Kẻ cuồng nước Sở đi về phía xe Khổng Tử, ca mà đi ngang qua nói rằng:
- Phượng ơi! Phượng ơi! Đức tại sao lại suy như vậy? Chuyện đã qua không thể hối được, chuyện đến không thể biết được...
Thôi rồi... thôi rồi... Bây giờ mà còn đi theo việc chánh là đã trễ rồi vậy.
Khổng Tử xuống xe, muốn tiếp chuyện, người ấy rảo bước mà đi, không thể cùng nói được.
(Chuyện nầy trong thiên Vi Tử sách Luận Ngữcó chép. Chữ "tiếp dư "trong sách không phải là tên người, đó là người cuồng nước Sở, đi về phía xe của Khổng Tử.
Khổng Tử nghe thấy xuống xe muốn tiếp chuyện, nhưng người ấy bỏ đi như muốn lẩn tránh... Mới gặp nhau, thì làm sao biết được tên họ.
Hành động của người lạ ấy rất ngông, nên mới gọi là cuồng, đó là kẻ ẩn sĩ, giống như những người vác giỏ, bừa cào, lội nước đã kể ở trên...)
Khổng Tử liền (từ nước Sở) trở lại nước Vệ, năm ấy ông 63 tuổi, nhằm năm thứ 6 đời Lỗ Ai Công.
Năm sau, Ngô và Lỗ, hội nhau ở đất Cối, trưng bày trăm cổ, quan Thái tể triệu Quí Khương Tử, Quí Khương Tử khiến Tử Cống đến mà sau đó việc mới xuôi.
*
Khổng Tử nói:
- Việc chánh của Lỗ. Vệ là anh em vậy.
Lúc đó, vua nước Vệ là phụ thân của Triếp, không được lập lên ngôi, đang ở nước ngoài, chư hầu nghĩ rằng ông nhường ngôi.
Đa số đệ tử của Khổng Tử đều làm quan ở nước Vệ.
Vua Vệ muốn được Khổng Tử làm việc chánh.
Tử Lộ hỏi:
- Vua Vệ mời thầy làm việc chánh, thầy sẽ làm gì trước?
Khổng Tử đáp:
- Trước hết là phải chánh danh vậy.
Tử Lộ nói:
- Tại sao lại có chuyện đó? Thầy thật là lẩn quẩn... Tại sao lại phải chánh danh?
Khổng Tử đáp:
- Do ơi! Ngươi thật là quê mùa! Danh không chánh thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì sự không thành... thì lễ nhạc không hưng được, thì hình phạt không trúng, hình phạt không trúng, thì dân sẽ lúng túng không biết phải hành động ra sao...
Là người quân tử, việc làm phải danh chánh, hễ nói là làm được, người quân tử đối với lời nói của mình, không thể có chỗ xem thường được!
*
Năm sau, Nhiễm Hữu làm tướng soái cho Quí thị đánh với Tề ở đất Lang, thắng Tề.
Quí Khương Tử nói:
- Nhà thầy đối với việc quân lữ, học mà có, hay là do tánh sẵn có.
Nhiễm Hữu đáp:
- Tôi học với Khổng Tử.
Quí Khương Tử nói:
- Khổng Tử là người như thế nào?
Đáp:
- Dùng người ấy thì có danh, truyền đạo người ấy ra bách tánh, đối với quỉ thần thì không có điều gì sơ sót. Nếu cần đến đạo ấy, thì dù cho có đông đến ngàn xã (ngày xưa cứ 25 nhà gọi là một xã) thì không đâu là không thông suốt.
Khương Tử hỏi:
- Ta muốn triệu ông ấy, có thể được không?
Đáp:
- Như muốn triệu ông thì không nên dùng mực thước của tiểu nhơn, thì có thể được.
Lúc đó Khổng Văn Tử nước Vệ sắp đánh Thái Thúc, hỏi sách lược với Trọng ni.
Trọng Ni tìm cách từ chối, bảo là không biết, rồi rút lui ra đi.
Ông nói:
- Chim có thể chọn cây, cây có thể chọn chim được chăng?
Văn Tử cố giữ, gặp lúc Quí Khương Tử đuổi Công Hoa, Công Tân, và Công Lâm, rồi dùng lễ rước Khổng Tử.
Khổng Tử liền về nước Lỗ.
Khổng Tử bỏ nước Lỗ ra đi, tính có đến 14 năm, sau đó mới trở về.
*
Lỗ Ai Công hỏi việc chánh.
Đáp:
- Việc chánh ở chỗ bọn bầy tôi...
Quí Khương Tử hỏi việc chánh.
Khổng Tử đáp:
- Nên ngay thẳng, chỉ cái sai của tà vạy, thì tà vạy trở nên ngay thẳng.
Quí Khương Tử lo ngại về việc trộm cắp.
Khổng Tử nói:
- Nếu không có lòng tham, thì dù cho có thưởng, cũng không ai chịu ăn trộm.
Nhưng Lỗ cũng vẫn không dùng được Khổng Tử, và Khổng Tử cũng không muốn làm quan.
Dưới thời Khổng Tử, nhà Châu suy vi, lễ nhạc bị phế, thi thơ thiếu. Tìm theo dấu lễ của Tam Đại (làm lời tựa cho Kinh Thơ, bắt đầu từ đời Đường Ngu, đi đến thời Tần Mục... biên việc có thứ lớp).
Khổng Tử nói:
- Lễ nhà Hạ, ta có thể nói được. Nhưng nước Kỷ, không còn đủ bằng chứng... Lễ nhà Ân ta có thể nói được, nhưng nước Tống không còn đủ bằng chứng.
Nếu có đủ, thì ta có thể nêu ra làm bằng chứng.
Xem xét cái hay cái dở của nhà Hạ, nhà Ân, Khổng Tử nói:
- Đời sau, tuy cả 100 đời, cũng còn có thể biết được... Một là cái văn vẻ, còn một là cái chất...
Nhà Châu xem xét 2 đời trước, nên văn vẻ sáng rỡ, ta theo nhà Châu.
Làm lời tựa Kinh Thơ, trước bắt đầu từ thời Đường Ngu, biên chép việc có thứ lớp, cho nên Kinh Thơ và Lễ ký từ Khổng thị mà ra.
(Đoạn nầy viết về chuyện Khổng Tử định kinh Lễ, biên kinh Thơ, nhưng có sự lầm lẫn về trật tự, theo sách Sử ký thám nguyên thì trước hết là định kinh Lễ rồi sau đó mới là biên kinh Thơ.
Theo Tưởng Bá Tiềm thì cuốn kinh Lễ của Khổng Tử san định tức là cuốn Sĩ Lễ gồm 17 thiên, ngày nay gọi là Nghi Lễ... còn cuốn kinh Thơ do Khổng Tử biên soạn tức là quyển Thượng Thơ gồm 28 thiên.)
Khổng Tử nói với Lỗ Thái Sư:
- "Về Nhạc, có thể biết được... mới bắt đầu thì nhịp nhàng, rồi mở rộng ra, thì thuần, kích động và êm ả mà thành.
Ta từ Vệ trở về Lỗ mà sau đó nhạc mới chánh, phần Nhã và Tụng trong kinh Thi được sắp xếp đúng chỗ."
Thời xưa, kinh Thi có hơn 3000 thiên, cho đến Khổng Tử, bỏ những chỗ nặng nề, lấy chỗ có thể dùng vào việc Lễ, Nghĩa; trên thì chọn ông Triết, Hậu Tắc, phần giữa thuật cái thạnh của thời Ân Chu, đến cái thiếu sót của thời U, Lệ...
Bắt đầu từ phong tục cho nên mới nói: "Cái rối loạn của chương Quan, Thư bắt đầu từ phần Phong, và chương Lộc, Minh là bắt đầu do thiên Tiểu Nhã... Chương Văn Vương bắt đầu cho thiên Đại Nhã, chương Thanh miếu là bắt đầu cho phần Tụng.
Khổng Tử đều phổ vào lời ca nhạc để hợp với nhạc Thiều võ và Nhã Tụng, Lễ, Nhạc từ đó mà được truyền thuật (để cho đầy đủ với Vương đạo, thành Lục Nghệ).
(Đoạn nầy trình bày Khổng Tử chánh Nhạc, chánhThi, câu gần chót: "Lễ, Nhạc từ đó mà được truyền thuật.." là kết đoạn trên nói về phần Thi, Thơ, Lễ, Nhạc, chưa đề cập đến kinh Dịch và Xuân Thu cho nên câu "để cho đầy đủ với Vương đạo, thành Lục nghệ" phải dời ra phần sau cho hợp lý).
Khổng Tử trở về già, thích kinh Dịch, làm tựa cho Thoán, Hệ, Tượng, Thiết quái, Văn ngôn.
Ông đọc kinh Dịch bìa da 3 lần đứt.
Ông nói:
- Như cho ta sống thêm được vài năm nữa, thì sẽ khá sáng tỏ về kinh Dịch.
(Theo sách "Sử Ký thám nguyên" thì đoạn nầy nên dời lại ở sau phần kế đây, để trên phần nói về sách "Xuân Thu" mới hợp lý, là vì việc đọc kinh Dịch và viết Xuân Thu là những việc làm vào lúc vãn niên của Khổng Tử, hơn nữa ông cũng không đem kinh Dịch và Xuân Thu dạy đệ tử.
Nếu dời đoạn trên đây ra phần sau, thì đoạn trên nói về việc định kinh Thơ, kinh Lễ, chánh kinh Thi, kinh Nhạc, sẽ liền với đoạn kế sau đây nói về việc Khổng Tử dùng Thi, Thơ, Lễ, Nhạc dạy học trò như thế ý văn sẽ liền lạc nhau.)
Khổng Tử dùng Thi, Thơ, Lễ, Nhạc dạy học trò đến 3000 (người thông lục nghệ có đến số 72) như trong số Nhan Thục Trâu đến thọ nghiệp rất đông.
Khổng Tử dạy 4 điều: Văn, Hạnh, Trung, Tín (cấm 4 điều: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã, chỗ ông cẩn thận là: việc chay lạt, chiến tranh, và tật bịnh...
Phu Tử ít nói về chuyện lợi, chuyện mạng và chuyện nhơn).
Những người không phẫn chí, không mở mang, nói một mà không hiểu ba, thì không trở đi trở lại dạy nữa.
(Đoạn nầy nói về việc Khổng Tử dạy đệ tử. Sách Trọng Ni đệ tử truyện có viết: "Kẻ học mà thông được là 77 người, trong sách cũng có ghi 77 học trò ấy."
Sách "Gia Ngữ đệ tử giải" cũng có ghi 77 tên học trò nhưng lại khác với sách kể trên.
Trong bức họa Gia miếu của Văn ông thì lại vẽ số học trò là 72 (thất thập nhị hiền).
Cao đệ của Khổng Tử, tương truyền là có hơn 70 người, nhưng con số chính xác thì mỗi thuyết đều khác nhau.
Trong phần trên có viết rõ ràng: "Dùng Thi, Thơ, Lễ, Nhạc dạy học trò" thì là chưa dạy đến kinh Dịch và Xuân Thu.
Tán kinh Dịch, sửa chữa kinh Xuân Thu, đều là những việc làm trong những năm cuối cùng của đời Khổng Tử, thì ông đâu có thể dùng 2 quyển sách ấy để dạy học trò được?
Các Hán Nho cho rằng: "Kiêm thông lục nghệ" là một điều quí, thế nên mới viết như vậy...
Vì đây là một điều không có thật nên câu "thân thông lục nghệ, có 72 người" nên lược bỏ cho đúng.
Câu "cấm 4 điều... lợi, mạng và nhơn" câu nầy không phải là giáo điều để dạy đệ tử, và đoạn nầy cũng không cùng loại với các đoạn văn trên dưới, nên dời ra phía sau, dưới đoạn "thầy không nói..." cho hợp lý.
Ba ngàn học trò, 3000 là hư số để nói lên số học trò rất đông của Khổng Tử, không phải là số chính xác.
Chữ "thọ nghiệp" là nói số học trò đến học mà không có viết sách như Mạnh Ý Tử v.v...
Thi, Thơ, Lễ Nhạc, là tài liệu dùng dể dạy học, Văn, Hạnh, Trung, Tín là đường lối, là nội dung của việc dạy học.
Văn là văn chương, có trong Thi, Thơ, hạnh là hành vi, phẩm hạnh, Lễ dùng để huấn luyện hành vi, phẩm hạnh... Trung tín là đức tính cần thiết. Nhạc để đào luyện tánh tình, cho nên Lễ và Nhạc phải đi đôi.
Không phẫn chí học tập, không tiến bộ mở mang, là nói thiếu ý chí học tập.
Nói một mà không biết ba là nói người không chịu khó suy nghĩ, đó là nói về phương pháp dạy và học tập.)
*
Khổng Tử ở chốn Hương đảng, dường như không nói được gì, ở Tôn miếu, Triều đình, lời biện luận rất cẩn thận, khi đàm luận với Thượng Đại phu thì khảng khái rõ ràng, khi bàn với Hạ Đại phu thì thẳng thắn... vào chốn công môn thì cúc cung, bước tới rất ngay ngắn, chỉnh tề, vua gọi đến giúp lễ thì sắc nghiêm trang.
Vua có lịnh gọi, chẳng đợi gác xe mà đi liền.
Cá ươn, thịt hư, cắt không ngay không ăn, chiếu không ngay không ngồi, ăn gần kẻ có tang không bao giờ ăn no, đó là ngày buồn thì không ca hát.
Gặp kẻ có tang, tàn tật, dù là trẻ con, cũng nghiêm sắc mặt (ba người cùng đi, tất có kẻ đáng là thầy ta) [đức mà chẳng trau dồi, học mà không thông, nghe điều nghĩa mà không sửa đổi được đó là điều lo của ta].
Bảo người xướng ca, nếu hay, thì bảo hát lại và sau họa theo. Phu Tử không nói về chuyện quái dị, sức mạnh, điều loạn và chuyện quỉ thần, cấm 4 điều: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã...
Phu Tử ít nói về chuyện lợi, chuyện mạng, và chuyện nhơn.
(Đoạn nầy nói về thái độ, tư cách của Khổng Tử, khi ở triều đình, hương lý, và cách đối xử với người, trau dồi ngôn hạnh của ông... Đoạn nầy đều có chép trong sách Luận Ngữ.
Đoạn "cấm 4 điều..." sắp ở đây hợp lý hơn, nên dời từ đoạn trước đến đây.)
Tử Cống nói:
- Cái văn chương của Phu Tử, có thể nghe, học được, còn lời nói về tánh và Thiên đạo thì không thể nghe và học được.
Nhan Uyên thở ra than rằng:
- Ngửng lên nhìn thì thấy rất cao... xoi vào thì thấy rất cứng, nhìn thì thấy trước mặt, rồi bỗng nhiên lại ở phía sau... Phu Tử tuần tự mà dạy người, dùng văn mở mang cho chúng ta, dùng lễ đề kiềm chế chúng ta, muốn nghỉ cũng không được... đã dùng hết tài lực mình, dù cho được chỗ xuất sắc, mà muốn theo ông, cũng không biết phải theo từ đâu...
*
Đạt hạng đảng nhơn nói:
- Vĩ đại thay Khổng Tử... Bác học mà không thành danh ở chỗ nào cả.
Khổng Tử nghe mới nói rằng:
- Ta làm nghề gì bây giờ? Đánh xe chăng? Bắn cung chăng?
Lao nói rằng:
- Khổng Tử có nói: Ta không làm thử cho nên không có nghề.
Đoạn nầy ghi lời người đương thời thán dương Khổng Tử).