Dưới thời Xuân Thu, nước Sở là lớn mạnh hơn hết, phía Bắc thì tranh Bá với Tề, Tấn, tạo thành một cuộc thế "kháng tung", còn dưới thời Chiến Quốc, nước Tần là lớn mạnh, nên hướng về phía Đông định xâm lăng Lục Quốc tạo thành thế "kháng hoành".
Nước Sở tuy đã thôn tính các nước vùng Giang Hán, nhưng còn muốn mở rộng thế lực về phía Bắc, là muốn làm Minh chủ lãnh đạo chư hầu, cho nên cứ tranh với hai nước lớn là Tề và Tấn.
Tần đã gồm thâu Quan trung, rồi quay về phía Đông là muốn thôn tính Lục Quốc, thế nên lúc bấy giờ Lục Quốc chỉ có hai con đường phải chọn, hoặc là chống lại, hay là chịu khuất phục.
Lúc ấy sách lược các chánh khách, cũng theo đó mà phân ra làm hai lớp. Một lớp chủ trương Lục Quốc hợp với Nam, Bắc để chống lại Tần, đó là "Hợp Tung", còn một lớp khác thì chủ trương Lục Quốc hướng về phía Tây hợp với Tần gọi đó là "Liên Hoành".
Tung và Hoành đó là hai loại sách lược về ngoại giao đã kể trên, và Tung Hoành gia, tức là những chánh khách đã vận dụng hai sách lược ngoại giao đó. Thế nên Tung Hoành, không phải là học thuyết, và những Tung Hoành gia cũng không phải là những học giả.
Sách Hán chí cho rằng Tung Hoành gia là một môn phái trong Thập Gia Chư Tử, như thế thì không đúng.
Trong số Tung Hoành gia có Tô Tần và Trương Nghi là nổi tiếng hơn hết, trong Sử ký đều có truyện, nay theo tài liệu của Kiến Hầu, cũng theo Sử ký viết ra cho rõ ràng hơn...
Tô Tần, Trương Nghi Lược Khảo
Tô Tần, tự Quí Tử, người đất Lạc Dương, nước Đông Châu.
Ông cùng Trương Nghi là người nước Sở, đồng học với Quỉ Cốc tiên sinh, về thuật Tung Hoành.
[Sách Sách Ẩn viết:Tô Tần có anh em tất cả 5 người, ông là người nhỏ nhứt, cho nên mới gọi là Quí Tử.
Sách Sách Ẩn cũng có viết: Quỉ Cốc là địa danh. Ở Phò Phong, Trì Dương, Dĩnh Châu, Dương Thành, đều có gò Quỉ Cốc, có người ở, rồi nhơn đó, gọi người ấy là Quỉ Cốc Tử.
Sách Quỉ Cốc Tử viết: Ở đất Châu, có nhà hào sĩ ở Quỉ Cốc, hiệu là Quỉ Cốc tiên sinh, Tô Tần, Trương Nghi đến ra mắt chọn ngày mà học.
Sách Phong tục thông viết: Quỉ Cốc tiên sinh là một Tung Hoành gia dưới thời Lục Quốc. Như thế, dường như Quỉ Cốc Tử là có người thật, người ấy lấy chỗ ở làm danh hiệu mình.
Trong sách "Bút nghiệp" Hồ Ứng Lân viết: "Quỉ Cốc Tử có viết quyển "Để Ứng".
Trương Nghi, trọn đời bôn ba đi du thuyết đó đây, bận rộn về việc chạy theo vinh hoa, phú quí, như vậy đâu có thì giờ rảnh để viết sách. Sách Tô Tần, Trương Nghi có lẽ do người đời sau gom góp, thể theo ý hai ông mà viết, rồi có kẻ hiếu sự lại ghi thêm vô của Quỉ Cốc Tử, thế nên Quỉ Cốc Tử e rằng không có người thật, mà là một tên chung để gọi những nhà học giả ẩn cư...]
Tô Tần học thành công, đến du thuyết với Châu Hiển Vương, kẻ tả hữu xem thường ông, cho nên ông không được dùng... Lý Đoái nước Triệu giúp đỡ, ông liền đi về phía Tây vào nước Tần, dùng sách lược Liên Hoành thuyết với Tần Huệ Văn Vương.
Lúc đó nước Tần vừa mới giết Thương Ưởng nên rất ghét bọn du sĩ các nước liền không dùng. Ông rất khốn quẩn mà trở về.
Đến nhà, vợ vẫn ngồi y trên khung cửi dệt, không thèm ngó ngàng đến; còn chị thì không nấu cơm, cha mẹ anh em đều mỉa mai...
Ông liền phát phẫn, đọc sách, nếu buồn ngủ thì lấy mũi dùi tự đâm vào vế cho tỉnh... Được một năm, dùi mài học tập thành công, liền qua du thuyết Yên Văn Hầu nên cầu thân với Triệu.
Yên Văn Hầu liền giúp cho vàng lụa, xe ngựa, qua du thuyết với Triệu Tiêu Hầu, xin hợp Hàn, Ngụy, Tề, Sở, Yên để chống Tần. Nước Triệu lại giúp đỡ thêm vàng bạc xe ngựa, khiến ông đi du thuyết với chư hầu.
[Theo Lục Quốc niên biểu, năm thứ 35 đời Châu Hiển Vương, nhằm năm thứ 28 Yên Văn Hầu có chép chuyện Tô Tần sang du thuyết nước Yên. Trong Yên thế gia cũng chép y như vậy [nhằm năm 336 trước T.L.]
Trương Nghi học thành công, làm khách ở Tướng Quốc nước Sở.
Tướng Quốc nước Sở làm mất viên bích ngọc, nghi Trương Nghi lấy trộm, hành phạt ông nặng nề, Trương Nghi trở về, hả miệng hỏi vợ:
- Lưỡi của ta còn không?
Vợ đáp:
- Lưỡi vẫn còn đó.
Trương Nghi cười đáp:
- Như vậy là được rồi...
Lúc đó nước Tần đánh Ngụy, lấy đất Điêu âm, lại còn muốn tiến binh về phía Đông.
Tô Tần sợ minh ước "Hợp Tung" chưa thành mà binh Tần đã đến Triệu, liền sai người đến nói riêng với Trương Nghi:
- Sao ông không đến gặp Tô Quân?
Quả nhiên Trương Nghi đến Triệu, xin gặp Tô Tần, Tô Tần dặn người giữ cửa không cho vào, nhưng cũng không cho đi, vài ngày sau mới cho gặp mặt, nhưng lại tiếp đãi không đủ lễ...
Trương Nghi giận dữ, nghĩ rằng chỉ có nước Tần là làm khốn đốn được nước Triệu mà thôi... Ông liền đi qua phía Tây vào nước Tần.
Tô Tần liền sai Xá Nhơn đem vàng lụa xe ngựa giúp cho Trương Nghi và lén đi theo, cùng ăn ngủ chung lần lần thân mật nhau, và khi giúp vàng lụa xe ngựa cho ông cũng không nói là của ai.
Trương Nghi đến nước Tần, dùng sách lược Liên Hoành thuyết với Huệ Văn Vương, vua liền cho làm Khách khanh, người Xá Nhơn của Tô Tần liền từ giã ra về...
Trương Nghi lưu lại, lúc đó Xá Nhơn mới nói rõ duyên do...
Trương Nghi thán phục và nói rằng:
- Ông vì tôi về, cảm tạ Tô Quân. Lúc nào Tô Quân còn ở đó thì không bao giờ tôi dám nói đến chuyện đánh Triệu.
Tô Tần liền định ước việc Hợp Tung với Hàn Tuyên Vương, Ngụy Tương Vương, Tề Tuyên Vương, Sở Uy Vương, Tô Tần làm Tung Ước trưởng, làm tướng luôn 6 nước...
[Theo Lục Quốc niên biểu, thì năm 37 đời Châu Hiển Vương, là năm đầu Hàn Tuyên Vương, năm thứ 3 Ngụy Tương Vương, năm thứ 11 Tề Tuyên Vương, năm thứ 8 Sở Uy Vương (năm 334 trước T.L.)
Năm ấy, Tô Tần đi du thuyết các nước, từ năm Châu Hiển Vương thứ 38 (335 trước T.L.) đến năm thứ 43 (330 trước T.L.) cọng chung 6 năm, là thời kỳ Hợp Tung, ở Lục Quốc, không có cuộc chiến nào đáng kể].
Tô Tần về báo cáo với Triệu Vương, đi qua Lạc Dương, Châu Hiển Vương sai người ra biên giới ủy lạo, vợ và chị đứng chờ đón bên đường, chỉ khẻ liếc mắt mà không dám ngó ngay mặt.
Tô Tần cười nói:
- Sao trước kia chị làm cao mà bây giờ cung kính vậy?
Chị ông khúm núm tạ lỗi:
- Vì Quí Tử nhiều vàng và ngôi cao...
Tô Tần thở dài:
- Con người, hễ bần cùng thì cha mẹ chẳng xem là con, giàu sang thì thân thích sợ sệt, con người sanh ra trên đời nầy chuyện giàu sang phú quí, có thể xem thường được không?
Về đến Triệu, Triệu Tiên Hầu phong làm Võ An quân, nhờ thế mà binh Tần không dám ra Hàm Cốc quan trong suốt thời gian dài 15 năm.
[Sự thật không đúng như vậy, vì theo Lục Quốc niên biểu thì năm thứ 39 Châu Hiển Vương (334 trước T.L.) Tần đã lấy đất Hà Tây của Ngụy, rồi năm thứ 40 (333 trước T.L.) lại lấy đất Phần Ân và Tiêu của Ngụy, năm thứ 41 (332 trước T.L.) lại lấy đất Thượng quận cũng của Ngụy rồi đến năm thứ 47 (326 trước T.L.) lại lấy thêm mấy phần đất: Khúc Yển, Bình Châu, cũng của Ngụy...
Đến năm thứ hai Châu Thận Tịnh Vương (319 trước T.L.) lấy đất Yển của nước Hàn, đến năm thứ 5, lấy đất Trung Độ, Tây Dương của Triệu (316 trước T.L.) là cũng lấy đất An Ấp của Ngụy.
Trong suốt thời gian dài 15 năm, thật ra Tần lấn đất của chư hầu rất nhiều.]
Sau đó, Tần lừa Tề và Ngụy để hợp nhau đánh Triệu, Triệu Vương trách Tô Tần...
Tô Tần xin qua Yên để tìm cách báo thù Tề, từ Tô Tần rời khỏi nước Triệu mà minh ước Hợp Tung bị tan rã...
Trước kia, Tần Huệ Văn Vương đem con gái gã cho thái tử nước Yên, năm ấy Văn Hầu mất, thái tử lên ngôi, hiệu là Diệc Vương.
Tề Tuyên Vương nhơn nước Yên có tang, liền ra quân đánh, lấy 10 thành, Diệc Vương trách Tô Tần, Tô Tần xin qua Tề, du thuyết với Tề Vương để đòi lại 10 thành. Mẹ của Yên Diệc Vương tư thông với Tô Tần, Diệc Vương biết chuyện ấy, có người lại chê Tô Tần với Diệc Vương, Tô Tần sợ bị giết, liền thuyết với Diệc Vương, rồi giả như mình bị tội mà chạy trốn sang Tề.
Tề Tuyên Vương cho làm Khách khanh, đến khi Tuyên Vương mất, Mân Vương lên ngôi, Đại phu nước Tề và Tô Tần tranh nhau để được vua sủng ái, Tô Tần bị đâm, kẻ giết người chạy mất.
Tô Tần sắp chết, nói với Mân Vương:
- Thần chết, muốn tìm kẻ chết theo thì cứ phao tin "Tô Tần vì nước Yên mà qua làm loạn ở Tề..." như thế thì sẽ bắt được tên thích khách...
Vua Tề y lời, quả nhiên bắt được tên thích khách, liền giết ngay.
Năm thứ 10 Tần Huệ Văn Vương, Trương Nghi và công tử Hoa đánh Ngụy, lấy đất Bồ Dương, rồi cùng hòa với Ngụy.
Huệ Văn Vương đưa ông về Thượng quận, Sa Khâu để thưởng công, từ đó Trương Nghi làm tướng quốc nước Tần.
Năm thứ 13 Huệ Văn Vương, vua Tần mới bắt đầu xưng vương...
Huệ Văn Vương hậu ngươn năm thứ 3, Trương Nghi ra đi, đến làm Tướng quốc nước Ngụy, ở Ngụy 4 năm, Tương Vương mất, Ai Vương lên ngôi, nghe theo lời Trương Nghi, bội ước việc Hợp Tung, hòa với nước Tần, Trương Nghi lại trở về làm tướng nước Tần, lúc đó Tề với Sở Hợp Tung, thân mật nhau, Trương Nghi qua Sở, kéo Sở Hoài Vương, khuyên ông dứt Tề, nếu được như thế thì sẽ hiến cho đất Thương Ô 600 dặm.
Quả nhiên Hoài Vương dứt giao thiệp với Tề, và sai sứ theo Trương Nghi vào đất Tần để nhận đất nhưng Trương Nghi chỉ chịu cắt cho có 6 dặm.
Hoài Vương giận, liền sai Khuất Cái đánh Tần, bị đại bại, Khuất Cái chết.
Tần liền lấy của Sở các vùng Đơn Dương, Hán Trung, Sở vẫn tăng binh đánh Tần, rồi lại bị bại ở Lam Điền.
Tần nghị hòa, nói muốn lấy vùng đất ngoài Võ quan để đổi đất Kiềm Tung của Sở.
Hoài Vương nói:
- Nếu được Trương Nghi thì cam tâm vậy và vui lòng hiến đất Kiềm Tung.
Trương Nghi qua Sở, lại nhờ nịnh thần nước Sở là Cận Thượng và sủng cơ Trịnh Tụ nói giùm, Hoài Vương thả Trương Nghi và hứa việc Liên Hoành.
Trương Nghi về báo lại với Huệ Văn Vương, được phong 5 ấp, hiệu là Võ tín Quân, nhơn đó mà đi luôn qua các nước Tề, Triệu, Yên, các nước đều hứa Liên Hoành với Tần.
Trương Nghi trở về Tần chưa đến Hàm Dương mà Huệ Văn Vương mất, Võ Vương lên ngôi. Lúc còn là thái tử, Võ Vương đã không thích Trương Nghi, bọn tả thần lại gièm siểm thêm, Trương Nghi liền xin đi qua làm Tướng quốc cho Ngụy.
Làm Tướng quốc cho Ngụy được một năm thì ông mất.
[Trương Nghi qua làm Tướng quốc cho Ngụy vào năm đầu Tần Võ Vương năm sau ông mất, tức vào năm Tần Võ Vương thứ 2 và Châu Noãn Vương thứ 6 (309 trước T.L.)].
*
Sách Hán chí có viết: Phái Tung Hoành xuất thân từ lớp quan đi đó đi đây [du thuyết]. Nếu người tà vọng làm việc ấy, thì trí trá mà bỏ mất chữ tín.
Theo ý của Hán chí thì chữ Tung Hoành chỉ việc ngoại giao, như Tô Tần và Trương Nghi là những người trí trá và không giữ chữ tín.
Sách Luận Ngữ, thiên Tử Lộ có ghi lời Khổng Tử: "Đọc kinh Thi 300 bài... đi sứ ở 4 phương, mà không thể ứng đối, tuy đọc nhiều mà có làm được gì đâu?"
Dưới thời Xuân Thu, có việc gì thì hợp nhau lại để hỏi ý, và thường thường làm ra bài thi để bày tỏ ý của mình, cho nên sách Hán chí mới chép: "Lên cao, làm bài phú, là có thể làm chức Đại phu".
Thời đó, hễ ai lên đàn mà có thể làm bài thi bày tỏ chí của mình cho đúng là có thể làm Đại phu, phụng mạng đi sứ để ứng dối.
Thứ nhứt là vì: Thi đa số thuộc loại Tỉ, Hứng, khéo phô trương, mà trong lúc ngoại giao, lời nói phải khéo léo, khi thì ngụ ý, lúc ví dụ, châm biếm, hay mượn lời kẻ khác để nói ý mình cho khỏi bị đụng chạm... cho nên lời nói phải linh diệu vô cùng.
Muốn trau dồi được như thế thì phải học kinh Thi... Cho đến lúc Tần Hán thống nhứt, các chư hầu thành quận huyện, các nhà du thuyết không còn đất dụng võ lần lần biến thành những văn nhân giỏi từ phú như Lục Giả, Trâu Dương, v.v... đều là những Tung Hoành gia kiêm Từ phú gia, đó là do kinh Thi biến ra từ phú, mà Tung Hoành gia là những người mở đường đầu tiên.
Phái Tung Hoành tuy không thể gọi hẳn là một học phái, nhưng rất có công trong việc làm cho nền văn học của Trung Hoa biến chuyển và tiến tới, trong số Tung Hoành gia kể trên, có Khuất Nguyên là người đáng ghi nhớ hơn hết.
Từ xưa đến nay, đề cập đến Bách Gia Chư Tử, ít ai nhắc đến Khuất Nguyên, nhưng chính ông là người khai tổ cho nền Từ phú của Trung Hoa.
Ông lại có những tư tưởng Đạo gia siêu xuất trần thế, và kiêm luôn cả tư tưởng trung quân, ái quốc của Nho gia.
Nền văn học của Trung Hoa bắt đầu từ ngành trước thuật chuyển sang văn chương từ phú cũng nhờ Khuất Nguyên là người đầu tiên đã mở một con đường mới.
Sau đây xin trích lục truyện Khuất Nguyên căn cứ theo sách Sử ký.
Khuất Nguyên Truyện Khảo
Khuất Nguyên, tên Bình, cùng dòng họ với nhà Sở.
[Cao và Bằng gọi là Nguyên, vì thế tên Bình (Bằng) mà tự là Nguyên.
Khuất Nguyên là người trong công tộc nước Sở. Con Sở Võ Vương là Hà, ăn lộc ở đất Khuất, vì thế lấy tên đất làm họ. Khuất Nguyên là dòng dõi của Hà...]
Ông làm chức Tả đồ cho Hoài Vương, người học rộng, nhớ dai, biết rõ việc trị loạn, khéo văn chương từ phú, vào triều thì bàn với vua về chuyện trị nước để ra hiệu lịnh, còn ra ngoài thì tiếp đãi tân khách, ứng đối chư hầu, vua rất tín nhiệm ông.
[Tả đồ là một chức quan của nước Sở, tham gia việc cơ mật, phụ trách ngoại giao, là một chức quan trọng yếu.]
Thượng quan Đại phu cùng đồng hàng với ông, nhưng lại tranh giành cho được vua tin yêu nên có lòng hại tài ông.
Vua Hoài Vương khiến Khuất Nguyên làm ra từ lịnh. Khuất Bình thảo chưa xong, Thượng quan Đại phu nhìn thấy muốn đoạt, Khuất Bình không cho, vì đó mà ông bị gièm:
- Vua sai Khuất Bình làm lịnh, chuyện đó ai cũng biết, nhưng mỗi lần lịnh ra, Bình lại khoe công mình, nói rằng, ngoài ta không một ai có thể làm được.
Vua giận mà thờ ơ với Khuất Bình.
[Sách Chánh nghĩa chú thích Thượng quan Đại phu là Cận Thượng].
Khuất Nguyên buồn về chuyện vua nghe lời mà không xét nét, bị lời gièm siểm làm cho mất sáng suốt, chuyện tà vạy làm hại việc công, không dung người ngay thẳng, vì thế u oán, ưu tư mà làm ra bài Ly tao.
Ly tao tức là "gặp chuyện buồn".
Khuất Bình đã bị chê, sau đó, Tần muốn đánh Tề, Tề và Sở Hợp Tung, thân thiện nhau, Huệ Vương lo ngại, liền sai Trương Nghi giả vờ bỏ nước Tần, đem lễ vật trọng hậu đến để xin thờ nước Sở và nói:

Trích trong Trung Quốc Văn Học Sử của Trịnh Chấn Đạc, quyển 1 [trang 52].
- Tần rất ghét Tề, Tề với Sở Hợp Tung, thân thiện nhau, nếu Sở có thể dứt với Tần thì Tần nguyện hiến đất Thương Ô 600 dặm.
Sở Hoài Vương tham và tin lời Trương Nghi, liền dứt nước Tề, sai sứ đến nước Tần lãnh đất, Trương Nghi liền trở mặt nói:
- Tôi chỉ hứa với vua có 6 dặm, chớ đâu phải 600 dặm...
Sứ Sở tức giận ra về, tâu lại với Hoài Vương, Hoài Vương giận dữ đại hưng binh phạt Tần, Tần cũng phát binh ra đánh, đại phá binh Sở ở Đan Triết, chém đầu quân Sở 6 vạn, bắt tướng nước Sở là Khuất Cái và lấy đất Hán Trung của Sở.
Hoài Vương liền dốc binh trong nước để đánh sâu vào nước Tần, đôi bên đánh ở Lam Điền.
Nước Ngụy nghe tin, liền đánh úp nước Sở đến đất Đặng. Binh Sở sợ, từ nước Tần kéo trở về, trong lúc đó thì nước Tề giận không thèm cứu Sở, làm cho nước Sở rất khốn đốn.
Năm sau, Tần xin trả lại đất Hán Trung để nghị hoà.
Vua Sở nói:
- Không muốn được đất, chỉ muốn được Trương Nghi mới cam tâm
Trương Nghi nghe tin liền nói:
- Nếu Nghi nầy mà đổi được đất Hán Trung, thì thần xin qua Sở.
Tới Sở, ông liền đem lễ vật trọng hậu đút lót cho cận thần Cận Thượng, và bày kế cho sủng cơ của Hoài Vương là Trịnh Tụ. Hoài Vương liền nghe lời Trịnh Tụ, lại thả Trương Nghi.
Lúc đó Khuất Bình đã bị đối xử lạt lẽo, không còn tại vị mà đi sứ ở Tề.
Ông quay trở về, khuyên Hoài Vương:
-Tại sao vua không giết Trương Nghi?
Hoài Vương ăn năn, cho người đuổi theo nhưng không kịp.
[Bài tựa của Ly tao có viết: "Khuất Nguyên đồng tánh với Sở Vương làm chức Tam Lư Đại phu..." Trong bổn truyện không thấy ghi điều nầy, chắc có lẽ khi ông bị nhà vua đối xử lợt lạt, nên bị bãi chức Tả đồ, giáng xuống còn Tam Lư Đại phu, và phụng mạng đi sứ sang Tề.]
Sau đó, chư hầu hợp sức đánh Sở, giết tướng Sở là Đường Muội.
Trước kia Tần Chiêu Vương làm suôi với Sở, bây giờ lại muốn hội với Hoài Vương.
Hoài Vương muốn đi, Khuất Nguyên khuyên:
- Nước Tần là giống hổ lang, không thể tin được, không đi là hơn.
Con nhỏ của Hoài Vương là Tử Lan khuyên vua đi:
- Tại sao lại làm mất vui với Tần?
Hoài Vương liền đi. Vào Võ quan, Tần phục binh, chặn phía sau, rồi giữ Hoài Vương để đòi cắt đất.
Hoài Vương giận, không nghe theo, chạy trốn qua Triệu, Triệu không cho vào, lại trở qua Tần, rồi chết ở Tần và được đem về nước chôn.
Trưởng Tử là Khoảnh Tương Vương lên ngôi, dùng em là Tử Lan làm lịnh doãn.
Người nước Sở đổ lỗi cho Tử Lan vì đã khuyên Hoài Vương vào nước Tần rồi không về được.
Khuất Bình đã ghét chuyện ấy, nhưng mặc dù bị bỏ rơi, ông vẫn nhớ Tổ quốc, lòng vẫn không quên Hoài Vương, luôn luôn muốn trở về, mong mỏi được may mắn là vua hối ngộ, và thay đổi tánh tình... Ông cứ thiết tha về việc gìn giữ ngôi vua, làm cho quốc gia hưng thạnh... nên trong thiên Ly tao, ông đã nhắc đi nhắc lại điều đó đến 3 lần.
Rồi sau cùng, không còn làm gì được, ông không thể thay đổi gì... đành nhìn thấy Hoài Vương trọn đời không hối ngộ.
Lịnh doãn Tử Lan nghe chuyện ấy giận dữ, liền khiến Thượng quan Đại phu nói xấu Khuất Bình với Khoảnh Tương Vương.
Tương Vương giận liền đày ông đi...
Khuất Nguyên đến bờ sông, bỏ tóc xõa, vừa đi vừa hát bên bờ hình dung héo khô... liền làm bài phú Hoài sa... rồi sau cùng ôm đá, nhảy xuống sông Mịch La mà chết.
[Sông Mịch Thủy và La Thủy hợp lưu gọi là Mịch La giang, hạ lưu chảy vào sông Tương. Chỗ Khuất Nguyên nhảy xuống sông gọi là Khuất Đàm.
Khuất Nguyên sanh vào năm Sở Tuyên Vương thứ 27 (343 trước T.L.) tháng giêng, ngày Canh dần, năm ông tự trầm, có người cho là vào năm đầu Khoảnh Vương, cũng có người cho là vào năm thứ 3, sau khi Hoài Vương chết ở Tần.
Sách Tục Tề Hài chép: Khuất Nguyên tự trầm vào ngày mùng 5 tháng 5, ngày nay thành tục ngày "Đoan ngọ", v.v...]
Sau khi Khuất Nguyên chết, nước Sở có bọn Tống Ngọc, Đường Lặc, Cảnh Sai, đều thích về từ phú và nổi tiếng, nhưng tất cả đều noi theo từ lịnh của Khuất Nguyên và không một ai dám thẳng thắn gián can... Sau đó, nước Sở ngày càng yếu, vài mươi năm sau liền bị Tần diệt.
[Từ Khuất Nguyên trở đi, có nhiều người làm từ phú, thấy có chép trong Sở từ...
Đại để, người Sở gọi là Từ, người Hán gọi là Phú, Sở Từ như Cửu ca nguyên là những bài hát trong dân gian, nhưng đại bộ phận không thể ca.
Đến đời nhà Hán, những bài nào hát được thì phổ nhạc, gọi là ca thi, nếu đem diễn thì gọi là nhạc phủ, nếu không hát mà đọc thì gọi đó là "phú"].
11. phụ lục