Bách Gia Chư Tử

Lượt đọc: 205 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5. SÁCH ÁN TỬ
 PHỤ LỤC THÊM VÀI QUYỂN KHÁC VÀ QUYỂN LỄ VẬ

❊ ❊ ❊

Trong Hán Chí, phần Chư Tử lược, phần Nho gia cũng có sách Án Tử Xuân Thu, Lục Giả Tân Ngữ, Giã Nghị Tân Thơ, Diêm Thiết Luận v.v...  Sau đây xin lần lượt lược khảo về các quyển sách ấy.

Sách Án Tử

Theo sách Hán Chí, sách Án Tử gồm 8 thiên, với lời chú: Tên ông là Anh, thụy là Bình Trọng, làm tướng quốc cho Tề Cảnh Công, Khổng Tử khen là khéo giao thiệp với người.

Sách Tứ Khố toàn thơ sắp vào Sử bộ, về loại Truyện Ký, nhưng xét theo thể tài quyển sách thì thấy thuộc vào loại Chư Tử, chớ không phải Sử, hay là người ta liệt sách ấy vào loại Sử cũng vì tiêu đề quyển sách là Án Tử Xuân Thư chăng?

Bài Tự Lục của Lưu Hướng khi hiệu đính sách Án Tử có viết: "Thần gom góp các sách trung, ngoại thơ được 30 thiên, cọng 838 chương, trừ 22 thiên trùng nhau, gồm 623 chương, còn lại 8 thiên, gồm 215 chương.

Quyển sách nầy có 6 thiên, hợp với ý nghĩa Lục Kinh, những chỗ trùng nhau, văn từ khác lạ, nhưng không dám bỏ sót, nên gom riêng vào 1 thiên, rồi có những chỗ không hợp với kinh điển, dường như không phải là lời của Án Tử, nghi của người đời sau là bọn biện sĩ thêm vào, nhưng cũng không dám bỏ sót, nên gom thành một thiên nữa, cọng chung là 8 thiên".

Như thế sách Hán Chí ghi theo bổn của Lưu Hướng đã hiệu đính, bổn sách còn lại hiện nay cũng 8 thiên.

Tám thiên sách ấy là:

Nội thiên gồm 6 thiên [tức Lưu Hướng nói hợp với nghĩa Lục Kinh] gồm các thiên: Gián Thượng, Gián Hạ, Vấn Thượng, Vấn Hạ, Tạp Thượng và Tạp Hạ.

Ngoại Thiên gồm 2 thiên [tức Lưu Hướng nói lộn xộn và văn từ khác lạ] gồm thiên thứ 7 văn từ đáng nghi và thiên thứ 8, dường như không phải lời của Án Tử.

Khổng Tòng Tử, trong các sách Thuận thuyết thiên và Phong tục thông, nghi sách nầy ra đời ở nước Tề vào thời Xuân Thu, như trong sách Mặc Tử, thiên Minh quỉ đã viết: "Án Anh chết, tân khách tiếc thương, liền gom góp việc làm của ông viết thành sách, tuy không ghi rõ năm tháng, nhưng cũng còn danh cũ. Ngu Khanh và Lục Giả tiếp theo, sách xong ở thời Chiến Quốc, gọi là sách của Chư Tử, đa số không do người ấy viết, điều đó không có gì lạ".

Như thế thì quyển sách không phải do Án Tử viết, mà do người đời sau thể theo việc làm của ông, ghi lời nói của ông, chép lại thành sách, quyển sách viết vào thời Chiến Quốc, rồi Hán Chí ghi tên Án Tử lên trên.

Án Tử và Khổng Tử đồng thời, cho nên liệt ông vào hàng Nho gia.

Về chú bổn Án Tử, có sách Án Tử âm nghĩa của Tôn Tinh Viễn, sách Án Tử Xuân Thu hiệu chánh của Lư Văn Chiêu và Án Tử Xuân Thu của Hoàng Dĩ Châu.

Sách Lục Giã Tân Thơ

Sách Hán Chí, phần Nho gia, có Lục Giã gồm 23 thiên.

Sách Giã Nghị Tân Thơ

Sách Hán Chí, phần Nho gia, có Giã Nghị gồm 58 thiên. Chương Học Thành cho rằng Giã Nghị cũng tinh thông về Pháp gia và Đạo gia. Chương Bình Lân cũng nhận xét ông giỏi về Từ phú, vì học giả đời Tây Hán không chuyên về một môn phái nào mà thường học được nhiều phái khác nhau, như Lục Giả là Nho gia, mà cũng là Tung Hoành gia.

Sách Diêm Thiết Luận

Sách Hán Chí, phần Nho gia có Diêm Thiết Luận của Hoàn Khoan, 60 thiên, Vương Ứng Lân có thấy 1 bổn gồm 10 quyển, nhưng cũng 60 thiên.

Hoàn Khoan tự Thứ Công, dưới thời Chiêu Đế, năm Thủy ngươn thứ 6, ra chiếu cho quận quốc cử kẻ hiền lương, văn học, để hỏi thăm về việc khổ sở của dân, ai ai cũng xin bỏ chế độ khắc nghiệt về muối và sắt, rồi biện luận với Ngự sử đại phu Tang Hoằng Dương. Hoàn Khoan gom góp tất cả những lời luận gồm tất cả 60 thiên, đó là Diêm thiết luận.

Đây là một loại sách khác hẳn với chư tử khác, đó là loại gom góp tất cả lời biện luận của kẻ khác, còn nội dung thì biện luận về biện pháp tài chánh của quốc gia.

Sách Hán Chí viết: "Phái Tạp gia, là ra từ Nghị Quan". Diêm Thiết Luận không phải do một mình Hoàn Khoan viết ra, mà là gom tất cả những lời biện luận của các kẻ sĩ hiền lương, văn học, tranh luận với Thừa tướng, Ngự sử đại phu về chế độ muối và sắt, rõ ràng là biện luận ấy xuất phát từ Nghị Quan cũng nên liệt vào phái Tạp gia.

Về pho Diêm Thiết Luận có những tập chú của Trương Chi Tượng đời Minh và của các ông: Lư Văn Chiêu, Tôn Tinh Viễn, Vương Tiên Khiêm.

Sách Lưu Hướng sở tự

Sách Hán Chí phần Nho gia, có Lưu Hướng sở tự gồm 67 thiên, với lời chú: Tân tự, Thuyết Uyển, Thế thuyết, Liệt nữ truyện, Tụng đố... tức là tổng quát những trước tác của Lưu Hướng.

Theo sách Tùy Chí thì Tân tự và Thuyết Uyển được liệt vào phần Nho gia, còn Liệt nữ truyện thì nhập vào Sử bộ tạp truyện.

Theo Tứ khố toàn thơ thì Liệt nữ truyện cũng xếp vào loại Sử bộ truyện ký.

Sách Hán thơ có viết: "Lưu Hướng đã trích sự tích các Hiền phi, Trinh phụ trong Thi, Thơ, luôn cả những người đàn bà dâm ác sắp xếp có thứ tự để làm gương cho đời sau, thành pho Liệt nữ truyện 8 thiên, rồi lại chọn những Truyện ký viết pho Tân sự, Thuyết Uyển gồm 50 thiên.

Ông lại có viết các thiên: Tật sàm, Trích yếu, Cứu nguy và Thế tụng gồm 8 thiên, y theo chuyện xưa mà buồn phận mình và đồng loại.

Sách Tùy Chí viết: Tân tự có 30 quyển, Thuyết Uyển 20 quyển là hợp với số 50 thiên, là vì lấy mỗi thiên làm một quyển, thêm vô Thế thuyết 8 thiên, Liệt nữ truyện 8 thiên, Liệt nữ truyện đồ 1 thiên là đúng 67 thiên.

Tật sàm, Trích yếu, Cứu nguy, Thế tụng, đó là tên của Thế Thuyết, mỗi thiên đều có thượng hạ, cọng chung là 8 thiên.

Sách Tân tự, bây giờ còn là Tạp sự 5 quyển, Thích xí 1 quyển, Tiết sĩ 2 quyển, Thiện mưu 2 quyển, cọng chung 10 quyển, như thế so với Tùy Chí đã chép là 30 quyển thì đã bị mất đến 20 quyển.

Quyển nầy chép những chuyện về thời Xuân Thu Chiến Quốc, có những chuyện giống với Tả truyện, Quốc ngữ, Chiến Quốc sách, Sử ký.

Sách Thuyết Uyển, bây giờ còn 20 quyển, y như trong Tùy Chí, Đường Chí đã ghi. Sách nầy và sách Tân tự đều gom góp những chuyện xưa từ đời Xuân Thu đến đời Hán, nhưng tại sao lại chia làm 2 pho sách, không ai hiểu được, những chuyện ghi trong sách cũng có chỗ sai lầm.

Về Liệt nữ truyện, sách Hán Chí và Bổn truyện đều ghi là có 8 thiên, sách Sơ học ký, dẫn sách Biệt lục viết: Thần là Hướng cùng quan Hoàng môn Thị lang Hâm hiệu đính Liệt nữ truyện, sắp xếp theo từng loại, cọng 7 thiên.

Như thế là Liệt nữ truyện do cha con Lưu Hướng, Lưu Hâm làm hiệu đính, không phải do một mình Lưu Hướng viết, và truyện chỉ có 7 thiên, hợp với Tụng nghĩa là 8 thiên.

Sách Tùy Chí có ghi: Liệt nữ truyện 15 quyển, Tào Đại Cô chú: Bảy thiên, mỗi thiên đều có thượng hạ, cọng với Tụng Nghĩa là 15 thiên.

Nhan thị gia huấn có viết: Lưu Hướng viết Liệt nữ truyện, còn con là Lưu Hâm viết phần Tụng nghĩa. Những Liệt nữ được ghi, gồm có mẹ Trần Anh, cuối đời nhà Hán, và 16 người đời Đông Hán, Tăng Cũng nghi Tào Đại Cô có viết tiếp theo, bản sách ngày nay phân ra làm Tục Liệt nữ truyện, Triệu Công Võ cho rằng, phần nối tiếp là do Hạng Nguyên viết.

Nhưng Hạng Nguyên viết là Liệt nữ hậu truyện 10 quyển, trong Tùy Chí có ghi rõ, đó là một quyển sách riêng, Triệu Công Võ đã sai lầm.

Bản sách ngày nay có Tụng Nghĩa thì phần Đại Tự để phía trước mục lục, còn Tiểu Tự 7 thiên thì sắp chung trong mục lục, còn Tụng thì phụ ở phía sau các truyện. Truyện nào cũng có hình vẽ, do Cố Khải Chi đời Tấn vẽ, nhưng những bản vẽ đầu tiên ấy đã bị mất.

Tóm lại, quyển Lưu Hướng sở tự, thì phần Thế thuyết đã bị mất, còn Tân tự, Thuyết Uyển thì theo Truyện Ký, Liệt nữ truyện thì thể theo Thi, Thơ, Thế thuyết thì nương theo chuyện xưa, tất cả đều là sách Ký sự, khác hẳn với lối trình bày học thuyết của Chư Tử.

Từ sách Tùy Chí ra đời trở về sau, Liệt nữ truyện được xếp vào Sử bộ, thậm chí đến Tân tự, Thuyết Uyển vẫn còn ở Tử bộ, nhưng xét cho đúng, thì sách ấу không có tính chất sách Chư Tử.

*

Lư Văn Chiêu có viết các sách Tân Tự hiệu bổ, Thuyết Uyển hiệu bổ, còn Liệt nữ truyện, ngoài bản chú của Tào Đại Cô còn có các bản chú khác của Vương Viên Chiếu, Uông Viễn Tôn.

Sách Dương Hùng sở tự

Sách Hán Chí, phần Nho gia, có Dương Hùng sở tự 38 thiên, quyển sách nầy được liệt sau cùng phần Nho gia, sau đó có lời tổng kết viết: "Trở lên là tất cả 53 Nho gia" rồi lại có lời chú "Thêm sách Dương Hùng 38 thiên" là vì sách Thất lược của Lưu Hâm không có Dương Hùng, rồi sau đó Ban Cố thêm vô 38 thiên gồm có: "Thái Huyền 18 thiên, Pháp Ngôn 13 thiên, Nhạc 4 thiên, Châm 2 thiên".

Thái Huyền và Pháp Ngôn bây giờ còn. Vương Ứng Lân viết: Nhạc 4 thiên, không rõ, Dương Hùng còn có thiên Cầm Thanh Anh. Như thế thì Nhạc 4 thiên đã mất.

Sách Hậu Hán thơ, phần Hồ Quảng truyện có viết: "Trước tiên, Dương Hùng y theo Ngu Châm viết 12 thiên Châu Châm và 25 thiên Quan Châm, nhưng 9 thiên đã mất". Như thế thì còn 28 thiên.

*

Đời Tấn Phạm Huyền có làm chú sách Thái Huyền, theo lời chú cũ của Tống Trung và Lục Tích. Tư Mã Quang có tập chú sách Pháp Ngôn, theo lời chú của Lý Quỷ, Liễu Tôn Ngươn, Tống Hàm và Ngô Bí.

*

Hán Chí trích lục những sách của Nho gia cho đến bây giờ vẫn còn, được kể ra trong phần trên.

Sách Tăng Tử 10 thiên, là trích trong Lễ Ký của Đại Đái, sách Đại Học, Trung Dung trích trong Lễ Ký của Tiểu Đái, Đại Đái Ký là do Đái Đức biên soạn, còn Tiểu Đái Ký thì do Đái Thánh biên soạn, đại bộ phận sách đều trích trong sách Hán Chí, Lục Nghệ lược, phần Lễ, gồm 131 thiên, với lời chú: "Đây là theo lời ghi chép của 70 tử hậu học".

70 tử hậu học thì gồm đến chư Nho đời Tây Hán, như thế thì Đại Đái và Tiểu Đái là một pho sách gồm tất cả những trước tác của Nho gia, vì thế những tư tưởng của Nho gia từ thời Chiến Quốc đến thời Tây Hán có thể tìm thấy được một phần lớn trong hai pho sách ấy.

Sưu tầm: Huy Tran
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.