Bách Gia Chư Tử

Lượt đọc: 205 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
A. Về tổ chức xã hội
1. Quan Chế

❊ ❊ ❊

 Dưới thời nhà Hạ có 3 quan công, 9 quan khanh và 27 đại phu với 81 ngươn sĩ, 2 quan tướng [tả tướng và hữu tướng], 6 quan thái [thái tể, thái tòng, thái sử, thái chúc, thái sĩ, thái bốc], 5 quan tư [tư đồ, tư mã, tư không, tư sĩ, tư khấu], 6 quan phủ [tư thổ, tư mộc, tư thủy, tư thảo, tư khí, tư hóa], 5 quan công (thổ công, kim công, thạch công, thú công, thảo công].

Đến thời nhà Châu có các quan tam công, lục cô, lục quan, cùng phân công nhau lo việc chánh.

Đời nhà Hạ, nhà Ân Thương, vì chưa có sách vở rõ ràng nên không thể tìm hiểu được một cách chính xác quan chế dưới thời ấy như thế nào, chỉ biết sơ là triều đình thời ấy còn hình thức như một bộ lạc, mà các quan là những người giúp việc cho tù trưởng để lo gìn giữ trật tự, và lo việc sanh sống cho những người trong bộ lạc [như có những người lo về việc làm giỗ, lo gìn giữ vật dụng v.v...]

Đến thời nhà Châu, quan chế thì có: thái sư, thái phó, thái bảo, đó là tam công, rồi đến thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo, đó là tam cô. Trở lên, đều là những chức quan "luận đạo", trong triều đình, chọn những người có đức để cử vào chức ấy, cũng như những chức cố vấn của chúng ta ngày nay, và đó không phải là chức quan hành chánh.

Về các Bộ trưởng hành chánh thì có Lục quan, cũng như Quốc vụ viện ngày nay, gồm có Trủng tể tức là Thiên quan, nắm quyền chánh trị trong nước, đứng đầu trăm quan, trông nom "4 biển" cũng như Hành chánh viện trưởng ngày nay [thủ tướng].

Kế đó là Tư đồ, tức Địa quan, coi về giáo dục trong nước, kiêm cả phần giáo dục và hướng dẫn về chánh trị, y như Bộ trưởng giáo dục và nội vụ ngày nay.

Quan Thái bá, tức Xuân quan, trông nom về việc tế lễ, hòa trên dưới, thời xưa rất chú trọng về tôn giáo cho nên phải cử một đại thần để lo riêng về việc ấy.

Quan Tư mã là Hạ quan, chỉ huy quân lính, lo việc an ninh trong nước, cũng như ngày nay Tổng trưởng bộ quân lực, kiêm Tham mưu trưởng.

Quan Tư khấu là Thu quan, nắm pháp luật, cũng như ngày nay là Bộ trưởng bộ tư pháp.

Quan Tư không là Đông quan, xem về việc đất đai, xét về thiên thời địa lợi và cuộc sống của dân, như Bộ trưởng Nông, Công, Thương ngày nay.

Tổ chức nầy bắt đầu từ thời kỳ đầu của nhà Châu, rồi lần lần về sau, trải qua các đời: Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh được gọi là Lục bộ thượng thơ, phân công nhau để lo việc cai trị chung trong nước.

Thuộc hạ của 6 chức quan kể trên, mỗi bộ có 60 người, cọng tất cả là 360, thể theo đúng độ của vòng tròn trời đất. Tên gọi các chức quan thì cũng noi theo đời trước, chỉ có sửa đổi chút ít cho hợp mà thôi.

Ví như quan Trủng tể, thì dưới thời Ân Thương, gọi là Thái tể, còn Tông bá thì ngày xưa gọi là Thái công; trong Thiên quan thì có thêm Tể phu, Nữ quan và Yêm nhơn; Xuân quan thì thêm quan Côn Xa; Hạ quan thì thêm quan Thái bộc... Những chức quan mới nầy đặt ra là để phục dịch riêng cho vua, mất cả tánh chất trước kia, vì sự lợi ích cho dân mà mới đặt ra chức quan.

Ngoài ra cũng còn các quan: Khanh, Đại phu, cũng đều noi theo Hạ.

2. Địa phương chế

Sau khi vua Nghiêu bình nạn Hồng Thủy [nạn lụt lội do sông Hoàng Hà gây nên] liền phân chia đất đai làm 12 châu... dưới thời nhà Hạ lại sắp lại thành 9 châu, rồi nhà Ân noi theo nhà Hạ mà không có gì thay đổi.

3. Điền chế

Về chế độ thuế khóa ruộng đất, dưới thời Đường Ngu [từ 2205 trước T.L. về trước] không có tài liệu gì để tìm hiểu được, là vì sau trận Hồng Thủy, nông nghiệp chưa phát triển được.

Dưới thời nhà Hạ, kể ruộng 50 mẫu [mẫu ta] làm một gian, 10 gian làm một tổ, mỗi gia đình được lãnh 1 gian ruộng.

Dưới thời nhà Ân Thương, thi hành phép tỉnh điền, chia ruộng thành 9 khu, mỗi khu là 70 mẫu, xung quanh là tư điền, giữa là công điền, 8 gia đình cùng nhau hợp sức cày cấy phần ruộng xung quanh, luôn cả khu ruộng công ở giữa.

Dưới thời nhà Châu cũng vẫn còn giữ y theo chế độ đó, nhưng mỗi khu lại rộng thêm được đến 100 mẫu. Về cách phát ruộng, thì đến 20 tuổi là được lãnh đến 60 tuổi thì trả lại.

Vị thành niên thì gọi là dư phu, được lãnh 25 mẫu ruộng, đến khi lớn có gia đình thì lãnh phần ruộng 100 mẫu.

Về trạch [ruộng riêng] cũng do quan cấp: mỗi người được 5 mẫu, 2 mẫu rưởi thì ở ngoài, còn 2 mẫu rưởi thì ở trong ấp, dân chúng có điền trạch tư hữu, số đất lại qui định đồng đều, cho nên ai cũng có việc làm mà không bị thất nghiệp, giàu nghèo cũng không quá chênh lệch, nghĩ rằng trong xã hội ngày nay cũng chưa chắc là đã tổ chức được chu đáo đến mức ấy, nhưng có điều đáng tiếc là lúc đó chỉ mới thi hành được ở các vùng đông tây gần thủ đô, chớ chưa thi hành được trong khắp nước.

4. Chế độ thuế má

Dưới thời nhà Hạ có phép Cống, tức là mấy năm nộp một lần, đánh vào số lợi tức của 5 mẫu ruộng riêng.

Dưới thời nhà Ân có phép Trợ, tức là nhờ dân giúp cày cấy khoảnh công điền, tức là lấy số huê lợi của công điền làm thuế.

Dưới thời nhà Châu thì dùng phép Triệt, tức là dùng luôn 2 phép Cống và Trợ. Những nơi nào xa xôi hẻo lánh, những năm mất mùa không có cách gì để xem xét được thì dùng phép Trợ để lấy thuế, còn những nơi gần gũi, có thể xem xét mùa được hay thất thì dùng phép Cống.

Ba cách đánh thuế ấy đều đánh trên lúa, ngoài ra lại còn thu thuế "làm xâu" [tức lực dịch].

Mỗi năm chánh quyền đều cần sức dân để làm những việc ích lợi công cộng, nhưng hạn định không quá 3 ngày trong một năm nếu năm nào bị mất mùa thì được giảm bớt.

Lại có thuế đánh vào lụa vải và đất tư, mỗi gia đình mỗi năm phải nộp một số lụa vải theo qui định và đất ruộng bỏ hoang thì bị phạt.

Núi, đầm, rừng sơn, cửa ải, chợ cũng đều đánh thuế. Thuế núi và đầm đánh với mục đích là gìn giữ tài nguyên, vườn sơn đánh thuế là để cho dân tiết kiệm, đánh thuế chợ là để dân giữ vốn và có ý hạn chế việc buôn bán. Tất cả các sắc thuế trên đều đặt ra với mục đích làm cho dân tiết kiệm, chớ không phải để làm hại dân, lợi cho vua.

5. Binh chế

Dân là binh mà quan là tướng, ở hương lý thì 5 nhà là một Tỷ, có Tỷ trưởng. Năm Tỷ là một Lư, có Lư thủ. Bốn Lư là một Tộc, có Tộc sư. Năm Tộc là một Đảng, có Đảng chánh. Năm Đảng là một Châu, có Châu trưởng. Năm Châu là một Hương, Hương có Đại phu.

Ở Toại [cách xa kinh đô chừng 100 dặm] thì 5 nhà là một Lân, Lân có Trưởng.

Năm Lân là một Lý có quan Tể. Bốn Lý là một Tán, có Trưởng Tán. Năm Tán là một Bỉ có chức Sư. Năm Bỉ là một Huyện có chức Chánh. Năm Huyện làm một Toại, có Đại phu.

Đó là tổ chức dân chúng lúc bình thường, nếu lúc cần binh lính thì mỗi nhà đưa một người, lính của Tỷ hay là Lân gọi là một Ngũ, có người Trưởng, đó là chức Hạ sĩ ở triều đình.

Binh lính của Lư, Lý gọi là một Lưỡng, Lưỡng có Tư mã chỉ huy, đó là chức Trung sĩ ở triều đình.

Binh lính của Tộc và Tán thì gọi là Tốt, có quan Chánh, đó là chức Thượng sĩ ở triều.

Binh lính của Đảng và Bỉ thì gọi là Lữ, có chức Sư, đó là Hạ đại phu ở triều.

Binh lính của Hương và Toại, gọi là Quân, có chức Sư, tức là quan Khanh ở triều.

Thiên tử có 6 quan Khanh, tức là có 6 quân, đó là biên chế theo luật định, còn về trưng tập quân dụng thì tổ chức như sau:

Vuông một dặm thì gọi là Tỉnh, mỗi tỉnh có 8 nhà, 4 tỉnh làm 1 Ấp, 4 ấp làm 1 Khâu, 4 Khâu làm 1 Điện.

Mỗi Khâu phải nộp ngựa trâu 1 con, bò 3 con. Mỗi Điện phải nộp 4 ngựa trâu, binh xa 1 chiếc, trâu 12 con, giáp sĩ 3 người, bộ tốt 72 người và lính khuân vác 25 người.

Dưới thời nhà Châu gọi việc binh là xâu thuế cũng vì việc thu góp ấy.

Thuở ấy dùng khí giới có cung tên, đao kiếm, cái mâu, cái kích, mũi nhọn đều làm bằng sắt.

Áo giáp thì làm bằng da thú, mũ thì làm bằng da hoặc bằng đồng, thời gian còn có thể bị sung vào lính là từ 20 đến 60 tuổi. Dân ở kinh đô thời gian phục dịch là 6 tháng sẽ được thay thế, suốt đời chỉ đi phục dịch 1 lần. Dân của chư hầu thì phục dịch một năm mới được thay thế, suốt đời chỉ phục dịch vài ba lượt, về phương pháp và thời gian huấn luyện thì chọn vào lúc không có làm mùa để khỏi làm trở ngại việc cày cấy.

6. Hình chế

Về dân sự thì có mấy loại khác nhau, nếu người và người đụng chạm thì lấy người hàng xóm làm chứng, tranh tụng về đất đai thì lấy họa đồ của vua làm chứng cớ, về việc vay mượn thì lấy giấy tờ làm chứng cớ, về việc buôn bán trao đổi thì lấy giao kèo làm chứng, tất cả đều do Sử quan ghi chép giùm.

Việc kiện tụng, trước hết phải nộp bó tên, tiền thế chân để tránh những vụ kiện cáo điêu ngoa, trừng phạt thì trước răn dạy rồi sau mới xử phạt, và phải được quan Đại phu và người dân trong vùng đồng ý.

Lúc quyết án tử hình thì quan Sĩ sư nhận lãnh tờ tuyên cáo để chọn ngày thi hành án.

Người thuộc hoàng tộc, kẻ có chức tước và đàn bà, được khỏi thọ hình ở chợ.

Hình chế thì có Mặc [bôi mực vào mặt] Tỉ [cắt mũi] Phỉ [chặt chân] Cung [thiến] Đại tịch [xử tử] tất cả gọi là ngũ hình. Những hình phạt nầy có từ thời Đường Ngu. Đời Tam đại [Hạ Thương Châu] noi theo, rồi lại có thêm mấy cách gia hình khác như: cạo đầu, cắt tai, đóng gông, lưu đày và cũng có thể thức chuộc tội.

Những người có hành động phương hại đến làng xóm thì bị đóng gông, rồi làm sai dịch ở nhà quan hoặc lâu hoặc mau tùy theo tội trạng.

Hình phạt cũng có những trường hợp giảm khinh như người già, trẻ nít, kẻ ngu, mất trí.

Cuối năm, tập trung lại tất cả những việc xử hình, gọi là "pháp lệ" để sau nầy tham khảo trong việc xét xử.

Những người có chức tước cao, thì không vào ngục, mà kẻ bầy tôi phải thay thế... đó là chế độ của giai từng quí tộc thống trị.

7. Chế độ tuyển cử

Các quan Đại phu ở hương lý, chọn người ưu tú đưa lên cho quan Tư đồ, đó gọi là tuyển sĩ, rồi quan Tư đồ lại tuyển những người ưu tú hơn để đưa lên nhà học gọi là tuấn sĩ.

Nếu đã được tiến cử lên quan Tư đồ, thì dù cho còn ở trong hương lý cũng được miễn làm sai dịch, khỏi đóng thuế, khi lên đến nhà "Học" rồi thì khỏi đi lính, hai điều tuyển chọn đó gọi là "tạo sĩ".

Sau đó lại chọn những người ưu tú trong số tạo sĩ, đưa lên cho quan Tư mã, gọi là "tiến sĩ".

Quan Tư mã xét tài rồi ban cho tước lộc. Nếu kẻ từ hương lý đi lên, thì Đại phu tiến cử, quan Tư đồ dùng.

Quan lại ở vùng xa kinh đô [toại] thì do nhà Quốc học tiến cử cho quan Đại nhạc chánh chọn, quan Đại tư mã dùng.

Các bậc Đại phu, kẻ sĩ thì phép tuyển cử phải lấy đức hạnh và đạo nghệ làm chủ.

8. Chế độ học hiệu

Dưới thời Hữu Ngu, nhà đại học gọi là Thượng tường, nhà tiểu học gọi là Hạ tường. Chữ tường có nghĩa là nuôi dưỡng

Dưới thời nhà Hạ, tiểu học gọi là Tây tự, nhà đại học gọi là Đông tự.

Dưới thời nhà Ân, thì tiểu học gọi là nhà Tả học, đại học gọi là Hữu học.

Dưới thời nhà Châu, chế độ học hiệu có phần tinh tế hơn, và cũng có tài liệu để tìm hiểu được.

Chế độ học hiệu nhà Châu có những đặc điểm sau đây:

 Các loại trường

Có trường Hương học [trong hương lý] và Quốc học.

Rồi trong hai loại trường kể trên lại còn chia ra các trường lớn nhỏ, cao thấp khác nhau.

 Địa chỉ

Nhà Tiểu học của Thiên tử thì ở phía Đông cung vua, nhà Tiểu học của chư hầu thì ở phía trái của phía Nam cung điện. Nhà Tiểu học của thứ dân thì cất đâu cũng được, còn nhà Đại học của Thiên tử thì ở giữa nước, nhà Đại học của chư hầu thì ở ngoài thành.

Nhà Đại học của Thiên tử cũng có ở ngoài thành phía Tây, đó là dành cho thứ dân.

 Tên trường

Nhà Đại học trong nước có 5 tên gọi: ở giữa gọi là Tịch Ung, theo chế độ nhà Châu, còn ở phía Nam gọi là Thành quân, là theo chế độ Hoàng đế, ở phía Đông gọi là Đông tự, theo chế độ nhà Hạ, ở phía Tây gọi là Cổ Tông, theo chế độ nhà Ân, ở phía Bắc gọi là Thượng tường, theo chế độ nhà Ngu.

Ở hương lý thì có nhà Hiệu, ở châu thì có nhà Tự, ở đảng thì có nhà Tường, đó là dùng danh xưng của các đời trước.

Về Tiểu học, thì trong xóm có nhà Thục. Nhà Đại học của chư hầu gọi là Phán cung.

 Tài liệu dạy học

Tài liệu dạy học nhắm mục đích dạy dỗ đức hạnh, kính mến người già làm chủ.

Bậc Đại học dạy "Lục nghệ" và đạo tu kỷ, trị nhơn. Bậc Tiểu học thì dạy làm vặt vạnh trong nhà và những lễ nghi thông thường.

Về quân sự thì tập đi đứng, nhận tù binh. Ở cấp Đại học cũng có dạy quân sự để khích lệ tinh thần thượng võ và lòng khí khái.

 Về học trò

Ở nhà Quốc học thì nhận thái tử, các thế tử của vương tử và hoàng hậu, các đích tử của khanh, đại phu, ngươn sĩ, và các tuấn sĩ trong nước được chọn đưa đến.

Ở hương lý thì nhận con cái của thứ dân, nhà Hương học của vua thì nhận các cống sĩ của chư hầu và những người được chọn trong hương lý đưa lên.

 Thầy dạy

Ở trường Quốc học thì có Sư bảo, Đại nhạc chánh, Tiểu nhạc chánh, Đại tư, Tiểu tư, Thái sư và Đại tư thành đó là những giáo sư phụ trách dạy ở trường Quốc học.

Ở Hương học thì chọn những người có đức hạnh đạo nghệ làm thầy.

Ở cấp Tiểu học cũng có phong tục đổi con để dạy dỗ lẫn nhau.

 Về tuổi tác

Ở bậc Tiểu học thì từ 8 đến 14 tuổi, bậc Đại học thì 15 đến 24 tuổi.

9. Chế độ thực nghiệp

Dưới thời nhà Châu, nhà cầm quyền rất trọng Thực nghiệp nên đặt để những qui tắc chặt chẽ, rõ ràng.

 Về nông nghiệp

Thiên tử tự đi cày cấy, mở ruộng để làm gương cho thứ dân, lại lập ra những chức việc để trông nom về nông nghiệp như Đạo nhơn, Điền tuấn. Những người có đất bỏ hoang bị phạt, người không đủ sức làm, được giúp đỡ, lại hướng dẫn cho dân việc chọn thời tiết, chọn giống và cách bón phân, cho nên thời ấy nền nông nghiệp rất thạnh.

 Nghề tơ tầm

Các bà hậu phi cũng nuôi tầm, ươm tơ để làm gương cho thứ dân, bên cạnh nhà luôn luôn có trồng dâu, lúc có kén, cứ xem dâu trồng nhiều hay ít để nộp thuế.

 Nghề lâm sản

Có đặt các viên chức như Sơn ngu, Lâm hoành để trông nom, đốn cây phải đúng mùa, đúng qui tắc đã định, mùa Đông thì đốn Dương mộc, mùa Hạ thì đốn Âm mộc để nuôi dưỡng cây.

 Nghề thủy sản

Có đặt các viên chức: Xuyên hoành, Trạch ngu để trông nom, bắt cá cũng phải có mùa có qui tắc.

Đến lúc rái tế cá xong mới được xuống sông bắt cá, và cũng cấm loại lưới nhặt để dưỡng cá con.

 Khoáng nghiệp

Có đặt viên chức trông nom, muốn khai mỏ thì phải được hướng dẫn đúng chỗ, đúng lúc.

 Công nghiệp

Có thợ ngọc, thợ chạm, thợ bạc, thợ mộc, thợ da, và các loại viên chức để hướng dẫn các nghề ấy.

 Thương nghiệp

Có đặt viên chức trông nom về chợ để hướng dẫn trong việc buôn bán và chỉ dẫn những điều ngăn cấm...

Khuyên dân chúng không nên xa hoa, cấm điều dối trá, hàng hóa xấu tốt không cho làm lẫn lộn, giá cả phải bình thường.

Vàng ngọc, những vật dụng trong triều đình, tôn miếu, những áo giáp khí giới đều bị cấm buôn bán, nhà buôn đi qua xứ khác phải đóng thuế quan [cửa ải] ai trốn thuế hàng hóa bị tịch thu.

Trong 9 điểm kể trên, chỉ có Điền chế, chế độ trường học và chế độ thực nghiệp là quan trọng hơn hết, và cũng nhờ những điểm đó mà nền văn hóa xã hội nhà Châu mới được vững vàng sáng lạn.

Nhờ Điền chế ấy mà dân có hằng sản và có hằng sản thì có hằng tâm, có cơm no áo ấm tất nhiên giữ được đạo đức cho con người và trật tự cho xã hội.

Trường học nhiều, học trò được ưu đãi thì nền giáo dục phổ cập, lễ nghĩa phát huy và nền thực nghiệp hưng thạnh thì đời sống dễ dàng, xã hội không rối loạn, khỏi cần dùng đến hình phạt.

Nhà Châu hưng thạnh được một thời gian dài hơn 400 năm, thật ra không phải là một điều ngẫu nhiên, và đó cũng là một điểm rất quan trọng cần cho chúng ta chú ý suy nghĩ.

3. tình hình văn hóa xã hội dưới thời xuân thu chiến quốc

Thời Xuân Thu Chiến Quốc đã thừa hưởng được một di sản quí báu về văn hóa xã hội của thời Tây Châu, trong khi đó thì nền chánh trị của Trung Hoa thời ấy cũng có những biến chuyển lớn lao quan trọng, tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nền văn hóa xã hội đã sáng lạn ấy. Dưới đây là những đặc điểm của nền văn hóa xã hội thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Sưu tầm: Huy Tran
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.