có gì là chắc chắn, nhưng nếu vì thế mà cho rằng từ thời nhà Ân trở về trước không có văn hóa thì đó cũng là lời võ đoán.
Từ khi có sử trở về trước, cho tới lúc từ khi chưa có chữ, tất nhiên là đã có văn hóa. Từ thời Thượng Cổ đến đời nhà Châu, văn hoá Trung Hoa đã có một qui mô khá vững vàng.
Từ điển chương, chế độ, sử học, khoa học, nghệ thuật, đều có ở trong tầng lớp quí tộc, và cũng tương đương phong phú. Cho nên Khổng Tử đã nói: "Nhà Châu đã noi gương hai đời trước nên văn vẻ sáng rỡ!" (thiên Bát dật trong Luận Ngữ). Cái văn vẻ sáng rỡ dưới thời nhà Châu, đều nằm trong tầng lớp vua quan, đó là cái mầm cho học thuật của Chư Tử sau nầy, cho nên bảo rằng học thuyết của Chư Tử, xuất phát từ tầng lớp vua quan, thật ra cũng không có gì quá đáng, nhưng theo sách Hán Chí đã chép, mỗi Môn phái này đã xuất phát từ quan chức nọ, đó là điều không thật chính xác.
Ông Hồ Thích, trong quyển "Trung quốc cổ đại Triết học sử đại cương" đã viết: "Lúc ấy nền chánh trị đã mờ mịt như thế, xã hội rối loạn như thế, giàu nghèo quá cách biệt như thế, sự sống của dân chúng khổ sở như thế, trước những tình hình như vậy, tất nhiên phải có những tư tưởng phản ứng để mong cải tạo tình hình".
Lương Khải Siêu cho rằng tình hình như vậy, xét trong lịch sử Trung quốc, thời đại nào cũng thường có, đối với việc phát sinh của nền Triết học cổ đại, tất nhiên không phải là không quan hệ, nhưng không phải vì thế mà quả quyết rằng vì có tình hình như thế mới phát sinh ra phong trào Triết học như vậy.
Lời nhận xét như thế thật là đúng, nhưng trong khi Lương Khải Siêu nêu ra mấy điểm cần chú ý, thì đó cũng là điều hậu thế vẫn thường thấy, cũng không thể lấy đó làm nguyên nhân cho việc phát sinh ra phong trào Triết học lúc đó.
Những thuyết của Hồ Thích và Lương Khải Siêu chỉ là cái "Duyên" phát sinh ra học thuyết của Chư Tử, nhưng không thể nói đó là những điều trọng yếu.
Nước Trung Hoa, từ khi có sử cho đến nay, tính ra có hai thời kỳ biến động thật dữ dội:
Thời kỳ thứ nhứt, bắt đầu từ thời Xuân Thu đến thời Hán sơ.
Thời kỳ thứ hai, bắt đầu từ giữa đời nhà Thanh cho đến lúc gần đây.
Thời kỳ biến động sau, xảy ra lúc gần đây, nhằm lúc thời đại bế quan thay đổi thành thời đại toàn thế giới giao thông (từ phong kiến bước sang tư bản với chủ trương tự do mậu dịch, tìm thị trường tiêu thụ hàng hóa).
Nói theo sách vở thông thường, thì từ nền chánh trị quân chủ chuyên chế, biến thành nền chánh trị dân chủ cộng hòa... Và từ xã hội thuần túy nông nghiệp và thủ công nghiệp biến thành xã hội công nghiệp cơ khí. Từ nền thương nghiệp quốc nội, biến thành nền thương nghệp mậu dịch quốc tế. Từ nền giáo dục khoa cử, biến thành một nền giáo dục nhà trường thực tiễn. Nói chung, từ quốc gia, xã hội, gia đình, cá nhân, tất cả những điều khác như: chánh trị, kinh tế, văn hóa cho đến sinh hoạt, tư tưởng, cũng đều có những biến hóa dữ dội. Và cho đến ngày nay, cũng còn đang trên đà biến đổi chưa ngừng, đó là điều mà chính mắt chúng ta đang thấy, và thân mình cũng đang bị lôi cuốn trong tình hình đó.
Lần biến đổi dữ dội trước đây đã thay đổi hoàn toàn cơ cấu vật chất và tinh thần của xã hội, cũng giống như lần thay đổi ngày nay.
Dù cho quốc gia, dân tộc nào, ban đầu cũng đều phải trải qua thời kỳ bộ lạc, chế độ tù trưởng. Ở Trung Hoa, từ thời nước Tần trở về trước, các nước gọi là ở trong chế độ phong kiến, thật ra đó chỉ là hình thức của chế độ bộ lạc. Cái gọi là chư hầu đều là tù trưởng biến tướng, còn thiên tử chỉ là lãnh tụ của tù trưởng các bộ lạc. Thời Tam đại các vì vua nối tiếp nhau cũng chẳng qua là tù trưởng của bộ lạc này, đoạt được quyền lãnh tụ của tù trưởng bộ lạc khác mà thôi. Vì thế nhà Hạ mất mà Kỷ còn, Thương mất mà Tống còn, là chỉ mất cái địa vị lãnh đạo, còn địa vị tù trưởng của mình cũng còn như trước.
Lãnh tụ các bộ lạc cha truyền con nối, tù trưởng của mỗi bộ lạc cũng cha truyền con nối, tay chân của tù trưởng cũng cha truyền con nối, thỉnh thoảng có những lãnh tụ mới nổi lên, cắt đất để phong con, cháu, công thần làm chư hầu, thì phong địa cũng được cha truyền con nối (thế tập) đời đời được giữ đất đai ấy, thì cũng được đồng hàng với các chư hầu đã có từ trước.
Đó là thực tế tình hình của chế độ phong kiến thời cổ đại. Đến thời Xuân Thu; các nước mạnh yếu không giống nhau, vì thế lần lần có hiện tượng thôn tính lẫn nhau, và vì thế lần lần chế độ phong kiến bị tan rã.
Đến thời Chiến Quốc, số nước còn lại chỉ đếm trên đầu ngón tay, đến lúc nhà Tần gồm thâu 6 nước, và quét sạch luôn hình thức bộ lạc của các nước. Nhưng nhà Tần không đứng vững được lâu, Tần mất, hậu duệ của Lục quốc nổi lên. Sau khi Hán Cao Tổ xưng Đế, ông phong đất cho công thần có người khác họ, và cũng phong cho tử đệ trong dòng.
Đến thời Cảnh Đế, còn 7 nước, các Chư hầu không còn thực quyền, rồi đa số vì lầm lỗi mà mất nước. Đó là chế độ phong kiến như sống lại dưới thời đầu Tây Hán, nhưng đó là ánh đèn sắp tắt còn bừng lên lần chót, chỉ trong giây lát rồi tắt luôn.
Kế đó là chế độ quí tộc hưng thạnh, nhưng đến thời Xuân Thu cũng bắt đầu tan rã.
Trong Kinh Thi có mấy bài Thức vi, Lê hầu ở Tả truyện, vào năm thứ 3 đời Chiêu Công có: Khước, Tư, Nguyên, Hồ, Tục, Khánh, Bá bị giáng chức... Trong số ấy có họ Khổng, khi ở nước Tống, gia đình thuộc hàng quí tộc, nhưng khi dời qua nước Lỗ thì thành lớp bình dân, trường hợp như thế rất nhiều.
Nịnh Thích chăn trâu mà làm quan ở nước Tề, Bá Lý Hề là nô lệ mà làm quan ở Tần, Khổng Tử là lớp bình dân áo vải mà làm quan Tư Khấu ở Lỗ, những lớp hiền tài trong lớp bình dân lần lần được tham gia vào việc chánh.
Cho đến thời Chiến Quốc, Phạm Thư, Trương Nghi, Lý Tư, rồi Tôn Tẩn, Bạch Khởi, Nhạc Nghị... từ lớp bình dân áo vải lên làm tướng cũng có nhiều.
Đến thời Lưu Bang, một người tầm thường lên làm Thiên Tử, các công thần như Tiêu Hà, Hàn Tín, Kinh Bố, Phàn Khoái, đa số cũng đều thuộc lớp người tầm thường. Vì thế mà chế độ chuyên chính quí tộc cha truyền con nối bị tiêu diệt, đó là một biến đổi lớn lao về phương diện chánh trị.
Các quan Khanh, Đại Phu dưới thời Cổ đại, chẳng những là chủ nhân ông về phương diện chánh trị trong địa phương mình, mà về phương diện kinh tế cũng là đại địa chủ, còn giới bình dân chỉ là nông nô, trong đoạn trước đã có nói qua.
Cho đến thời Thương Ưởng, bày ra phép tỉnh điền, đắp bờ ngang dọc, chế độ nhà vua lần lần bị mất và giới bình dân có nhiều người trở nên giàu có. (Xem thiên Thực hóa chí trong sách Hán thư).
Thật ra, chẳng phải từ dưới đời nhà Tần, Thương Ưởng biến pháp rồi mới xảy ra tình trạng ấy. Trong Kinh Thi có chép "con cháu bình dân mặc áo cừu, con cháu thứ dân làm trăm quan".
Con cháu thứ dân làm trăm quan, tức là ở phần trước có viết giới bình dân cũng có thể làm quan.
Con cháu bình dân mặc áo cừu, đó là hiện tượng giới bình dân giàu có một cách mau chóng, mà thương nghiệp hưng thạnh cũng xảy ra dưới thời Xuân Thu... như Huyền Cao là một thương nhơn mà đẩy lui quân Tần. Lã Bất Vi là một tay buôn bán mà làm thừa tướng nước Tần, như thế là kẻ buôn bán đã bước chân vào nền chánh trị.
Thiên "Thực hóa chí" có viết: "Đến lúc nhà Châu suy, sĩ thứ nhơn, không ai không bỏ khuôn phép cũ và rời căn bổn vì thế dân cày cấy ít, mà buôn bán thì nhiều, kẻ thì sống sang trọng, chó ngựa dư thức ăn".
Từ khi thương nghiệp hưng thạnh, kẻ giàu thì càng giàu thêm, vì thế giai tầng tư sản nổi lên thay thế cho giai tầng quí tộc, đó là điều thay đổi lớn lao trên phương diện kinh tế.
Phần trên đã nói về việc dùng dao khắc trên thẻ tre viết sách, rồi lần lần tiến lên biết dùng bút, mực viết trên vải lụa, từ nền quan học tiến sang có thầy dạy tư, do quan thơ tiến lần đến chỗ tư nhơn sáng tác, đó cũng là điều thay đổi lớn lao trong ngành học thuật có liên quan mật thiết đến văn hóa giáo dục.
Hồ Thích có viết: "Nền chánh trị đen tối, xã hội rối loạn, giàu nghèo quá cách biệt, đời sống dân khổ sở, đó là hiện tượng của hoàn cảnh xã hội đương thời với những "Nhơn Duyên" như thế mà học thuyết của Chư Tử phát sanh.
Học thuyết của Chư Tử suy vi, một số người đổ lỗi cho Tần Thủy Hoàng đã cấm và đốt sách Thi, Thơ và Bách Gia... Thật ra, nhà Tần đốt sách vở là sách của dân gian, chớ không đốt sách ở quan phủ.
Trong lịnh đốt sách có viết rõ: "Không phải là Bác sĩ quan chức, người nào có chứa Thi, Thơ và sách Bách Gia, đều phải đem ra đốt..." như thế thì Thi, Thơ, sách Bách Gia của Bác sĩ và quan chức không có nằm trong lịnh bị thiêu hủy, đó là điều rất rõ ràng.
Vì thế, trong chức Bác sĩ dưới thời Tần, có nhiều nhà học giả, trong quyển "Hán, Ngụy Bác sĩ khảo" ông Vương Quốc Duy có viết rõ điều này.
Hơn nữa, nhà Tần rất ngắn ngủi, từ khi hạ lịnh đốt sách, cho đến khi Hán Cao Tổ vào kinh đô, thời gian chỉ có 4, 5 năm, các sách vở trải qua nạn lửa ấy, đến thời nhà Hán lại sống lại rất nhiều, như thế thì Chư Tử đâu đến nỗi phải bị diệt mất?
Hơn nữa, từ xưa đến nay, dùng lực lượng chánh trị để tiêu diệt sách vở, ức chế tư tưởng, không bao giờ có hiệu quả cả, và nhà Tần cũng không thoát khỏi thông lệ đó.
Nhà Tần đốt sách thật ra cũng có ảnh hưởng đến việc phát triển học thuật, có hại đến tự do ngôn luận, tư tưởng, nhưng không thể vì chuyện ấy mà làm cho học thuyết của Chư Tử phải bị suy vi.
Trong "Đối sách", Đổng Trọng Thư đã viết: "Thuyết Đại nhứt Thống trong kinh Xuân Thu, đó là phép thường của trời đất là thông nghị cổ kim, nếu bây giờ theo dị đạo, dị nhơn luận, theo thuyết lạ của Bách Gia, ý chí không đồng, thì trên không thể giữ được sự nhứt thống, nền cai trị biến đổi mà dưới thì không phải giữ điều kiện gì, thần ngu, không nghĩ đến Lục Nghệ, học thuật của Khổng Tử bị mất mà không tiến được.
Nếu đạo tà tịch bị diệt, thì mới duy trì được nhứt thống, mà pháp độ mới sáng tỏ, dân mới biết phải theo đâu. (Xem thiên Bản truyện trong Hán thơ).
Cũng có kẻ cho rằng, học thuyết của Chư Tử bị suy vi, là do Hán Võ Đế bãi truất Bách Gia, độc tôn Nho gia, nhưng Đổng Trọng Thư bảo rằng: "Tuyệt cái đạo" ấy là muốn không cho các phái khác cùng tiến, chớ không có ý tiêu diệt các phái khác, đó là chủ trương rõ ràng của Đổng Trọng Thư có ghi chép trong sách vở.
Cũng trong bản truyện, phần sau thấy có chép: "Đối sách của Trọng Thư là suy minh Khổng Thị, ức truất Bách Gia lập ra quan học liệu, ở châu, quận thi cử Mậu Tài, Hiếu Liêm..." Như thế, chúng ta đâu có thấy bằng chứng gì nhơn đối sách của Đổng Trọng Thư mà Hán Võ Đế hạ chiếu cấm tuyệt Bách Gia.
Trích những lời trong "đối sách", chúng ta đã thấy rõ, không phải vì Hán Võ Đế mà Học thuyết Bách Gia Chư Tử bị suy vi.
Bách Gia Chư Tử suy vi có nhơn và duyên... Nhơn là bản thân học thuyết của Chư Tử bị biến hóa, Âm dương gia lo chuyện quỉ thần mà bỏ chuyện người. Trâu Viễn lại có thuyết "Đại Cửu Châu", gặp lúc Tần Thủy Hoàng và Hán Võ Đế đều muốn tìm thuật Trường sanh, vì thế từ thuyết quỉ thần, Âm dương gia lại chuyển sang thuyết thần tiên. Từ thuyết Đại Cửu Châu biến thành thuyết Hải ngoại tam thần tiên, như thế mà trở thành những người phương sĩ.
Phương sĩ đã thạnh, Nho gia liền hỗn hợp vào đó mà thành những thuyết hoang đường (Như thuyết của Đổng Trọng Thư cầu mưa, cầu nắng, Dịch học của Cảnh Phòng nói về chuyện tai nạn lạ lùng...)
Đến cuối thời Tây Hán, loại Vĩ thơ xuất hiện, mà Nho học thay đổi lớn (trong chương: Luận về Nho gia và Phương sĩ tổng hợp, trong quyển Trung quốc lịch sử, Hạ Tăng Hựu viết về điều này rất rõ ràng).
Rồi Đạo gia lại hỗn hợp với Phương sĩ, và Lão, Trang, Liệt Tử đều biến thành tiên. Đến cuối đời Đông Hán, Đạo giáo ra đời, mà Lão Tử nghiễm nhiên thành một Giáo tổ.
Về Nho gia, ngoài ra việc hỗn hợp với Phương sĩ, lại biến thành cái học chương, cú, huấn hổ mất tất cả tinh túy. Mặc gia thì lại thiên về hành vi thực tế, chẳng trọng lý luận, vì thế sáng tác rất ít.
Mặc Tử có tinh thần chịu đựng gian khổ để làm lợi cho thiên hạ, vì thế mà lần lần đi đến chỗ hiệp nghĩa hy sinh mình trong việc giao thiệp bè bạn, báo ơn, báo oán, cho nên học thuyết ấy lần lần suy vi, không có người tiếp tục.
Phái Du thuyết dưới thời Tần, Hán vì sau đó không có đất dụng võ nên lần lần bị mất, những người trong phái Tung hoành biến thành những nhà giàu, ngồi không thu hoa lợi, rồi vua tôi cách biệt nhau ngày một nhiều thêm, có gặp nhau chỉ bằng thư từ, lời sớ... rồi cũng vì đó mà phái Danh gia, sở trường về biện luận cũng bị suy vi luôn.
Phái Nông gia chỉ có sách vở về nghề nông và những chủ trương chánh sách về nông nghiệp, Tiểu thuyết gia thì chỉ chuyên sáng tác ngoại sử, bút ký...
Dưới thời nhà Hán, chỉ còn có 3 phái Nho, Pháp và Tạp gia là còn sáng tác mà thôi. Dưới thời nhà Hán, nền học thuật lần lần chuyển sang nền kinh học, còn ngành văn học thì thiên về lối Phú. Đó là bản thân của học thuật bị chuyển biến.
Từ thời Xuân Thu, nền kinh tế, chánh trị bắt đầu chuyển biến mạnh cho đến đời Tây Hán thì lần lần đình chỉ lại được. Lúc đó chế độ phong kiến và chế độ quí tộc đã hoàn toàn tan rã. Xã hội và nhân sĩ cũng đã yên ổn trong chế độ kinh tế mới vừa gầy dựng.
Sách Thực hóa chí có viết: "Biên chép môn hộ, xem dân bình đẳng, tuy là đày tớ hay nô lệ cũng không có gì hổ thẹn". Cho đến bực đày tớ và nô lệ mà không có gì hổ thẹn thì cuộc sống đã yên ổn như bình thường rồi.
Tuy dưới thời nhà Hán vẫn còn thi hành chánh sách trọng nông, kiềm chế thương nghiệp, nhưng đối với tình hình kinh tế mới lúc bấy giờ, chưa bị lung lay về căn bản, đó là hoàn cảnh chung về kinh tế và chánh trị lúc ấy.
Hơn nữa nhà Hán đã thống nhứt, lần lần chánh trị được trong sáng, trật tự được ổn định, vua Võ Đế lại có chánh sách dùng người hiền, đề xướng học thuật kinh sử, dùng lợi lộc để lôi kéo kẻ có tài, nền học phong phú không có gì thay đổi, cũng nhờ nhà cầm quyền nhúng tay vào, điều đó cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến việc suy vi của Học thuyết Chư Tử.