Bách Gia Chư Tử

Lượt đọc: 205 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1. các tác phẩm của nho gia
1. LUẬN NGỮ

❊ ❊ ❊

Các sách của Chư Tử thời Tiên Tần, đa số đều do đệ tử và hậu học biên chép lại những lời nói và hành vi của thầy để thành quyển sách cho Môn phái và phong trào nầy bắt đầu từ pho Luận Ngữ của phái Nho gia, cho nên sách Luận Ngữ được kể là pho sách thứ nhứt của Chư tử.

Mạnh Tử có nói: "Sở nguyện của tôi là được học Khổng Tử". Sách của ông cũng do môn đệ biên chép và phỏng theo lề lối của Luận Ngữ.

Sách Hán Chí ghép sách Luận Ngữ trong phần Lục Nghệ lược, và ghép Mạnh Tử trong phần Chư Tử lược, như thế là xếp loại không đúng.

Các nhà học giả thời trước khi khảo cứu về tác phẩm của Chư Tử, không đề cập đến pho Luận Ngữ, cũng vì Hán Chí đã xếp pho ấy vào phần Lục nghệ, rồi sau đó, có người lại xếp pho nầy vào loại "Kinh" như thế cũng không đúng.

Sách Luận Ngữ phải được xếp vào phần Chư Tử, nhưng ở đầu, như thế mới đúng với tính chất của quyển sách.

*

Sách Hán Chí chép: pho Luận Ngữ hồi xưa có 21 thiên [pho tìm được trong vách nhà Khổng Tử, có 2 thiên Tử Trương].

Pho nước Tề có 22 thiên [có thêm 2 thiên: Vấn Vương, Tri Đạo]. Pho của nước Lỗ có 20 thiên.

Gọi là Luận Ngữ thời xưa, đó là pho Cổ văn Luận Ngữ, còn của nước Tề gọi là Tề Luận, của nước Lỗ gọi là Lỗ Luận đều là Kim văn Luận Ngữ.

Cổ văn, Kim văn đó là vấn đề chuyên môn của ngành Kinh học, chúng ta không đề cập ở đây, mà chỉ nghiên cứu về pho Luận Ngữ thôi.

Sách Hán Chí viết: "Luận Ngữ là những lời của Khổng Tử ứng đáp với đệ tử và người đương thời, và cả những lời của đệ tử bàn bạc với nhau và được Khổng Tử tiếp thêm vào.

Lúc đó mỗi đệ tử đều có ghi riêng, khi Phu Tử mất, môn nhơn liền gom góp, bàn luận, biên soạn lại, cho nên mới gọi là Luận Ngữ. Luận Ngữ là bàn luận thứ lớp để biên soạn.

Bộ Luận Ngữ là pho sách của Nho gia ghi chép những lời của Khổng Tử nhiều hơn hết, và đó là chủ đích chánh.

Những lời của Khổng Tử, hoặc luận về đạo đức, về việc học hành, về chánh trị, có khi là những lời cảm khái, hoặc trả lời những câu hỏi của đệ tử hoặc người đương thời.

Có khi cũng là những lời dạy bảo đệ tử, hoặc lời phê bình đệ tử, phê bình thời sự, người đương thời hay người xưa, và cũng có khi ghi những lời của đệ tử, kế đó cũng ghi những việc làm của Khổng Tử, thái độ, cách ăn mặc, sanh hoạt, làm cho chúng ta đọc qua có thể tưởng tượng được cách sống của ông như thế nào, và ông đã sống như thế, ta học với ông cũng phải sống như thế [tự nhiên là trong tinh thần, chớ không phải ngoài hình thức].

Sách Luận Ngữ cũng có ghi chép những điều nghe, thấy, đó là phương pháp trực tiếp ghi chép, thế nên lời văn ngắn mà chất phác, và nếu như trau tria, nhuận sắc lại thì bị mất chân thực, ghi chép trung thực đó là lý đương nhiên phải như thế, và đó cũng là thể văn xưa nhứt về môn ghi chép lời nói.

Về người soạn pho Luận Ngữ, trong các sách Biệt Lục của Lưu Hướng và Hán Chí của Ban Cố không thấy đề cập đến. Trong một bản Luận Ngữ xưa thì lại chép rằng do Tử Hạ và cùng một nhóm đệ tử 64 người cùng soạn, đó chỉ là lời nói đoán không có bằng chứng gì chắc chắn cả, rồi tiếp theo sau lại có rất nhiều thuyết khác nhau.

Như trong sách Kinh Điển Thích Văn Tự Lục dẫn lời Trịnh Huyền nói rằng: do Trọng Cung, Tử Hạ soạn.

Sách Luận Ngữ âm nghĩa dẫn lời Trịnh Huyền viết: do Trọng Cung, Tử Du và Tử Hạ soạn.

Một học giả người Nhựt, ông Thái tể Xuân Đài, nhận xét trong Luận Ngữ, khi chép tên các đệ tử đều ghi tên tự, hoặc gọi ông tên nầy, ông tên nọ, duy trong Thượng Luận, thiên Tử Hản, thấy một điểm lạ là khi nhắc đến Tử Lao chỉ ghi có một tên "Lao" mà thôi, kế đó trong Hạ Luận, thiên Hiến Vấn, lại ghi Tử Hiến có một chữ "Hiến" mà thôi, vì thế ông nhận rằng: Thượng Luận do Cầm Lao soạn, và Hạ Luận do Nguyên Hiến soạn.

Liểu Tôn Nguyên, trong sách Luận Ngữ biện nhận rằng đệ tử của Tăng Tử là nhóm Nhạc Chánh, Tử Xuân và Tử Tự soạn, còn Châu Tử thì lại cho là Trình Tử, môn nhơn của Hữu Tử và Tăng Tử soạn.

Có một điều đáng chú ý là trong Luận Ngữ, thường có những câu lặp đi, lặp lại trùng nhau, như câu "Xảo ngôn lịnh sắc, tiễn hỉ nhơn". Câu nầy thấy trong thiên Học Nhi và thiên Dương Hóa.

Câu "Tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hỉ" thấy trong các thiên Học Nhi và Lý Nhơn, nhưng có khác nhau đôi chút, như thế chúng ta dám quyết đoán quyển Luận Ngữ không phải chỉ do một người soạn ra.

Hơn nữa trong Thượng Luận và Hạ Luận, văn thể, cách xưng hô đều không giống nhau, có chỗ thấy rõ ràng là ghi chép thêm vào hoặc kéo dài thêm, như vậy là pho Luận Ngữ được thêm bớt nhiều lần, trong một thời gian khá dài, chớ không phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian nào đó.

Tăng Tử nhỏ hơn Khổng Tử 46 tuổi, Khổng Tử mất vào năm 73 tuổi, như thế thì lúc đó Tăng Tử mới có 27 tuổi, trong Luận Ngữ lại có chép lúc Tăng Tử lâm chung lại có lời dặn với Mạnh Kỉnh Tử và gọi Kỉnh Tử bằng tên Thụy... như vậy thì Mạnh Kỉnh Tử chết sau Tăng Tử.

Qua những bằng chứng trên, sách Luận Ngữ được biên soạn, ít nhứt là sau khi Khổng Tử mất 5, 6 mươi năm.

Việc biên chép không phải do một người, và biên soạn không phải xong một lần, và ai biên soạn cho đến bây giờ không tìm đâu ra chứng cớ xác đáng để quyết định, mỗi người đều có những ý kiến khác nhau, nhưng chỉ ức đoán.

Sách Hán Chí không ghi rõ tên ai biên soạn, mà chỉ viết "Các đệ tử đều có góp công ghi chép và môn nhơn gom góp lại để soạn ra".

Nếu căn cứ theo Hán Chí, thì có những nhận xét sau đây: Đệ tử và môn đệ là khác nhau. Âu Dương Tử có nói: Đến học là đệ tử, còn học với đệ tử của Phu Tử gọi là môn nhơn.

Xét trong Luận Ngữ thì thấy là đúng, như câu: "Nhan Uyên chết, môn nhơn hậu táng". Môn nhơn đó là đệ tử của Nhan Uyên. Thật ra thì thuyết nầy cũng chưa chắc là đúng vì lúc Nhan Uyên chết, chưa chắc là ông đã có đệ tử, và môn nhơn đây có thể là đệ tử của Khổng Tử.

Như thế thì đệ tử và môn nhơn có khác nhau không? Theo sách Khổng Tử thế gia thì: Đệ tử là người học trò trực tiếp còn môn nhơn là học trò chung, có thể là người đến học với đệ tử, vì vậy sách Hán Chí mới ghi phân biệt.

Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều dùng 2, 3 chữ đầu của câu thứ nhứt hay thứ hai để làm tiêu đề. Vì như thiên Học Nhi thì câu đầu của thiên ấy là "Học Nhi thời tập Chi".

Hai mươi thiên của sách Luận Ngữ là: Học Nhi, Vi Chánh, Bát Dật, Lý Nhơn, Công Dã Trường, Ung Dã, Thuật Nhi, Thái Bá, Tử Hản, Hương Đảng, Tiên Tiến, Nhan Uyên, Tử Lộ, Hiến Vấn, Vệ Linh Công, Quí Thị, Dương Hóa, Vi Tử, Tử Trương và Nghiêu Viết.

Trong số 20 thiên ấy, 10 thiên đầu là Thượng thiên, trong số có 9 thiên ghi những lời nói của Khổng Tử, còn thiên thứ 10, thiên Hương Đảng thì ghi những việc làm, nếp sống và thái độ của Khổng Tử.

Kế đó, 10 thiên sau gọi là Hạ Luận, trong số có 8 thiên, ghi những lời của Khổng Tử là chánh, còn thiên thứ 9, thiên Tử Trương thì ghi những lời của đệ tử Khổng Tử, thiên thứ 10: Nghiêu Viết chỉ có 3 chương, có nhiều điểm đáng nghi, chương đầu trong thiên nầy không phải là lời nói của Khổng Tử, mà cũng không có gì liên hệ đến Khổng Tử hay đệ tử, còn chương cuối là chương Tri mạng thì không thấy trong sách Lỗ Luận. Còn chương thứ 2 thì văn thể rất khác với Luận Ngữ, nên rất đáng nghi.

Phần Thượng Luận 10 thiên, là được biên soạn trước, cho nên mới kết luận ở thiên Hương Đảng để chấm dứt, còn phần Hạ Luận được biên soạn sau cho nên chấm dứt bằng thiên Tử Trương. Thiên Nghiêu Viết là do người đời sau, khi học Luận Ngữ viết thêm vào rồi thành ra một thiên.

Thượng Luận và Hạ Luận được biên soạn làm 2 lượt, lúc biên soạn Hạ Luận thì cách thời gian Khổng Tử mất rất xa, thế nên Thượng Luận thì thuần nhứt, còn Hạ Luận lại lộn xộn.

Dưới thời Tống, Triệu Phổ có nói: "Chỉ cần nửa pho Luận Ngữ cũng đủ trị thiên hạ". Và nửa pho ấy tức là chỉ phần Thượng Luận.

Về phần lộn xộn trong Hạ Luận thì thấy có mấy điểm chánh như sau: cùng một việc mà lại ghi chép khác nhau, danh xưng một người mà trước sau không giống nhau, và có nhiều chỗ thêm bớt không thuần nhứt với nội dung và hình thức của pho sách.

Đại để về 10 thiên trong phần Hạ Luận, chỉ có 2 thiên Hiến Vấn và Tử Trương là có thể tin được, rồi kế đó là 2 thiên Tiên Tiến và Tử Lộ, tiếp theo là tuần tự các thiên Nhan Uyên, Vệ Linh Công, và sau cùng là thiên Vi Tử còn các thiên Quí Thị và Dương Hóa rất lộn xộn, và thiên Nghiêu Viết rất đáng nghi ngờ.

Sách Luận Ngữ, so với các cổ thơ khác, rất đáng tin, mà còn lộn xộn như thế, như vậy đọc cổ thơ quả là một chuyện rất khó khăn.

Vì thế khi đọc sách nầy, cần phải chú ý ghi chú sắp xếp lại, thứ nhứt là thấy chỗ nào đáng nghi nên ghi ra một bên để xếp vào phần phụ lục hoặc tạp thiên. Thứ hai là trong các thiên, chỗ nào ghi việc làm, thái độ hay cuộc sanh hoạt của Khổng Tử thì phải ghi riêng để chép vào thiên Hương Đảng cho hợp. Thứ ba là trong các chương, thiên ghi lời đệ tử, thì phải trích ra đem xếp vào Tử Trương cho hợp lý. Thứ tư là trong những thiên ghi lời Khổng Tử, phải xem xét nội dung của từng câu để phân loại sắp xếp, như các loại về dạy học, chánh trị, đạo đức, bình luận nhơn vật, thời sự v.v... hay là lời phê phán các đệ tử. Thứ năm là trong các thiên, soát lại các chương, nếu có chương nào đồng loại thì sắp xếp chung để so sánh.

Sau khi chỉnh lý, thì đọc một cách được dễ dàng hơn, và chừng đó chúng ta sẽ nhận được một cách rõ ràng con người của Khổng Tử với học thuyết, với ngôn luận và cá tánh của đệ tử đều rất dễ nhận thấy.

*

Từ trước đến nay, trải qua các đời Tây Hán, Tùy, Đường, Tống, Thanh, v.v... có rất nhiều học giả chú thích cho pho Luận Ngữ, nhưng tóm lại chỉ có bổn Luận Ngữ tập giải của Hà Án là bản xưa hơn hết, và kế đó là bản Luận Ngữ tập chú của Châu Hi là rành hơn hết, rồi tập Luận Ngữ chánh nghĩa của Lưu bảo Nam là rộng hơn hết.

Hai phái học giả của thời Hán và thời Tống, giải thích sách Luận Ngữ, mỗi phái đều có sở trường riêng, chúng ta xếp sách Luận Ngữ lên hàng đầu của tác phẩm Chư Tử, thì không nên câu nệ vào tên người chú thích của phái nào cả, mà nên tham khảo tất cả các phái với những lời chú khác nhau để châm chước, chọn cái hay, để thông suốt thêm nội dung quyển sách.

Từ lúc cuối nhà Thanh cho đến nay, các nhà học giả cũng chú tâm đến việc chú thích quyển Luận Ngữ rất nhiều, ngoài ra lại còn các bài khảo cứu bình luận đăng trên các tạp chí, nếu chịu khó tham khảo thêm thì có lẽ chúng ta sẽ thông hiểu được tất cả những đoạn khó trong sách.

Bộ phận quan trọng nhứt trong pho Luận Ngữ, cho đến ngày nay vẫn còn giá trị, đó là phần nói về đạo làm người. Chẳng những chúng ta tìm đạo lý ấy trong lời văn quyển sách, mà trong khi tìm hiểu thêm, đọc những lời giải thích, và học thuộc lòng những đoạn hay ấy, chúng ta còn phát hiện thêm những điều rất thâm thúy, nhứt là khi liên hệ với hoàn cảnh xã hội ngày nay.

Sau khi đã đọc kỹ, và nếu có thể, học thuộc lòng, rồi suy nghĩ thêm cho chín chắn, gặp trường hợp nào, hoàn cảnh nào chúng ta cũng có thể suy nghiệm để tìm cách giải quyết cho thích đáng với hoàn cảnh.

Nếu không được như thế thì cũng y như lời Châu Hi đã viết trong bài tựa khi chú thích quyển Luận Ngữ.

"Khi chưa đọc quyển Luận Ngữ thì con người như thế, rồi sau khi đọc, cũng vẫn y như vậy", như thế thì chỉ đọc cho có đọc chớ chẳng ích lợi gì cả.

Sưu tầm: Huy Tran
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.