Về nhân vật trong phái Nho gia, sau Khổng Tử, phải kể Mạnh Tử và Tuân Tử, về các tác phẩm của Nho gia, sau pho Luận Ngữ, phải kể 2 pho Mạnh Tử và Tuân Tử.
Ba nhân vật ấy với ba tác phẩm ấy cũng đủ tiêu biểu cho phái Nho gia từ đời Xuân Thu đến cuối đời Chiến Quốc, vì thế cho nên trong thiên khảo cứu nầy chúng ta không thể không nhắc đến 2 pho Mạnh Tử và Tuân Tử sau pho Luận Ngữ.
Pho Luận Ngữ, từ khi sách Hán Chí ra đời cho đến ngày nay được liệt vào "Kinh bộ" còn Tuân Tử thì được liệt vào "Tử bộ" [của Chư Tử] Mạnh Tử cũng được liệt vào "Tử bộ".
Từ đời Ngũ đại trở về sau, thì 2 pho ấy lại được liệt vào Kinh bộ, cọng với Luận Ngữ, được xếp vào Thập Tam kinh.
Trước kia, học giả có những quan niệm truyền thống, họ phân biệt "Kinh" và Tử" không phải ở tính chất của sách mà ở địa vị cao hay thấp của nhân vật thời xưa.
Sách Hán Chí ghép Luận Ngữ vào phần Lục Nghệ, là ý muốn đề cao địa vị Khổng Tử, còn người đời sau đổi Mạnh Tử từ "Tử bộ "sang "Kinh bộ" là cũng muốn đề cao địa vị Mạnh Tử, như thế là một sai lầm lớn trong tiêu chuẩn phân loại sách vở.
Trong quyển sách nầy, Luận Ngữ được xếp vào loại "Tử" thì tự nhiên Mạnh Tử và Tuân Tử cũng thuộc vào loại Tử vậy.
Khảo cứu về hai pho sách trên, đa số tài liệu, chúng tôi đều căn cứ theo sách Hán Chí.
Pho Mạnh Tử
Trong sách Hán Chí, phần Chư Tử, có ghi pho Mạnh Tử, 11 thiên, dưới thời Hán Văn Đế, pho Mạnh Tử được chọn chung với các pho Luận Ngữ, Hiếu Kinh và Nhĩ Nhã để làm tài liệu cho chức vụ Bác sĩ, nhưng sau đó lại bãi bỏ.
Dưới thời Ngũ đại, khi khắc bản pho Thập Nhứt Kinh, trong số có pho Mạnh Tử, đó là lần đầu tiên sách Mạnh Tử được liệt vào Kinh bộ.
Dưới thời Nam Tống, Châu Tử đem sách Mạnh Tử, Luận Ngữ và trích 2 thiên Lễ Ký, Đại học trong pho Lễ Ký, làm thành bộ Tứ Thơ.
Dưới thời Minh Thanh, dùng văn "bát cổ" để khảo thí, và lấy trong văn Tứ Thơ làm đề thi, vì thế mà pho Mạnh Tử trở thành một pho sách ai ai cũng phải học.
*
Sách Sử ký trong phần Mạnh Tuân liệt truyện có chép: "Mạnh Tử viết sách gồm 7 thiên". Sách Hán Chí lại viết là 11 thiên, nhiều hơn 4 thiên.
Triệu Kỳ trong pho Mạnh Tử đề từ có viết: "Lúc lui về cùng với nhóm cao đệ, đệ tử là Công Tôn Sửu, Vạn Chương vấn đáp về những điều nghi nan, rồi lại soạn ra những lời "Pháp độ", viết sách 7 thiên, rồi lại có phần Ngoại thơ 4 thiên: Tánh Thiện, Biện Văn Thuyết, Hiếu Kinh, Vi Chánh, văn chương không sâu sắc, không giống với phần Nội thiên, dường như không phải thật là của Mạnh Tử. Người đời sau cứ nương theo mà gán cho Mạnh Tử".
Như thế là Mạnh Tử có Nội thiên gồm 7 thiên, và Ngoại thiên, 4 thiên. Triệu Kỳ cho là 4 thiên của Ngoại thơ là giả, nên chỉ chú thích có phần Nội thiên.
Sách Sử ký chép 7 thiên là nói Nội thiên, còn Hán Chí nói 11 thiên là gom chung Nội, Ngoại thiên.
Bây giờ quyển Mạnh Tử chỉ gồm có 7 thiên, y như Sử ký đã nói, còn phần Ngoại thiên thì đã bị mất từ lâu.
Bảy thiên sách của Mạnh Tử các tiêu đề đều cũng không có ý nghĩa, y như sách Luận Ngữ.
Các thiên ấy là: Lương Huệ Vương, Công Tôn Sửu, Đằng văn Công, Ly Lâu, Vạn Chương, Cáo Tử, Tận Tâm.
Quyển Mạnh Tử do ai viết?
Sách Sử ký viết: "Mạnh Tử thuật cái đức của Đường, Ngu và thời Tam đại, vì các chỗ ông đi đến đều không hợp, cho nên trở về cùng với nhóm Vạn Chương, làm tựa Thi, Thơ, thuật ý Trọng Ni làm pho Mạnh Tử 7 thiên", như thế là theo Sử ký, quyển ấy do tự tay Mạnh Kha viết.
Triệu Kỳ, trong quyển Mạnh Tử đề từ cũng viết: "Quyển sách nầy do Mạnh Tử viết".
Diêm Nhược Cừ trong quyển Mạnh Tử sanh tốt niên nguyệt khảo có viết: "Sách Luận Ngữ do nơi môn nhơn của Khổng Tử viết, cho nên ghi dung mạo thánh nhơn rất rõ, còn 7 thiên của Mạnh Tử do tự tay ông viết ra, cho nên chỉ ghi những lời nói hay ý của mình thôi...". Như thế là họ Diêm cũng cho là tự tay Mạnh Tử đã viết ra quyển sách.
Nhưng điều nầy cũng còn có chỗ đáng nghi ngờ:
— Một là: từ thời Khổng Tử trở về sau, đệ tử gọi thầy là Tử, điều đó đã thành thói quen, sách của Chư Tử, đa số đều do học trò viết, khi ghi lời thầy thì viết: "Thầy nói..." và người đời sau khi nhắc đến một nhân vật cũng gọi là "Phu Tử v.v..." từ đời Châu Tần đã có thói quen như thế.
Nếu như tự tay Mạnh Tử viết quyển sách ấy, thì trong toàn quyển sách ấy đâu có thể viết: "Mạnh Tử nói v.v..."
— Hai là: Trong quyển sách có viết: "Khi Mạnh Tử gặp một ông vua đương thời, như Lương Huệ Vương, Tương Vương, Tề Tuyên Vương, Đằng Văn Công, Trịnh Mục Công v.v... đều nhắc tên thụy của những vì vua ấy.
Nếu quả như Mạnh Tử viết, thì nhứt định ông đâu có thể gặp những ông vua đã mất trước ông [vì tên thụy là tên truy tặng những người đã qua đời].
— Thứ ba là: trong quyển sách ghi những đệ tử của Mạnh Tử như Nhạc Chánh Tử, Công Đô Tử, Ốc Lư Tử, Mạnh Trọng Tử, trong toàn quyển sách đều ghi là Tử, như Trần Trăng, Từ Tiết, cũng gọi là Trần Tử, Từ Tử, cũng y như trong Luận Ngữ đã gọi Hữu Tử, Tăng Tử, Mẫn Tử, Nhiễm Tử v.v...
Như quả Mạnh Tử tự tay viết quyển sách, thì không bao giờ gọi đệ tử mình bằng chữ "Tử", cho nên qua những lý do kể trên chúng ta dám quả quyết 7 thiên sách ấy không phải do chính tay Mạnh Tử viết.
Luận Ngữ thì không phải do một người, mà cũng không phải do một lúc nào đó viết xong, cho nên Thượng Luận và Hạ Luận không giống nhau, còn sách Mạnh Tử thì do nhóm Công Tôn Sửu, Vạn Chương biên soạn một lượt mà hoàn thành vì thế toàn quyển sách được nhứt trí từ đầu đến cuối.
*
Pho Mạnh Tử từ trước đến nay có rất nhiều người chú thích, nhưng bản cổ nhứt hiện nay còn là bản Mạnh Tử chú của Triệu Kỳ.
Pho Mạnh Tử tập chú của Châu Tử rất gọn, rõ ràng, nghĩa ý sâu xa, cũng y như pho Luận Ngữ tập chú của ông... Châu Tử cũng còn chú thích thêm trong mấy quyển Mạnh Tử tinh nghĩa và Mạnh Tử hoặc vấn... nhưng trong quyển Mạnh Tử tập chú cũng còn những chỗ chưa được hoàn toàn.
Dưới thời nhà Thanh, Đái Chấn có quyển "Mạnh Tử tự nghĩa sớ chứng", ông không câu nệ ở nghĩa từng câu chữ, mà lại chú ý mở rộng nghĩa chánh của Mạnh Tử.
Đái Chấn đề xuất những từ ngữ trọng yếu trong pho Mạnh Tử như: Lý, Tánh, Tài, Đạo, Nhơn, Thành, Quyền... rồi từ nghĩa hẹp phát huy thêm, mỗi một từ ngữ thành một thiên để làm điểm chứng cứ giải thích.
Ông gọi "Lý" là dục vọng không được toại nguyện, cho nên nói đến "Lý" là có ẩn ý "dục" bên trong
Tống Nho có thuyết Thiên Lý và Nhơn Dục không thể song song tồn tại được, cái Lý có thuận và nghịch, tai hại có thể đi đến chỗ chết người v.v... vì thế Lương Khải Siêu mới cho Đái Chấn là người đã sáng lập môn Tình Cảm triết học để thay thế cho môn Lý học của Tống Nho. Lời phê phán của Lương Khải Siêu cũng khá đúng.
Đái Chấn đã tập trung mũi nhọn tấn công vào Tống Nho ngay chỗ Lý học, và ông thành một học giả nổi tiếng cũng nhờ biết thoát khỏi khuôn sáo cũ, không bị nô lệ từng câu chữ trong sách.
Quyển Mạnh Tử tự nghĩa đã thành một học thuyết riêng biệt của Đái Chấn, chúng ta phải xem đó là pho Mạnh Tử của riêng ông, chớ không phải đó là pho sách lột hết được ý nghĩa đứng đắn của Mạnh Tử
Khương Hữu Vi, trong quyển Mạnh Tử Vi của ông, đã mổ xẻ tỉ mỉ tất cả 7 thiên, rồi qui nạp lại thành loại, mỗi loại làm một thiên, trước trích lục nguyên văn rồi sau đó giải thích mở rộng, để phát huy chỗ tinh vi trong học thuyết Mạnh Tử.
Nghiên cứu Mạnh Tử bằng cách phân loại chương, thiên như trên, cũng là một phương pháp hay, nhưng Khương Hữu Vi rất chủ quan, có lúc ông bắt ép Mạnh Tử theo ý mình, y như ông đã làm trong hai pho sách Trung Dung Chú và Lễ Vận Chú, như thế thì pho Mạnh Tử ấy đã trở thành một pho Mạnh Tử khác, mà không còn thuần túy là học thuyết của Mạnh Tử nữa.
Đó là pho Mạnh Tử theo ý của Khương Hữu Vi.
Gần đây, ông Hạ Chấn Võ, có viết quyển Mạnh Tử giảng nghĩa, ông cũng phân loại và chú thích, rồi phát huy học thuyết, nhưng lại giữ đúng được học thuyết của Mạnh Tử, hình thức thì giống như quyển Mạnh Tử của Khương Hữu Vi, nhưng nội dung lại khác.
Ông Hạ Chấn Võ đã đúng theo đường lối của Trình Chu, tổng hợp và phát huy được tất cả tinh túy của pho Mạnh Tử nên giữ được đúng ý nghĩa của pho sách nầy.
Sách Tuân Tử
Sách Hán Chí, phần Nho gia có Tôn Khanh Tử 33 thiên, bản in ngày nay có 32 thiên, trong lời tựa Lưu Hướng có viết: "Trong khi hiệu đính, quyển Tôn Khanh thơ có đến 322 thiên, đem ra so sánh, phân tích, bỏ những chỗ trùng hết 290 thiên, còn lại 32 thiên.
Đây là quyển sách do Lưu Hướng hiệu đính, căn bản là chỉ có 32 thiên, sách Hán Chí ghi là 33 thiên là lầm lẫn với bài tựa.
Trong các sách Tùy Chí, Cựu Đường chí đều viết là Tôn Khanh Tử, trong Tân Đường chí và Tống chí thì viết Tuân Khanh Tử, còn Dương Kinh thì viết là Tuân Tử và được dùng luôn cho đến ngày nay.
Các thiên trong sách Tuân Tử, trước kia như thế nào, bây giờ không còn tài liệu nào để tham khảo, thứ tự sắp xếp thiên của Lưu Hướng, so với Dương Kinh thì đại đồng tiểu dị...
Như thiên đầu trong sách Tuân Tử là Khuyến Học, thiên chót là Nghiêu Vấn, thì phỏng theo Luận Ngữ với thiên đầu Học Nhi, và kết với thiên Nghiêu Viết.
Dương Kinh đã sửa đổi trật tự, sắp thiên Nghiêu Vấn để kết thúc quyển sách, còn của Lưu Hướng thì sau thiên Nghiêu Vấn lại còn hai thiên Quân Tử và Phú Thiên.
Tiêu đề các thiên trong Tuân Tử đa số đều có ý nghĩa, và đại đa số các thiên đều là những bài nghị luận dài, khác hẳn với tính chất của Luận Ngữ, vì Luận Ngữ là tác phẩm của thời kỳ đầu Chiến Quốc còn Tuân Tử thì viết vào cuối thời Chiến Quốc.
Sau đây là 32 thiên của sách Tuân Tử, trật tự sắp theo Lưu Hướng: Khuyến Học, Tu Thân, Bất Câu, Vinh Nhục, Phi Tướng, Phi Thập Nhị Tử, Trọng Ni, Thành Tương, Nho Hiệu, Vương Chế, Phú Quốc, Vương Bá, Quân Đạo, Thần Đạo, Tứ Sĩ, Nghị Binh, Cường Quốc, Thiên Luận, Chánh Luận, Nhạc Luận, Giải tế, Chánh Danh, Lễ Luận, Hựu Tọa, Tử Đạo, Tánh Ác, Pháp Hành, Ai Công, Đại Lược, Nghiêu Vấn, Quân Tử, Phú Thiên.
Thành Tương và Phú Thiên là mấy bài phú của Tuân Tử, cho nên văn thể khác hẳn với mấy thiên trên. Phần "Thi phú lược" trong Hán Chí, có ghi Tôn Khanh phú 10 thiên, trong Phú Thiên ngày nay có 5 bài phú: Lễ, Trí, Vân, Tâm, Châm... lại có Quí thị, cọng 6 thiên.
Trong Thi phú lược phần tạp phú có Thành Tương tạp từ 11 thiên, như thế Thành Tương trước kia là phú vậy.
Sách Hán Chí chép Tôn Khanh Tử 32 thiên, tuy có Phú Thiên lại có Thành Tương, và Thi phú lược cũng có phần Tôn Khanh phú 11 thiên, đó là cách sắp xếp theo thể tài riêng của mỗi người.
Hai thiên Thành Tương và Phú Thiên khác hẳn với thể tài các thiên trên, nếu sắp vào phần chót của quyển sách cũng là điều hợp lý.
Quyển Tuân Tử chú của Dương Kinh đời Đường, đến ngày nay vẫn còn, đó là quyển Tuân Tử xưa nhứt, lời chú cũng khá rành rẽ, nhưng cũng còn khuyết điểm, là có những chỗ còn mập mờ.
Dưới thời nhà Thanh, Vương Tiên Khiêm có viết quyển Tuân Tử tập giải, gom góp được tất cả những lời chú thích của người đời trước, và sau cùng phụ thêm ý của mình, đó là pho Tuân Tử đầy đủ và dễ hiểu nhứt hiện nay.