Trong thiên Thiên hạ, Trang Tử đã phê bình học thuyết của Chư Tử, nhưng trừ Quan Doãn, Lão Đam và Trang Chu, vì đó là người của môn phái mình.
Trang Tử đã nói mỗi phái đều có sở trường và sở đoản. Ông phê phán Mặc Địch và Cầm hoạt Ly là học theo Đạo thuật đời xưa mà "không xa xí cho người đời sau, không khuất phục vạn vật, sống theo mẫu mực để chuẩn bị cho những cơn đói rét, thiếu thốn". Đó là chỗ đáng khen.
Nhưng Mặc Tử đã thái quá, chí nhục, quá tiết kiệm, bỏ cả lễ nhạc thời xưa, lúc sống không ca hát, lúc chết không tang phục, tẩm liệm không quách mà chỉ có quan, bắt người phải theo như thế, e rằng chẳng biết thương người, mà chính mình cũng làm như thế là chẳng biết thương mình.
Khi còn sống cần cù làm việc, đến lúc chết tang lễ sơ sài, như thế làm cho người lo lắng, buồn rầu, cái hạnh như thế rất khó làm theo, e rằng không thể làm cái đạo của bực thánh nhân được.
Trái với lòng thiên hạ, thiên hạ không chịu đựng được, tuy một mình Mặc Tử có thể làm được việc đó, nhưng còn thiên hạ thì sao? Đã xa rời thiên hạ thì làm sao đến bực vương giả cho được? Thế nên ý của Mặc Địch và Cầm hoạt Ly thật là đúng, nhưng đến việc làm thì lại sai.
Giả sử như môn đệ của Mặc Tử áp dụng đúng chủ trương chịu đựng gian khổ như thế, thì sẽ gây ra rối loạn v.v... Đó là lời phê bình của Trang Tử đối với Mặc gia.
Nhưng rồi ông lại viết tiếp: "Tuy nhiên, dù sao Mặc Tử cũng là người tốt trong thiên hạ, tìm được một người như thế không phải dễ. Chịu đựng được gian khổ, đó mới đúng là bực sĩ phu!
Người có tinh thần như thế, thật khó mà theo kịp".
Phê bình Tống Hình và Doãn Văn, Trang Tử lại viết: "Truyền bá đạo thuật thời xưa mà không tục, không bị dính líu với hình thức bên ngoài, không gượng ép người, muốn cho thiên hạ bình yên, người và ta đều trọn vẹn".
Trang Tử đã khen hai người kể trên: Hai người sừng sững như Họa sơn và người đầu tiên tiếp và dưỡng nuôi vạn vật, làm cho lòng người sáng tỏ.
Thi hành đúng với cái tâm, để điều hòa khắp nước, xứng đáng làm chủ trong thiên hạ. Được như thế thì cứu dân khỏi cảnh xung đột, ngăn chỉ việc đao binh, cứu đời khỏi vòng chinh chiến. Nếu thuyết ấy được lan khắp thiên hạ, thì trên vui mà dưới được thuận thảo. Nhưng chỗ sở đoản là làm cho người quá nhiều, còn làm cho mình thì quá ít, nhưng cũng có thể nói đó là bực sĩ phu cứu đời.
Bình luận về Bành Mông, Điền Biền và Thận Đáo, Trang Tử viết: "Phổ biến đạo thuật đời xưa, công bình mà không thiên vị, không tự tư, tự lợi, không tính toán, không phân biệt".
Trang Tử đã khen những người trên: "Biết cái giá trị của vạn vật, biết vạn vật chỗ nào được, chỗ nào không, khoáng đạt, bỏ cá nhân mình... đứng lên bên trên thị phi, không quá tính toán, không quá dè dặt, suy nghĩ rồi hành động, việc gì cũng khiêm nhượng sau người, cho đến mức như là vô tri. Đó là đạt đến chỗ gọi là "Đạo" mà như chẳng phải "Đạo" (tự nhiên không gượng ép) có khi lời nói như là không đúng, như là không biết, nhưng thật ra là người hiểu biết."
Phê phán Huệ Thi, Trang Tử cho rằng: "Sách ông có đến 5 xe, đạo ông nghịch thường, lời ông không đúng."
Huệ Thi chỉ biết biện luận với người suốt ngày, là một người kỳ quái trong các biện sĩ trong thiên hạ.
Huệ Thi nói khắp cả vạn vật, nói mãi không thôi, nói nhiều không ngừng, mà cũng còn cho là ít, muốn có danh hơn người, vì thế mà không thích hợp với người.
Từ cái đạo của trời đất mà xem tài của Huệ Thi thì thấy nhỏ như muỗi, ruồi vậy.
Rất tiếc cho cái tài của Huệ Thi, cứ chạy mãi mà chẳng đến đâu, ảnh ngã phía trước, hình đuổi phía sau, mà chẳng bao giờ đến cả.
Trở lên, Trang Tử phê phán 6 Chư Tử, ai ai cũng có khuyết điểm, nhưng về Quan Doãn và Lão Đam thì không có lời gì phê phán khuyết điểm mà chỉ nói: "Quan Doãn và Lão Đam phổ biến đạo thuật đời xưa, lấy cái gốc làm tinh vi, lấy vật bên ngoài làm thô, chứa đựng mãi mà không đủ, có thể sánh với thần minh."
Trang Tử đã khen hai người ấy: "Xây dựng cái thường trên cái có và không, chủ trương "thứ nhứt", lấy khiêm nhượng biểu lộ bên ngoài, lấy không hư, không làm hại vạn vật làm thật, người người ai cũng giành trước, người ấy chỉ muốn sau, ai cũng muốn đầy, người ấy chỉ muốn trống, ai cũng muốn cầu phước, người ấy chỉ muốn vừa được thì thôi, người ấy chỉ muốn rộng rãi với sự vật, chẳng muốn hơn người.
Cái đạo như thế là "cùng tột" cho nên có thể bảo rằng: Quan Doãn và Lão Đam là người "bác đại, chân chân" của thời xưa vậy..."
Đối với Trang Châu thì sách Trang Tử cũng rất sùng bái gọi là phổ biến đạo thuật thời xưa: "Phiêu diêu như vô hình biến hoá vô thường, sánh cùng trời đất, đến với thần minh, minh mông mà đi, bỗng nhiên mà đến, trùm lên vạn vật, không đủ chỗ để về ở..."
Trang Tử đã khen những người ấy: "Dùng thuyết như sai lầm, lời nói hoang đường, từ ngữ bao la, khoáng đạt mà không thiên với ai, không nên lấy đó làm kỳ, vì thiên hạ ô trược không thể cùng nói với Trang được, phải dùng lời nói bao la, nặng nề để đến chân lý, dùng ngụ ngôn để mở rộng, để đến với tinh thần trời đất, mà không ngạo nghễ với vạn vật, không vướng với thị phi, để cùng ở với thế tục. Quyển sách của người ấy thật hoàn toàn không vết tích, ngôn từ thì lủng củng mà quái dị, nhưng lại đầy đủ mà không ngừng. Trên thì cùng đùa với vạn vật, mà dưới thì bạn với cái không chung, không thủy, không sanh, không tử. Căn bổn của người ấy rộng lớn mà lại còn mở rộng thêm, sâu sắc mà còn sâu hơn nữa.
Tông chỉ của người ấy rộng khắp mà hướng lên, tuy hóa với vật, hiểu sâu sắc với vật mà lý không bao giờ cạn.
Có người nghi rằng thiên nầy không phải do Trang Tử viết mà là môn đệ của ông, sau khi gom góp tài liệu của Trang Tử thành sách rồi viết một bài tựa, cho nên mới tôn sùng đề cao Trang Tử đến mức ấy.
Thiên Thiên hạ phê phán Chư Tử, tất cả đời sau đều dùng làm tài liệu căn cứ, mà không kể ai thuộc môn phái nào.
Trong thiên Phi thập nhị tử của Tuân Tử cũng y như vậy, thiên nầy bài bác Thập nhị tử, cho nên chỉ ghi những sở đoản, mà không nêu lên những sở trường, cho nên đối với Đà Hào, Ngụy Mâu mới viết: "Buông lung tánh tình, hành động theo tánh tự nhiên của loài cầm thú, không thể hợp với văn minh."
Đối với Trần Trọng, Sử Du thì viết: "Nhẫn tánh tình, tìm kẽ hở, để cho mình cao hơn người, thì không thể hợp với đại chúng".
Về Mặc Địch với Tống Hình thì viết: "Không biết cân xứng việc thống nhứt thiên hạ và kiến quốc gia, trên lo làm việc dưới tiết kiệm, mà không biết tùy nghi chỗ khác nhau cho hợp lý, thì không thể còn có chỗ nào để biện luận nữa, vì đã làm đảo lộn vua tôi."
Về Thận Đáo và Điền Biền thì viết: "Thích pháp luật mà không tuân pháp luật, kẻ không thích pháp luật mà làm đúng, trên chỉ nghe theo lời trên, dưới thì thi hành theo thời thế, ngày ngày lời nói nghe rất mẫu mực, nhưng khi xét kỹ lại thì chẳng đúng vào đâu cả, như thế đâu có thể trị quốc gia được."
Về Tử Tư và Mạnh Kha thì viết: "Biết qua về phép tiên vương nhưng không biết hệ thống lại, mà muốn có tài, chí lớn, kiến thức rộng mà lộn xộn, noi theo xưa mà tạo thuyết mới, gọi đó là năm hạnh (nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín) không ăn nhằm vào đâu cả, có nhưng điều tối tăm mà không giải được, có những điều gút mắc mà không mở ra". Đây là những thành kiến rất sâu, không phải là những lời phê phán bình tĩnh khách quan.
Trong phần Tự tự của quyển Sử Ký, có dẫn lời của Tư mã Đàm, luận về ý nghĩa chủ yếu của 6 môn phái, trước hết nêu tên môn phái, rồi phê phán chỗ sở trường, sở đoản và sau cùng nêu tên người đại biểu cho môn phái ấy.
Lối viết như sau: "Thường nghe nói hễ xem thuật Âm dương quá tinh tế, thì mọi người đều e dè, làm cho người bị ràng buộc ở chỗ lo sợ, nhưng về việc ghi bốn mùa thuận lợi, thì việc đó không thể thiếu được.
Kẻ theo đạo Nho, học rộng mà không tóm lược, làm việc nhiều nhọc mệt mà kết quả ít, là vì lý thuyết khó noi theo, nhưng cái lễ thứ lớp trong đạo quân thần, phụ tử, phân chia ngăn nắp việc vợ chồng, kẻ lớn, người nhỏ, thì những điều ấy không thể thay đổi được.
Còn về Mặc gia thì rất khó theo, là vì việc làm của ông không thể làm theo hết được, nhưng thuyết làm cho mạnh gốc rễ, vốn liếng, tiết kiệm, thì không thể bỏ qua được.
Về Pháp gia thì nghiêm mà thiếu ơn đức, nhưng việc chánh danh phận quân thần trên dưới, thì không thể sửa đổi được.
Về Danh gia thì làm cho người tự xét mình, mà có khi đi đến chỗ mất chân chính, nhưng thuyết chính danh-thực, thì cần phải chú ý.
Đạo gia thì làm cho tinh thần người chuyên nhứt, hành động hợp với vô hình, đầy đủ với vạn vật, thuật của phái nầy là nương theo cái thuận lớn của Âm dương, trích lấy cái hay của Nho, Mặc, nắm yếu chỉ của Danh gia, Pháp gia... cùng mùa tiết thay đổi, nương theo vật mà biến hóa, theo thói đời mà hành động, không chỗ nào mà không hợp, chỉ dẫn chỗ trọng yếu cho dễ nắm, thì việc làm ít mà kết quả nhiều.
Phái Nho thì không như thế, họ cho rằng làm người chủ trong thiên hạ phải có nghi biểu bên ngoài, chúa xướng thì tôi phải theo, chúa làm trước thì tôi phải theo sau, như thế thì chúa nhọc mệt, mà tôi thì nhàn hạ. Còn chỗ trọng yếu của đại đạo thì phải cố gắng về vật chất lẫn tinh thần, nhưng tinh thần dùng quá nhiều thì khô cạn, sức dùng quá nhiều thì hình mỏi mệt, tinh thần và vật chất bị rối loạn, mà muốn lâu dài với trời đất, thì chưa nghe có ai được như vậy.
Theo Tư mã Đàm, thì trong mỗi Môn phái đều có sở trường, sở đoản, duy chỉ có Đạo gia hoàn toàn không có sở đoản.
Đến phần cuối, ông lại so sánh Đạo gia với Nho gia, cho chúng ta thấy Nho gia không thể nào sánh được với Đạo gia.
Trong phần Tự tự có viết Tư mã Đàm thường học Đạo luận với Hoàng Lão, thế nên đặc biệt mới suy tôn Đạo gia đến mức ấy.
Dưới thời Hán sơ, các bậc Đế vương như Văn Đế, danh tướng như Tào Tham, đều thích Đạo gia, Cảnh Đế tuy thích Danh gia, nhưng Đậu thái hậu lại tin Hoàng Lão, Thân Công vì chê Hoàng Lão mà đắc tội với thái hậu.
Dưới thời Cảnh Đế, Văn Đế, có phong trào sùng thượng Đạo gia mạnh mẽ, Tư mã Đàm sanh vào thời kỳ ấy, lại có nhiều sở đắc ở Đạo luận, cho nên ông mới khen Đạo gia như thế.
Nhưng ông viết về thuật của Đạo gia: "Nhơn đại thuận của Âm dương, trích cái hay của Nho, Mặc, nắm chỗ trọng yếu của Danh, Pháp gia". Điều nầy có chỗ không đúng với sự thật vì dưới thời Tây Hán, khi nói đến Đạo gia, gọi là Hoàng Lão mà không nói Lão, Trang...
Hơn nữa, Lão Tử là tiền bối của Khổng Tử, lúc Khổng Tử đến gặp Lão Tử thì chưa sáng lập học phái, và Mặc Tử thì lại sanh sau Khổng Tử, không có cơ hội để gặp Lão Tử, hai phái Danh gia và Pháp gia lại thành lập vào lúc giữa thời Chiến Quốc, thì Lão Tử đâu có thể trích cái hay của Nho, Mặc, lấy cái trọng yếu của Danh và Pháp gia cho được?
Hoài Nam Tử tên là Hoài Nam Hồng Liệt, Hồng là lớn, Liệt là sáng láng, ý muốn nói là làm sáng tỏ cái đạo.
Quyển sách nầy là do môn khách của Hoài Nam Vương Lưu An viết, trích các thuyết của các Môn phái Âm dương, Nho, Mặc, Danh, Pháp... biên soạn lại, mà ý thích thì thiên về Đạo gia.
Có lẽ dưới thời Tây Hán, người ta quan niệm Đạo gia theo sách Hoài Nam Tử, nên Tư mã Đàm mới viết như thế chăng.
Xét thêm ý trong sách Sử Ký thì thấy: "Nho gia quá rộng, mà không tóm lại được chỗ trọng yếu, nhọc công nhiều mà ít kết quả". "Nho gia lấy Lục Nghệ làm phép tắc, về Lục Nghệ thì Kinh truyện có đến hằng ngàn, học suốt cả đời cũng chưa chắc là thông được, riêng về phần Lễ, học cả năm chưa xong".
Xem qua lời phê phán trên, chúng ta thấy dưới thời Tây Hán, qua các sách vở được ghi chép lúc đó, chưa biểu hiệu được chân tướng các phái. Sở trường của Nho gia không phải chỉ ở phần Lễ, Mặc gia không chỉ ở Tiết dụng, Pháp gia không chỉ ở chỗ phân biệt quân thần, thượng hạ.
Vì các môn phái chưa phát triển đúng mức chân tướng của mình, có thể vì thế mà lời bình luận của Tư mã Đàm, không nêu lên được những điểm trọng yếu.
Trong phần Chư tử lược của sách Hán Chí, sau khi ghi chép xong sách của một Môn phái, liền ghi thêm lời tựa lên trên và sau cùng phê phán chỗ sở trường, sở đoản của từng Môn phái.
Phê phán Nho gia, sách Hán Chí đã viết: "Phái Nho gia, xuất thân từ nhà quan, nên giúp đỡ nhà vua thuận lẽ âm dương làm sáng tỏ giáo hóa, dẫn lời trong Lục Nghệ, và chú ý đến việc nhơn nghĩa, noi theo nền văn hiến, phép tắc của Nghiêu, Thuấn, Văn, Võ, tôn thờ thầy Trọng Ni, nên nền đạo rất cao".
Khổng Tử có nói: "Nếu như có chỗ đáng khen, thì phải thí nghiệm thử". Cái tiếng của Đường, Ngu, cái thạnh của Ân, Chu, Trọng Ni đã thí nghiệm, bắt chước. Cũng có thể bị mất cái tinh vi, và xa rời cái gốc đạo mà Nho học bị suy vi.
Ban Cố thì cho rằng, những lời phê phán trên là để phê bình lớp hậu Nho không còn giữ được tinh túy của đạo như nhóm Công tôn Hoằng, đó là cái tệ của một lớp người, của một giai đoạn, không thể lấy đó mà phê phán học thuyết được.
Phê phán Đạo gia, Tư mã Đàm viết: "Phái Đạo gia, xuất thân từ Sử quan, biết rõ cái đạo thành bại, tồn vong, họa phước, rồi sau đó biết chỗ trọng yếu nắm chắc căn bản, trong sạch, khiêm nhượng giữ mình, nhỏ nhoi, thấp kém, đó là cái thuật của vì nhơn quân ngồi day mặt về phía Nam... (ngồi theo vị trí của vua) hợp với lòng khắc nhượng của vua Nghiêu.
Trong Kinh Dịch có chữ Khiêm. Một Khiêm mà sanh ra bốn Ích, đó là chỗ sở trường. Nếu biết phát triển mà thi hành cho đúng, thì bỏ Lễ, Nhơn, Nghĩa, chỉ giữ trong sạch khiêm nhượng là có thể trị vì thiên hạ.
Dứt Lễ, bỏ Nhơn, Nghĩa, chỉ dùng trong sạch, khiêm nhượng để trị, Lão Tử đã có chủ trương như thế, chớ không phải từ chữ Khiêm trong Kinh Dịch phát triển ra, chỗ nầy chắc có lẽ Ban Cố đã lầm.
Trong sách Hán Chí, ghi chép sách của Đạo gia, nhằm trước thời kỳ Lão Tử rất lâu, cho nên những người viết sách ấy cho rằng Đạo gia đã có từ trước thời Lão Tử.
Phê phán 3 Môn phái Âm dương, Pháp và Danh gia, sách Hán Chí viết: "Phái Âm dương gia ra từ quan chức của vua Hi, Hòa, kỉnh thuận trời đất, làm lịch ngày tháng trăng sao lập thì giờ cho dân, đó là sở trường của phái ấy, rồi có kẻ câu nệ, bày ra chuyện kiêng kị, số mạng, bỏ chuyện người mà cứ tin quỉ thần. Còn Pháp gia thì xuất thân từ Lý quan, có thưởng có phạt, để giúp cho Lễ chế".
Trong Kinh Dịch có viết: "Vì Tiên Vương trừng phạt rõ ràng để nêu Pháp luật..." đó là sở trường của Pháp gia. Nhưng nếu chỉ chú trọng hình phạt mà không giáo hóa, bỏ nhơn nghĩa mà chuyên dùng hình pháp để trị, đến mức tàn hại thân tình, có hại đến ơn nghĩa.
Môn phái Danh gia thì phát xuất từ Lễ quan. Thời xưa danh vị bất đồng, Lễ cũng có thứ lớp khác nhau.
Khổng Tử có nói: "Tất là phải chánh danh, danh không chánh thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không thành. Đó là chỗ sở trường của phái Danh gia. Nhưng cũng có kẻ quỉ quyệt lạm dụng Môn phái, để làm rối loạn lòng người.
Ban Cố cho rằng Âm dương gia sở trường về lịch, thời tiết, mà có chỗ dở là bày ra kiêng kị (coi bói). Pháp gia thì dở ở chỗ khắc bạc, hại đến ơn nghĩa, Danh gia hay ở chỗ chánh danh, mà dở ở chỗ ngụy biện, cùng giống ý với Tư mã Đàm.
Duy ở chỗ bảo rằng "có thưởng có phạt" là chỗ hay của Pháp gia so với lời phê của Tư mã Đàm "Phân chia rõ quân thần, thượng hạ" thì thấy có phần gọn và sâu sắc hơn.
Dẫn tới chỗ dị đoan, hình phạt nghiêm, hại đến ơn nghĩa, biện luận quỉ quyệt, đó là chỗ dở của 3 Môn phái kể trên, nhưng nghĩ cho kỹ, không phải đó là cái dở của bản thân Môn phái ấy, vì theo Ban Cố, các nhà trong Môn phái ấy đều xuất thân từ vua, quan, nguồn gốc có từ lâu đời; rồi đến thời Chiến Quốc, các môn đệ thời sau, làm mất cái bản sắc chân chính của Môn phái để đi lần đến chỗ sai lầm. Phải nghĩ như thế có lẽ đúng hơn.
Về phái Mặc gia thì có lời phê phán: "Phái Mặc gia xuất thân từ kẻ giữ Thanh miếu, ở nhà tranh vách đất, vì thế cho nên xem việc tiết kiệm làm đầu, mà cũng vì thế mà thương yêu mọi người, chuộng người tài, lo việc cúng kiến, thuận theo thời tiết bốn mùa làm lụng, không tin số mạng, dùng trung hiếu làm gương cho thiên hạ, thế cho nên trên dưới đồng nhau, đó là chỗ hay. Cho đến khi Môn phái suy đồi, thì tiết kiệm thành ra rít róng để lợi cho mình, vì đó mà mất cả lễ nghĩa, từ thuyết "kiêm ái" thương yêu mọi người mà đi đến chỗ không phân biệt thân sơ.
Quí việc tiết kiệm, kiêm ái, chuộng người hiền, thờ cúng người trước, không tin số mạng, trên dưới đồng nhau, sáu điểm ấy là chủ yếu của Mặc gia, nhưng không thể nói tất cả đó là điều hay.
Mặc Tử phản đối Nho gia là vì cái "Lễ phiền phức", đó là điểm trước tiên, vì thế mà "chê cái Lễ phiền phức" là Mặc Tử đề cập trước nhứt.
Không phân biệt thân sơ, đó là kiêm ái, điều nhược điểm nầy đã có từ lúc đầu, chớ chẳng phải sau này, đến thời các môn đệ mới có.
Ban Cố cho rằng, trước thời Mặc Tử, đã có người xướng xuất ra học thuyết ấy rồi.
Trở lên việc phê phán 6 Môn phái, đều là ý của Tư mã Đàm, rồi chuyện tăng thêm 4 Môn phái: Tung hoành gia, Tạp gia, Nông gia và Tiểu thuyết gia, đều cũng có lời phê phán.
Ông đã viết: "Tung hoành gia là những người đi đó đi đây để làm quan". Khổng Tử đã nói: "Đọc Kinh Thi 300 thiên, mà không thể đối đáp được thì đọc nhiều làm gì?" Lại có nói: "Ôi chuyện đi sứ". Là ý muốn nói gặp tình hình phải biết đối phó cho hợp, chỉ lãnh sứ mạng tổng quát mà không chi tiết, đó là chỗ sở trường.
Những kẻ tà lãnh nhiệm vụ ấy, thì dối trá mà bỏ mất lòng tin.
Còn phái Tạp gia thì xuất thân từ Nghị quan, kiêm Nho, Mặc hợp với Danh, Pháp gia, biết quốc thể là như thế, làm quan ra vào với vua chúa, đó là chỗ sở trường, rồi sau đó, đến những người không vững vàng tiếp tục Môn phái ấy thì lần lần bị mất chính thống.
Phái Nông gia thì xuất thân từ Nông quan, gieo trăm giống, khuyến khích việc nông tang, để cho có cơm ăn, áo mặc, cho nên trong Bát chánh có nói: Một là ăn, hai là hàng hóa... Khổng Tử có nói: "Chỗ trọng là cái ăn của dân", đó là chỗ sở trường của Nông gia, nhưng lần lần kẻ thiển cận, cho rằng bực vương giả không có gì đáng trọng, muốn cho vua dân cùng đi cày, làm rối loạn trật tự trên dưới".
Phái Tiểu thuyết gia xuất thân từ Ty quan, chuyên về nghe ngóng nói đi... nói lại. Khổng Tử có nói: "Tuy đó là tiểu đạo, nhưng cũng có chỗ khả quan, có thể đến những chỗ xa xôi. (Xem thiên Tử Trương trong sách Luận Ngữ) đó là chỗ người quân tử không làm nhưng cũng không thể bỏ. Những cái hiểu biết ở trong xóm làng cũng cần phải ghi nhớ cho đừng quên.
Về từ ngữ Tung hoành, thì bắt đầu từ thời Tô Tần, Trương Nghi, đó là những người trí trá, mất tín nghĩa, là những người tà.
Ban Cố cho rằng Tung hoành gia là những nhà ngoại giao, cho nên mới dẫn lời Khổng Tử về chuyện học Kinh Thi để đối đáp với kẻ khác.
Quân thần cùng đi cày, là muốn bỏ giai tầng thống trị và bị trị, đó là chủ trương của Hứa Hành (xem thiên Đằng văn Công trong sách Mạnh Tử), đó là đặc điểm của phái Nông gia.
Ban Cố cho rằng đó là thuyết của kẻ tầm thường, thế nên trong sách Hán Chí chỉ ghi lại sách chuyên về nghề trồng trọt.
Còn về phái Tiểu thuyết gia thì chỉ được ở phần Phụ Lục cho nên không bình luận sở trường hay sở đoản của phái này, nhưng chỉ nêu ra ý kiến là không thể bỏ được.
Trong phần đầu của phiên Tổng luận này có viết: "Trong 10 Môn phái chỉ có 9 là khả quan" tức là không có phái Tiểu thuyết gia. Trong Tổng luận cũng có viết: "Nếu trau dồi được Lục Nghệ, và đọc lời của 9 Môn phái, bỏ chỗ dở, dùng chỗ hay thì có thể thông được cái chước muôn phương".
Trong khi bình luận Chư Tử, Ban Cố đã thiên vị, là vì ông nhận Nho gia là "cái đạo rất cao", lấy lời nói của Nho gia làm khuôn mẫu để bình luận các Môn phái.
Thiên Thiên hạ của Trang Tử, thiên Phi thập nhị tử của Tuân Tử, và Tư mã Đàm với Ban Cố phê phán sở trường và sở đoản của Chư Tử, đều đã được dẫn thuật ở trên. Tóm lại, trong tất cả 10 Môn phái, 5 phái sau không bằng 5 phái trước.
Chỗ dở của Âm dương gia, không phải chỉ ở chỗ "kiêng kị mê tín" mà lại có nhiều chỗ kiêng cữ, cứ tin quỉ thần mà bỏ chuyện người, tức là chỗ sở trường về lịch, trăng sao, đó là kỹ thuật chớ không phải học thuyết triết học.
Phái Tung hoành là sách lược của chánh khách thời Chiến Quốc, lại càng không có liên quan gì đến học thuật.
Sách Hán Chí dẫn lục sách của Nông gia, cũng chỉ là những sách về kỹ thuật trồng tỉa, và những chánh lịnh về nông nghiệp mà chẳng có học thuyết gì. Như thế, chủ trương của Hứa Hành chỉ tiếp tục các học thuyết của Đạo gia mà thôi.
Về phần Tiểu thuyết gia thì sách Hán Chí chỉ ghi những bút ký và tạp văn của người đời sau, không xứng đáng tiêu biểu cho ngành Tiểu thuyết. Đời nay, ngành Tiểu thuyết chỉ được xem là bộ môn Văn học, chớ không phải là Triết học.
Còn về Tạp gia, thì gom góp học thuyết các Môn phái khác, không có một tôn chỉ nhứt định như vậy là không có một bản sắc riêng cho mình.
Bây giờ lại đem Danh học so sánh với 5 Môn phái trên, thì Danh học là một loại biện chứng của Nho gia mà các Môn phái khác đều có áp dụng, vì thế Danh gia đều là các tay Biện sĩ, ngoài ra cái sở trường về du thuyết, thì không có một học thuyết đặc biệt gì.
Pháp gia thành lập sau, có quan hệ đến Đạo gia, Nho gia. Thận Đáo là một Pháp gia ở vào thời kỳ đầu của Môn phái, học thuyết ông là thuyết Hình, danh của Hoàng Lão.
Trong sách Sử Ký ghi Thận, Hàn và Lão, Trang đồng một truyện vì cho rằng học thuyết của các ông ấy đều gốc của Hoàng, Lão, mà Hàn Phi, Lý Tư là đệ tử của Tuân Tử, như thế thì Pháp gia do Đạo gia, Nho gia hợp lại mà biến thành, nhận xét như thế cũng hợp lý.
Tóm lại, trong số 5 Môn phái kể trên có thể nói chỉ có Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, tổng cộng 3 phái là có thể nói có những điểm nổi bật riêng biệt mà thôi.