Từ Khổng Tử trở về sau, việc tư nhân dạy học, tư nhân sáng tác đã trở thành một phong trào, và nền học vấn của vua quan cũng lan lần trong dân gian.
Kẻ hiền tài, bực nhân sĩ, nhìn thấy cuộc đời thay đổi, muốn đem sở học của mình ra để cứu nguy thời thế, để dạy dỗ hướng dẫn người sau, vì thế mà phong trào học tập sôi nổi, phong trào sáng tác cũng tiến lên mạnh mẽ, sách vở lần lượt ra đời rất nhiều. Nhờ thế mà Bách Gia Chư Tử xuất hiện, hình thành một thời đại vàng son trong ngành học thuật nước Trung Hoa.
Thật ra Bách Gia Chư Tử thật có nhiều, nhưng chúng ta không thể nào biết được một cách chính xác về nhân vật và học thuyết của những nhà ấy như thế nào.
Chúng ta chỉ đành tìm hiểu được trong một phạm vi có hạn nào đó thôi, và mỗi người tùy theo khả năng và sở thích của mình mà tìm hiểu chỗ mình muốn.
Sở dĩ như thế là vì tài liệu lưu truyền cho đến ngày nay bị thất lạc rất nhiều, và lúc ấy, các Môn phái cũng nhiều và cũng phức tạp.
Về tài liệu ghi chép các Môn phái trong Bách Gia Chư Tử, trước tiên thấy có trong sách Trang Tử ở thiên Thiên hạ.
Trong thiên này, Trang Tử đã sắp "Các kẻ sĩ của nước Trâu, Lỗ" vào phần tổng luận, mà kẻ sĩ của Trâu, Lỗ, người đời sau gọi là Nho gia vậy.
Kế đó lại viết "Nền đạo thuật bị phân chia" đó là muốn nói đến Chư Tử.
Trong thiên Thiên hạ, Trang Tử đã cho rằng Khổng Tử là người mở đường cho Bách Gia Chư Tử. (Nên chú ý: thời ấy viết Trâu Lỗ chí sĩ là nói đến Khổng Tử, còn Mạnh Tử thì gọi là Lỗ Trâu, nên phân biệt rõ).
Khi bình luận Chư Tử, Trang Tử đã sắp Mặc Địch và Cầm hoạt Ly vào một phái, tức gọi là Mặc gia, Tống Hình và Doãn Văn cũng làm một phái, phái nầy tiếp cận với Mặc gia. (Sách Hán chí kể Tống Tử vào phái Tiểu thuyết gia).
Trang Tử cũng sắp Doãn Văn vào phái Danh gia, mà Lưu Hàm thì lại cho rằng Doãn Văn lại gần với Hoàng Lão hơn. Có người lại sắp Tống Hình với Doãn Văn nằm trung gian ở giữa hai phái Đạo gia và Mặc gia.
Về phần Bành Mông, Điền Biền và Thận Đáo thì sắp thành một phái, học thuyết gần với Đạo gia. (Về Bành Mông thì không thấy tài liệu nào nói rõ, theo sách Hán chí thì Đạo gia có Điền Tử, Pháp gia có Thận Tử, nhưng trong thiên Giải Tế, sách của Tuân Tử thì lại nói Thận Đáo học theo thuật của Hoàng Lão).
Huệ thi là một phái riêng tức là phái Danh gia, Quan Doãn, Lão Đam làm một phái, Trang Chu là một phái riêng, tất cả đều là Đạo gia.
Trong thiên Thiên hạ của sách Trang Tử, chỉ ghi tên người đại biểu cho từng môn phái mà không liệt kê vào hệ thống nào, sau đó mới nhận xét tính chất của các môn phái tìm chỗ tương đồng mà xếp vào các hệ phái lớn, gồm có: Nho, Đạo, Mặc, Pháp và Danh gia.
Trong thiên Phi thập nhị tử, Tuân Tử đã phân làm 6 phái: Đà Hào, Ngụy Mâu làm một phái, Trần Trọng, Sử Du làm một phái; Mặc Địch, Tống Hình làm một phái; Thận Đáo, Điền Biền làm một phái; Huệ Thi, Đặng Tích làm một phái; Tử Tư, Mạnh Kha làm một phái.
Ngụy Mâu tức là người trong sách Hán chí gọi là Ngụy Công Tử, Mâu thuộc phái Đạo gia, còn Đặng Tích thì sách Hán chí ghép vào phái Danh gia. Tử Tư và Mạnh Kha thì sách Hán chí liệt vào Nho gia.
Trần Trọng tức là người trong sách Mạnh Tử gọi là Ô Lăng Trần Trọng Tử, còn Sử Du tức là người trong sách Luận Ngữ phê phán "Sử Ngư là người chánh trực". Trần Trọng và Sử Du là hai người nổi tiếng về đức hạnh mà không có trước thuật quyển sách nào nổi danh.
Trong thiên Phi thập nhị tử, Tuân Tử đã đề cập đến các phái, nhờ đó mà sau nầy, mới có tài liệu để phân tích sắp xếp thành hệ phái.
Tóm lại, trong tất cả Chư Tử, từ trước đến nay, ai ai cũng sắp xếp vào trong 5 hệ phái lớn mà thôi, tức là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia và Danh gia.
Các phái trong Chư Tử đều được sắp xếp vào hệ phái tức là "Gia". Nhưng trong số 5 hệ phái ấy, chỉ có Nho, Mặc là xuất hiện trước hơn hết.
Trong thiên Tận Tâm, Mạnh Tử có viết: "Bỏ họ Mặc thì về họ Dương, bỏ họ Dương thì về Nho" (Dương tức là Dương Chu không phải là tên một học phái, còn Nho và Mặc đều là tên của học phái).
Trong thiên Hiển Học, Hàn Phi có viết: "Học thuyết nổi nhứt của thời nay là Nho và Mặc". Như thế thì dưới thời Chiến quốc, chỉ có Mặc gia là tương đương được với Nho gia mà thôi.
Trong thiên Định pháp, Hàn Phi đã bàn đến Thương Ưởng và Thân bất Hại mà chỉ dùng chữ Định Pháp, như thế thì dường như dưới thời Chiến quốc, chưa có ai dùng đến chữ Pháp gia...
Trong phần Tự tự, sách Sử ký có dẫn lời Tư mã Đàm, luận về ý nghĩa trọng yếu của Lục gia và liệt kê ra các Âm dương gia, Nho gia, Mặc gia, Danh gia, Pháp gia và Đạo đức gia, so sánh với Trang Tử và Tuân Tử thì thấy có thêm một nhà nữa là Âm dương gia.
Theo sách Hán chí, có chép sách của Âm dương gia và Tống tư Tinh tử Vĩ.
Tư mã Đàm gọi sở trường của phái Âm dương gia là "trình bày sự thuận lợi của 4 mùa". Sách Hán chí thì gọi sở trường của Âm dương gia là: "Hiểu biết ngày tháng trăng sao để làm giờ cho người dùng".
Như thế là phái Âm dương gia lấy "lịch" làm ngành học thuật chuyên môn của mình.
Cha con Tư mã Đàm, dưới thời Hán Võ Đế, làm quan Thái sử lịnh cha truyền con nối. Tư mã Thiên có viết: "Chép sử về lịch, trăng sao rất gần với việc bói toán".
Tư mã Thiên đã định "Thái sơ lịch" cho vua Võ Đế, đó là nền học vấn gia truyền của họ Tư mã là môn Tinh lịch của Âm dương gia.
Trong thiên Đế điển của sách Thượng thơ cũng có chép điều nầy, nhưng không có bằng chứng xác đáng gì để tin, nếu cho rằng dưới thời vua Nghiêu đã có ngành học về "Tinh lịch" thật là một điều đáng nghi.
Có điều mà chúng ta dám quả quyết là "Tinh lịch" được phát minh sớm, có lẽ trước thời Xuân Thu, đó là điều xác đáng.
Tư mã Đàm đã tăng thêm trong số hệ phái môn Âm dương gia cũng là điều hợp lý. Đến giữa thời Tây Hán, khi chép về các phái trong Chư Tử, thấy có phần khác hơn dưới thời Chiến quốc.
Đến cuối đời Tây Hán, Lưu Hâm viết về Chư Tử lược trong sách Thất lược có thêm nhiều phái hơn là Tư mã Đàm.
Lưu Hâm đã thêm 4 môn phái nữa là: Tung hoành gia, Tạp gia, Nông gia và Tiểu thuyết gia. Nhưng lại cho phái Tiểu thuyết gia là "tiểu đạo" không đáng kể.
Lưu Hâm đã viết: "Trong số thân gia Chư Tử, chỉ có 9 là đáng kể mà thôi".
Trong sách Thất lược, Lưu Hâm có dùng chữ "Lưu" để chỉ là "phái", vì thế người đời sau có dùng chữ "Lưu" như trong câu "Cửu Lưu tam giáo" để chỉ 9 phái và 3 tôn giáo.
So với Tư mã Đàm thì Lưu Hâm đã phân biệt thêm nhiều phái, như thế chúng ta có thể nhận xét là vào cuối thời Tây Hán, các thuyết của môn phái có phần khác hơn các phái xuất hiện vào giữa thời Tây Hán.
Tóm lại các phái trong Chư Tử, và ai đại diện cho từng phái, là do theo sự nhận xét, phân tích của người đời sau, mà sự nhận xét ấy mỗi người mỗi khác theo sự chủ quan và cách qui nạp của mình.
Vì sự nhận xét và sắp xếp không giống nhau, cho nên người đại diện cho từng phái cũng được sắp xếp theo ý chủ quan của mỗi người.
Ví như Tống Tử, trong Hán chí thì cho là gần với Hoàng Lão, mà trong sách của Trang Tử lại sắp xếp ông nầy bên cạnh Doãn Văn, còn sách Hán chí thì lại sắp Mặc Địch (Mặc gia) vào môn phái Tiểu thuyết, thật là một điều rất chủ quan.
Tên gọi các phái trong Chư Tử cũng do người đời sau định ra, chớ không phải do người đã xướng xuất ra học thuyết ấy tự đặt cho phái mình dùng để hiệu triệu người khác và phổ biến học thuyết.
Vì thế, chúng ta thấy Khổng Tử là người khai sáng ra Nho gia, nhưng không bao giờ ông dùng chữ Nho để gọi học phái của mình (Điều nên chú ý là trong thiên Ung Dã trong sách Luận Ngữ của Khổng Tử có câu: "Khổng Tử bảo Tử Hạ, người hãy làm quân tử nho, đừng làm tiểu nhơn nho. Chữ Nho ở đây là chỉ kẻ sĩ có học thức, một chữ thường dùng lúc đó, chớ không phải nho là Nho gia").