Sách Đạo gia bây giờ còn lại rất nhiều, nhưng sách nên đọc ngoài Lão Tử, Trang Tử, thì chỉ có Quản Tử. Còn như sách Thái Công không phải là loại sách dưới thời Châu Tần, đọc cũng không có ích lợi gì bao nhiêu.
Các nhà học giả, đề cập đến phái Đạo gia, thường thường chỉ nhắc đến Lão Tử, Trang Tử và Quản Tử, Lão Trang, đoạn trước đã lược qua, bây giờ xin tìm hiểu đến sách Quản Tử.
*
Sách Hán Chí, phần Đạo gia có Quản Tử 86 thiên, với lời chú: Tên Di Ngô, làm tướng cho Hoàn Công, 9 lần hợp chư hầu, không dùng đến binh xa, có Liệt truyện trong Sử ký.
Bản Quản Tử hiện nay, phía trước có phần Tự Lục của Lưu Hướng viết: Khi hiệu đính sách Quản Tử, có 389 thiên, sách Đại trung, đại phu Bốc Khuê 27 thiên, sách của Phú Tham 41 thiên, sách của Tạ Trung Hiệu Úy Lập 11 thiên, sách của Thái sử 96 thiên, tất cả sách trong ngoài là 564 thiên.
Sau khi hiệu đính, bớt những phần trùng 484 thiên, định còn lại 86 thiên, như thế là bản hiệu đính của Lưu Hướng có 86 thiên.
Trong sách Sử ký, chép Quản Án liệt truyện có viết: "Quản Tử đã bị mất 10 thiên, 10 thiên đó là Mưu thất, Chánh ngôn, Phong thiện, Ngôn chiếu, Tu thân, Vấn bá, Mục dân giải, Vấn thừa mã, Khinh trọng (bính), Khinh trọng (canh).
Nghiêm Khả Quân trong quyển Thiết kiều mạn cảo cũng có viết: Dưới thời Lương, Tùy đã mất 10 thiên. Dưới thời nhà Tống lại mất thêm Vương Ngôn, cho nên bản Quản Tử ngày nay, 11 thiên ấy có tên mà không có bài.
Trong sách Tứ khố toàn thơ có ghi: Quản Tử 24 quyển, 86 thiên, trong phần Pháp gia tức là bổn Quản Tử còn hiện nay.
24 quyển với các thiên chép ra sau:
Quyển 1:các thiên: Mục dân, Hình thế, Quyền tu, Lập chánh, Thừa mã.
Quyển 2:Thất pháp, Bản pháp.
Quyển 3:Ấu quan, Ấu quan đồ, Ngũ phụ.
Quyển 4:Trụ hợp, Xu ngôn.
Quyển 5:Bát quang, Pháp cấm, Trọng lịnh.
Quyển 6:Pháp pháp, Binh pháp.
Quyển 7:Đại khuôn.
Quyển 8:Trung khuôn, Tiểu khuôn, Vương ngôn.
Quyển 9:Bá linh, Bá ngôn, Vấn, Mưu thất.
Quyển 10:Giới, Địa đồ, Tham hoạn, Chế phân, Quân thần [thượng].
Quyển 11:Quân thần [hạ], Tiểu xưng, Tứ xưng, Chánh ngôn.
Quyển 12:Xí mị.
Quyển 13:Tâm thuật [thượng], Tâm thuật [hạ], Bạch tâm.
Quyển 14:Thủy địa, Tứ thời, Ngũ hành.
Quyển 15:Thế, Chánh, Cửu biến, Nhiệm tánh, Minh pháp, Chánh thế, Trị quốc.
Quyển 16:Nội nghiệp, Phong thiện, Tiểu vấn.
Quyển 17:Thất thần, Thất chủ, Cấm tàng.
Quyển 18:Nhơn quốc, Cửu thủ, Hoàn công Vấn, Đạt địa.
Quyển 19: Địa viên, Đệ tử chức, Ngôn chiếu, Tu thân, Vấn bá, Mục dân giải.
Quyển 20:Hình thế giải.
Quyển 21:Lập chánh cửu bại giải, Bản pháp giải, Minh pháp giải, Mục thừa mã, Thừa mã số, Vấn thừa mã.
Quyển 22:Sự ngữ, Hải vương, Quốc súc, Sơn quốc quỷ, Sơn quyền số, Sơn chí số.
Quyển 23:Địa số, Quì độ, Quốc chuẩn, Khinh trọng [giáp]
Quyển 24:Khinh trọng [ất], Khinh trọng [binh], Khinh trọng [đinh], Khinh trọng [mậu], Khinh trọng [kỷ], Khinh trọng [canh].
Trở lên tất cả 86 thiên, trừ 11 thiên bị mất, chỉ còn 75 thiên.
*
Quản Trọng làm tướng cho Hoàn Công, làm Bá chư hầu, công nghiệp thật to lớn, còn hơn cả Án Anh, người nước Tề khen ông ngợi ông mãi mãi... cho nên quyển sách của ông như quyển Án Tử là chỉ do người đời sau gom góp lại mà thành, và quyển sách ra đời rất xa thời Chiến Quốc trở về sau.
Quản Trọng mất trước vua Hoàn Công, mà trong sách nhắc đến Hoàn Công, chỉ dùng tên thụy, trong thiên Tiểu Vấn, nhắc chuyện Tần Mục Công phong tướng Bá Lý Hề cũng cách sau Hoàn Công rất xa.
Thiên Tiểu xưng khen Mao Tường, Tây Thi, là mỹ nhân trong thiên hạ cũng là người cuối đời Xuân Thu. Thiên Khinh trọng [giáp] nhắc nước Lương, nước Triệu; thiên "tuất" thì nhắc đến Triệu Đại, như thế pho sách chẳng những ra đời sau khi Tam gia phân chia nước Tấn, mà cũng sau thời gian nước Ngụy dời qua Đại Lương, và sau khi nước Triệu đến đời Đại Vương.
Quyển Quản Tử do người đời sau gom góp, nhưng lần lần lại có người thêm vào, cho nên nội dung không thuần nhứt, như các thiên Tâm thuật, Bạch tâm, đó là học thuyết của phái Đạo gia.
Các thiên Thất pháp, Pháp pháp, Minh pháp, Nhiệm pháp, đó là học thuyết của Pháp gia. Thiên Khinh trọng là nói về vấn đề lý tài [kho đụn đầy, thì biết lễ tiết, cơm áо đủ thì biết vinh nhục]. Còn câu: "Lễ nghĩa liêm sỉ, là 4 giềng mối của nước, giềng mối không mở mang thì nước diệt vong" đó là học thuyết của Nho gia.
Các thiên Giới, Vấn, đâu là những lời đối đáp và tâu với vua, xem qua các chứng cứ kể trên chúng ta thấy rõ quyển sách không phải do chính Quản Tử viết ra, mà do nhiều người, nhiều lần, gom góp lại mà thành.
*
Về bản chú thích sách Quản Tử, bản xưa nhứt là của Phòng huyền Linh đời Đường, nhưng Triệu công Võ lại cho rằng đó là của Doãn tri Chương soạn nhưng lại đặt tên Phòng huyền Linh lên trên.
Theo sách Tân Đường chí thì Phòng huyền Lình không có bản chú thích Quản Tử chỉ có bản chú của Doãn tri Chương mà thói, cho nên trong Tư khố thơ mục đề yếu nghi người đời sau nhơn Doãn tri Chương là người không nổi tiếng cho nên đổi tên là Phòng huyền Linh để nhờ tiếng tăm.
Lời chú nầy nông cạn, nhiều chỗ sai lầm, xem không có lợi ích gì.
Dưới thời nhà Minh có Quản Tử bổ chú của Lưu Tích khá hơn. Dưới thời nhà Thanh có bản Quản Tử nghĩa chứng của Hồng Di Tuyên, bản Quản Tử hiệu đính của Đái Vọng, tất cả đều là những bản có giá trị.
*
Trong sách Tử Lược, Cao Tợ Tôn có viết: "Sách của Chư Tử bắt đầu từ Bật Hùng, trong sách "Chư Tử biện", Tống Liêm cũng viết: "Bật Tử là pho sách đầu của Chư Tử".
Xét theo Hán chí, có ghi chép những sách của Đạo gia, trước Quản Tử có Y Doãn, Tân Giáp, Thái Công, Bật Nhiên, Cao Tống, như thế thì thuyết của 2 người kề trên đã sai.
Hiện nay sách của Y Doãn, Tân Giáp đã mất, còn sách của Thái Công, Bật Nhiên cho đến bây giờ vẫn còn.
Thái Công và Bật Nhiên là người đồng thời nhưng tuổi tác lại cách biệt nhau nhiều.
Sau đây là phần lược khảo về tác phẩm của 2 người.
Sách Thái Công
Sách Hán chí, phần Đạo gia, có sách Thái Công 237 thiên, phần Mưu có 81 thiên, Ngôn 71 thiên, Binh 85 thiên, lời chú như sau: Lã Vọng làm chức Thượng phu, cầm binh nhà Châu, người gốc có Đạo, hoặc gần đây, có kẻ làm Thái Công Thuật để thêm vào quyển sách...
Tiền Đại Chiêu có viết: "Mưu, Ngôn, Binh là tóm ý trong 237 thiên sách và cũng như là tổng danh của quyển sách".
Trầm Khâm Hàn cũng có viết: "Mưu, tức là "Mưu lược" của Thái Công, Ngôn, tức là Kim quỉ của Thái Công, lời hay ghi lên bảng vàng, Binh tức Thái Công binh pháp".
Trong Chiến Quốc sách, thiên Tần sách có viết: "Tô Tần, ban đêm dở sách, tìm được mưu Âm phù của Thái Công".
Sách Quần thơ tự yếu, sau phần Lục thao, có chép mấy việc về mưu lược của Thái Công, đó tức là "Mưu" trong 237 thiên của sách Thái Công.
Sách Sử ký, phần Tề thế gia viết: "Văn Vương với Lữ Thượng bàn mưu, tu đức để lật đổ nền chánh trị nhà Thương, dùng binh quyền và những kế kỳ lạ... đời sau nói về việc binh và mưu chước của nhà Châu, đều tôn Thái Công".
Nhà Châu, từ đời Thái Vương đã bắt đầu đánh nhà Thương, Thái Công giúp Văn Vương, Võ Vương hoàn thành việc phạt Trụ thay thế công nghiệp nhà Thương, những lời trần thuyết của ông gọi là "Ngôn", những sách lược kế hoạch đặt ra gọi là "Mưu", lúc đi phạt Trụ, hành quân gọi là "Binh".
Những lời nói hay ghi lên bảng vàng, pháp binh thì Sử quan ghi, như thế là lúc đó những ngôn ngữ, sắc lịnh, hành động đã được ghi, rồi thành ra Quan thơ, và đó cũng là sử liệu.
Công nghiệp của Thái Công với nhà Châu thật là to lớn, và hậu thế còn nhắc mãi. Kẻ sĩ thời Chiến Quốc, thích mượn danh người xưa trong những học thuyết mới định cải tạo chế độ, vì thế kẻ háo sự mới gom góp những tài liệu truyền thuyết, những lời nói của Thái Công, rồi lại thêm vào những quyển mưu của Tô Tần, Trương Nghi, những loại lập luận như Tôn Ngô binh pháp để thêm vô cho thành 237 thiên sách như ngày nay.
Thế nên sách Thái Công là sách của hậu thế viết ra mượn danh ông, chớ đó không phải là tác phẩm của thời Châu sơ, và nhứt là không phải chính do Thái Công đã viết ra.
Sách Tùy Chí có Thái Công Âm mưu 1 quyển, Thái Công Âm phù kiềm lục 1 quyển, Thái Công Phục phù Âm dương 1 quyển.
Sách Cựu Đường chí có Thái Công Âm mưu 3 quyển, Thái Công Âm mưu tam thập lục dụng 1 quyển, đó là những sách thuộc về loại "Mưu".
Sách Tùy chí có Thái Công kim quỷ 2 quyển, còn Cựu Đường chí thì lại ghi 3 quyển, đó là thuộc loại "Ngôn".
Sách Tùy chí Thái Công binh pháp 2 quyển, đó thuộc về loại "Binh".
Như thế là từ đời nhà Đường đến lúc Tống sơ, sách của Thái Công còn lưu truyền.
Sách Thông khảo chỉ chép có quyển Lục thao, trong Tứ khố toàn thơ cũng có quyển sách nầy. Trong phần Binh gia, hiện nay còn quyển Lục thao, tức là Văn thao, Võ thao, Hổ thao, Báo thao, Long thao và Khuyển thao.
Theo bản sách ngày nay thì Long thao được sắp trước Hổ Thao, dường như trong sách Thái Công 237 thiên, phần Binh là 1 bộ phận gồm 85 thiên.
Sách Thông khảo có ghi sách "Cải chánh Lục thao" gồm 4 quyển đó là bổn sách san định dưới đời Tống Ngươn Phong. Bổn Lục thao hiện nay còn, trong có phần Tị Chánh điện v.v...
Sách Lục thao, đọc qua đã thấy rõ là giọng văn của thời Tần Hán, vì dưới thời Thái Công, thuộc nhà Châu, chưa có giọng văn tiến bộ như thế.
Sách Lục thao, thiên Âm phù có viết: "Chủ và tướng có Âm phù, phàm có 8 đẳng: Phù khắc địch dài 1 thước, phù phá quân dài 9 tấc, phù thất lợi dài 3 tấc mà thôi v.v..." như thế là lầm lẫn Âm phù với cờ phù tiết, bùa chú, thật đáng buồn cười.
Sách Châu thị thiệp bút có viết: "Quyển sách bắt nguồn từ Ngô Khởi, góp nhặt những lời của người xưa rồi thêm vào những lý luận quân sự, chánh trị của thời nay, thật là nông cạn không có chỗ nào dùng được cả..."
Tóm lại, sách Lục thao nội dung nông cạn, lời lẽ quê mùa, rõ ràng là pho ngụy thơ, chẳng những không phải của Thái Công viết, mà cũng không phải của người có học thời Tần Hán viết ra mượn tên người xưa để luận về việc binh, mà đó chỉ là một pho sách tạp nhạp, đọc không có ích gì cả.
Sách Bật Tử
Sách Hán chí phần Đạo gia, có Bật Tử 22 thiên, với lời chú: Ông tên Hùng, làm sư phó cho nhà Châu, từ Văn Vương trở xuống, ai ai cũng học.
Nhà Châu phong làm tổ nước Sở. Huân nghiệp của Bật Hùng không bằng Thái Công, và đó là một danh thần thời Châu sơ, thì tất nhiên sách của ông cũng do kẻ háo sự thời Chiến Quốc gom góp thêm bớt mà ra, y như quyển sách Thái Công còn cho đến ngày nay, và cũng không phải là quyển sách trong Hán chí đã ghi, nhứt là nhận xét về lời văn và cách lập luận, thấy rõ ràng không phải thuộc thời Châu Tần mà là thời Chiến Quốc trở về sau, vì thế nên nhiều nhà học giả đã đồng ý đó là pho sách ngụy tạo do người thời Lục triều viết ra, còn pho sách trong Hán chí có ghi thì đã bị mất từ lâu.