Trong Luận Ngữ, thiên Lý Nhơn có ghi lời Khổng Tử: "Sâm à! Đạo của ta chỉ có một mà thông suốt tất cả..." Tống Nho bảo rằng Tăng Tử là người độc nhứt được nghe đạo "Nhứt quán" của Khổng Tử, và được chân truyền của thầy.
Trong số đệ tử của Khổng Tử, Tăng Tử là người nhỏ nhứt, mà tuổi thọ lại cao, thế nên đối với sự học của thầy rất có quan hệ. Nhưng ông có được chân truyền của thầy hay không, đó chỉ là do Tống Nho nói, còn Khổng Tử thì không thấy đề cập tới.
Sau đây là phần tìm hiểu về pho sách Tăng Tử.
Sách Tăng Tử
Trong Hán Chí, phần Chư Tử lược, có pho Tăng Tử 18 thiên, với lời chú: "Ông tên Sâm, đệ tử của Khổng Tử".
Có người nói: Tử Tư là đệ tử của Tăng Tử, nhưng trong Hán Chí lại sắp Tăng Tử sau Tử Tư, tại sao vậy?
Hay là vì Tử Tư là cháu Khổng Tử, cho nên không bị sắp xếp theo trật tự thời gian chăng?
Sách Tăng Tử, trong Hán Chí chép là 18 thiên. Sách Thất Lục và Tùy Chí chép là hai quyển, và nhiều sách khác cũng ghi là hai quyển cọng 10 thiên, y như 10 thiên trong Đại Đái Ký.
Dường như sách Tăng Tử có hai loại, một loại là 18 thiên và một loại là hai quyển gồm 10 thiên, mà tất cả đều bị mất, bây giờ không còn tài liệu gì để tìm hiểu được cả.
Trong sách Đại Đái Ký còn 10 thiên, để rõ ràng là của Tăng Tử, như thế, tuy nguyên bản sách đã mất, nhưng vẫn còn được 10 thiên. Nguyễn Ngươn đem 10 thiên nầy ra chú thích thành pho Tăng Tử và đề tựa: "Học giả trăm đời sau đều noi theo "Pháp" của Khổng Tử, thời gian nầy xa Khổng Tử bao nhiêu thì lời nói của ông càng khác lạ. Lời nói của Tử Tư, Mạnh Tử, tuy gần với Khổng Tử, nhưng không phải tự thân những người ấy thọ nghiệp với ngài. Trong số 70 học trò thân thọ nghiệp với ngài, và lời nói gần ngài nhứt, duy chỉ có Tăng Tử 10 thiên".
Nguyễn Ngươn đã suy tôn đúng mức Tăng Tử, và 10 thiên sách ấy là: Tăng Tử lập sự, Tăng Tử bổn hiếu, Tăng Tử lập hiếu, Tăng Tử đại hiếu, Tăng Tử sự phụ mẫu, Tăng Tử chế ngôn [thượng], Tăng Tử chế ngôn [trung], Tăng Tử chế ngôn [hạ], Tăng Tử tật bịnh, Tăng Tử thiên viên.
Trong thiên Tăng Tử đại hiếu có lời vấn đáp của đệ tử Tăng Tử là Nhạc Chánh Tử Xuân với môn đệ tử, như thế đã rõ ràng là đệ tử của Tăng Tử và số đệ tử lớp sau đã ghi chép đoạn nầy.
*
Tăng Tử 10 thiên trong Đại Đái Ký, so sánh với sách Tăng Tử do Lư Biên chú, thì lời chú của Đại Đái là xưa hơn cả, nhưng khá hơn hết là bản chú thích của Nguyễn Ngươn.
Sách Hiếu Kinh
Uông Trác và Vương Định An, khi biên chú sách Tăng Tử đều kèm theo Hiếu Kinh và Đại Học.
Sách Hiếu Kinh, trong Hán Chí ghép chung với Luận Ngữ vào phần Lục Nghệ lược, và bây giờ là một trong pho Thập Tam Kinh, còn Đại Học là một thiên trong Lễ Ký, Hán Chí sắp vào phần Lục Nghệ lược, loại Lễ, bây giờ cũng là một trong Thập Tam Kinh.
Như thế là Hiếu Kinh và Đại Học dường như thuộc loại Kinh chớ không phải Tử, nhưng tương truyền hai pho ấy đều do Tăng Tử viết cho nên phải ghép vào phần Chư Tử.
Lời chú trong Hán Chí có viết: "Sách Hiếu Kinh là Khổng Tử trần thuật Hiếu Đạo cho Tăng Tử, nhưng trong sách Hiếu Kinh thuật nghĩa, Lưu Huyền có viết: Khổng Tử viết Hiếu Kinh, không phải do Tăng Tử xin học mà mới trả lời, đó chỉ là lối giả thiết để trình bày học thuyết...".
Sách Cổ thơ nghi nghĩa cử lệ của Du Việt cũng có viết: "Xét theo câu đầu của Hiếu Kinh: "Trọng Ni cư, Tăng Tử thị..." thì thấy có mấy điều đáng chú ý: Trọng Ni là tự của Khổng Tử, Tăng Tử là tiếng tôn xưng Tăng Tử, vô luận quyển sách nầy do Khổng Tử viết, hay là nói ra để cho Tăng Tử chép, cũng không có lý do gì để viết gọi Khổng Tử là Trọng Ni và Tăng Sâm là Tăng Tử", đó là điều đáng nghi ngờ quyển sách ấy không phải do Khổng Tử viết hay Tăng Tử chép, mà chỉ do người đời sau biên soạn rồi gán cho Khổng Tử và Tăng Tử.
Hơn nữa, chữ Kinh là để chỉ những sách vở của thời xưa, nếu quả như Khổng Tử hay Tăng Tử viết thì không bao giờ đặt tên cho quyển sách mình là "Kinh" cả.
*
Về chú thích pho Hiếu Kinh, tương truyền có hai loại: một là bổn của Trịnh Huyền, thuộc kim văn, một bổn khác của Khổng An Quốc, thuộc cổ văn, nhưng từ khi bổn Ngự Chú của Đường Huyền Tôn ra đời, thì hai bản của Trịnh Huyền và Khổng An Quốc không được ai chú ý đến nữa.
Ngoài ra, lại còn các bản của Châu Tử, của Ngô Trừng đời Nguyên và của Nguyễn Phúc đời Thanh. So với các bản khác, bản chú Hiếu Kinh của Nguyễn Phúc là đầy đủ, rõ ràng hơn cả.
Sách Đại Học
Đại Học là một thiên trong sách Lễ Ký, nhưng người viết là ai, thì không có tài liệu nào đề cập đến cả. Trình Tử đời Tống cho đó là di thơ của họ Khổng, nhưng cũng không nói rõ là ai đã viết quyển sách ấy. Châu Tử cũng nói:
"Đó là lời của Khổng Tử và Tăng Tử ghi chép".
Phần kinh gồm 1 chương, còn về phần truyện 10 chương, thì nói đó là lời của Tăng Tử và do môn nhơn ghi chép, và có lẽ vì thế mà Tăng Tử có liên quan đến quyển Đại Học.
Nhà học giả Đái Chấn, khi còn nhỏ, lúc học đến pho Đại Học chương cú có hỏi thầy:
— "Thưa thầy, Khổng Tử và Tăng Tử đều là người dưới thời nhà Châu, còn Châu Tử là người Nam Tống, nhà Châu nhà Tống cách nhau rất xa, tại sao Châu Tử biết là do 2 ông ấy viết?"
Ông thầy không có bằng chứng gì để trả lời cho xác đáng được.
Châu Tử thấy Đại Học thường dẫn lời Tăng Tử, và đề cập đến "Tâm" cũng như trong Trung Dung nói về "Tánh", làm căn cứ cho thuyết "Tâm Tánh" thế cho nên mới ức đoán Đại Học là của Tăng Tử.
Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử, làm tiêu biểu cho học thuyết của Khổng Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử, và cũng thuộc về thầy trò cùng truyền đạo cho nhau, 1 phái nối tiếp nhau, kế tục truyền thống của Đạo, như thế ghép Đại Học cho Tăng Tử viết ra thấy cũng là hợp lý, mặc dù không tìm thấy bằng chứng gì để xác định được.
Sách Đại Học và Trung Dung, ban đầu đều là một thiên trong Lễ Ký, sau đó thành một phần trong bộ Tứ thơ, cho nên phần chú thích cũng có nhiều người như: Trịnh Huyền, Khổng Dĩnh Đạt, rồi sau đó cũng có tập chú của Châu Tử, của Triệu Thuận Tôn, của Châu Đức Tú.
Từ trước đến nay nhiều người thích bản chú của Châu Tử, lần lần thành thói quen, nhưng xét cho kỹ, bản của Châu Tử còn nhiều khuyết điểm và tư tưởng nhiều chỗ không còn thích hợp với hoàn cảnh ngày nay.