Bách Gia Chư Tử

Lượt đọc: 190 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN BA
TÌNH HÌNH XÃ HỘI DƯỚI THỜI BÁCH GIA CHƯ TỬ

❊ ❊ ❊

Sơ lược sự kiện lịch sử thời Xuân Thu, Chiến Quốc. • 2. Tổ chức văn hóa xã hội thời nhà Châu là một di sản quí báu cho thời Xuân Thu Chiến Quốc. • 3. Tình hình văn hóa xã hội dưới thời Xuân Thu Chiến Quốc và nhận xét chung.

Trong phần trên, bạn đọc đã lược qua phần thân thế của Bách Gia Chư Tử, không dám quả quyết hẳn con người là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội, nhưng tư tưởng hành động của con người có quan hệ rất mật thiết đến hoàn cảnh xã hội đương thời. Vì thế, trước khi vào phần lược khảo các tác phẩm của Chư Tử, chúng tôi trình bày qua với bạn đọc hoàn cảnh xã hội đương thời với "sự kiện lịch sử" và "tổ chức văn hóa, xã hội của thời Xuân Thu Chiến Quốc" để các bạn có một ý niệm tổng quát về hoàn cảnh và trình độ xã hội của thời ấy, như thế sẽ giúp đỡ thêm các bạn rất nhiều trong việc tìm hiểu Bách Gia Chư Tử.

1. sơ lược sự kiện lịch sử thời xuân thu, chiến quốc

1. Thời Xuân Thu.

[722-479 trước T.L.]. Nhà Châu, sau khi dời đô về phía Đông, các đời vua suy nhược, chư hầu tự do, phóng túng, người xưng Công, kẻ xưng Bá, tranh giành đánh nhau không ngớt, trong nước rất rối loạn, nhơn dân hoặc phải làm binh lính, hoặc phải chịu ảnh hưởng của chiến tranh thật vô cùng khốn khổ. Đức Khổng Tử ở vào thời đại hỗn độn ấy, làm sách Sử ký nước Lỗ, kể những sự việc xảy ra ở nước ấy từ đời vua Lỗ Ẩn Công năm đầu [tức năm thứ 49 đời vua Châu Bình Vương ] đến Lỗ Ai Công năm thứ 14 [tức năm thứ 39 đời vua Châu Kính Vương] cọng 242 năm, gọi tên sách là Xuân Thu

Người đời sau nhân đó gọi thời đại ấy là Xuân Thu.

Đầu nhà Châu, số chư hầu hơn 1000 [gọi là chư hầu, nhưng thực tế chỉ là những bộ lạc với tù trưởng, và nhà Châu như là người lãnh tụ của các bộ lạc ấy] nhà Châu suy lần, chư hầu thôn tính lẫn nhau, đến lúc nầy, chỉ còn độ hơn 1 phần 10 nhưng trong sử sách chỉ thấy mấy nước là:

1. Nước Tề, ở Đông Nam huyện Xương Lạc, tỉnh Sơn Đông ngày nay.

2. Nước Sở, thuộc huyện Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc ngày nay.

3. Nước Tấn thuộc huyện Giáng, tỉnh Sơn Tây ngày nay.

4. Nước Tần, thuộc huyện Kỳ Sơn, tỉnh Thiểm Tây ngày nay.

5. Nước Lỗ, thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngày nay.

6. Nước Vệ, thuộc huyện Kỳ, tỉnh Hà Nam ngày nay.

7. Nước Tống, thuộc huyện Thương Khâu, tỉnh Hà Nam ngày nay.

8. Nước Yên, thuộc Đại Hưng, đất Kinh Triệu ngày nay.

9. Nước Trịnh, thuộc huyện Tân Trịnh, tỉnh Hà Nam ngày nay.

10. Nước Tào, thuộc huyện Định Đào, tỉnh Sơn Đông ngày nay.

11. Nước Trần, thuộc huyện Hoài Dương, tỉnh Hà Nam ngày nay.

12. Nước Thái, thuộc huyện Tân Thái, tỉnh Hà Nam ngày nay.

Trong 12 nước chư hầu kể trên thì có các nước Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống là lớn và mạnh hơn hết. Đến sau có nước Việt, thuộc huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang ngày nay, và nước Ngô, thuộc huyện Ngô, tỉnh Giang Tô ngày nay, nổi lên cùng các nước chư hầu khác tranh hùng.

Bấy giờ tuy nhà Châu đã suy, chính lệnh thiên tử không được chư hầu tuân theo nữa, nhưng ân đức các tiên vương chưa phai hẳn trong trí người, nên nhân tâm còn theo. Vì thế, chư hầu nào có mưu lược, thường lấy cớ "Tôn phò nhà Châu, đánh dẹp giặc rợ" để làm minh chủ sai khiến thiên hạ.

Làm được minh chủ các chư hầu thì gọi là Bá. Đời Xuân Thu có 5 chư hầu kế tiếp nhau làm minh chủ, gọi là Ngũ Bá, đó là Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước Tấn, Trương Công nước Tống, Trang Công nước Sở, Mục Công nước Tần.

Hoàn Công nước Tề là dòng dõi ông Thái công Vọng, nguyên huân, của nhà Châu, nhờ có tướng là Quản Trọng, biết dùng kẻ hiền năng, tu chỉnh việc vỏ bị, khai mỏ, đúc tiền, lấy nước biển làm muối, nước Tề thành phú cường, chư hầu đều phục.

Nước Linh Chi [Sơn Nhung] cử đại binh quấy nhiễu nước Yên, Hoàn Công đem binh sang cứu, lấy được địa giới Linh Chi, và nước Cô Trúc, cho cả nước Yên. Hoàn Công lại đem quân chư hầu đi đánh các rợ Di, Địch cứu nước Hình bị Bắc địch xâm chiếm, sai đắp thành cho Vệ, vì nước nầy bị rợ vào giết vua và cướp phá.

Nước Sở không chịu cống nhà Châu, Hoàn Công đi đánh: trước sau Hoàn Công hội chư hầu 9 lần, làm cho ai nấy đều thần phục thiên tử.

Nhưng sau khi Quản Trọng chết, ông dùng bọn tiểu nhân như Thọ Điêu, Dịch Nha, Khai Phương, lại ham vui chơi, trễ nải việc nước, nên uy quyền suy lần.

Đến lúc ông chết, các công tử tranh nhau kế vị, trong nước rối loạn, bá nghiệp lại về Văn Công nước Tấn.

Văn Công nước Tấn là dòng dõi ông Đường Thúc Ngu, em vua Châu Thành Vương, vì chuyện trong nước phải trốn tránh ở ngoài, khi lên ngôi đã 62 tuổi.

Ông dùng các ông Thiệu Thôi, Hồ Yển, Tiên Trẩn hết sức sửa sang việc nước. Bấy giờ nước Trung Hoa bị Di, Địch quấy nhiễu luôn.

Xích Địch vào nhà Châu, Tương Vương phải chạy qua đất Trịnh, Văn Công hội chư hầu đi đánh dẹp và rước thiên tử về ngôi. Lại đại phá quân Sở ở Thành bộc, rồi hội chư hầu vào chầu vua Tương Vương mà ăn thề tôn nhà vua, không được hại lẫn nhau.

Văn Công mất, con là Tương Công kế vị, đánh được quân Tần ở đất Hào [Lạc Ninh, tỉnh Hà Nam ngày nay]. Truyền vài đời đến Niên Công là bậc anh minh, dùng những người hiền năng như Hàn Quyết, Triệu Võ, Ngụy Giáng cùng nước Sở tranh hùng, bá nghiệp rất thạnh.

Về sau, con cháu kế làm minh chủ, có những bề tôi lão thành phụ tá, nên cơ ngiệp còn hơn 100 năm nữa. Bấy giờ, Tần, Sở tuy mạnh và có ý dòm ngó Trung Nguyên, nhưng không xâm lấn được.

Mục Công nuớc Tần là hậu duệ ông Ích, nhà Châu dời về phương Đông, cho nhà Tần đất Tây Châu, nên nước Tần được rộng thêm.

Đến đời Mục Công có Bá Lý Hề làm tướng, chăm lo việc chánh trị, đánh đuổi rợ Tây nhung, mở nước rộng thêm ngàn dặm, rồi làm Bá rợ nầy ở phương Đông, vì nước Tấn đương mạnh, chưa thể cùng tranh ngôi minh chủ được.

Tương Công nước Tống là hậu duệ ông Vi Tử đời Thương, sau khi Hoàn Công nước Tề chết, ông định thay làm minh chủ nên hội chư hầu ở Lộc thượng, nhưng việc không thành, sau lại hội ở đất Hu, ông bị nước Sở bắt.

Được tha về, ông đem quân đi đánh nước Sở, thua, bị thương rồi chết.

Trang Vương nước Sở từ khi mới lên ngôi, đã say đắm tửu sắc không thiết gì đến việc nước. Sau nhờ gián thần khuyên can, đổi tánh nết, rất được lòng dân. Ông diệt nước Dung, đánh nước Tống, đánh rợ Lục hồn, rồi đến Lạc ấp [kinh đô nhà Châu] xem binh bị nhà Châu, có ý dòm ngó Châu thất.

Ông phá quân Tấn ở đất Bi rồi làm Bá chủ chư hầu. Truyền đến Bình Vương vì nghe lời sàm thần, giết hiền thần Ngũ Xa, con Xa là Ngũ Viên [tức Ngũ Tử Tư] qua cầu cứu nước Ngô, đem quân về đánh, Sở Vương thua bỏ chạy, may nhờ có viện binh của Tần mới giữ nước được.

Mấy năm cuối đời Xuân Thu, vua nước Ngô là Hạp Lư, Phù Sai, vua nước Việt là Câu Tiển lại là những Bá chủ xuất sắc.

Hạp Lư, Tôn thất nhà Châu, dùng vong thần nước Sở là Ngũ Tử Tư, đánh nước Sở, đại thắng, oai danh lừng lẫy Trung quốc, nhưng về sau đánh với Câu Tiển bị thương rồi chết.

Câu Tiển là hậu duệ vua Thiếu Khương nhà Hạ, thắng Hạp Lư rồi, sau ông bị con Hạp Lư là Phù Sai đánh thua, và vây ở Cối Kê [nay thuộc Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang] phải hạ mình xin hòa.

Từ đó, trong 10 năm trời, ông cùng bầy tôi là Phạm Lãi, Văn Chủng, hết sức mưu tính việc báo thù. Bấy giờ Phù Sai rất kiêu sa, đang tranh hùng với chư hầu, Câu Tiển thừa dịp vào nước Ngô, đánh dứt Phù Sai, thanh thế chấn động khắp mọi nơi.

Các Bá chủ kế tiếp nhau ra oai, xưng hùng, xuống lịnh, khi đó Thiên tử chỉ là hư vị, đã không dám hỏi đến họ, mà nhiều khi lại phải nhờ đến họ để can thiệp vào việc riêng của mình, các chư hầu nhỏ thì nương vào nước mạnh để nhờ che chở.

Tranh giành để lập công danh, các Bá chủ khi hòa, khi chiến, nay minh, mai hội, làm tao nhiễu cả thiên hạ cho đến đời Chiến Quốc.

2. Đời Chiến Quốc.

[403-221 trước T.L.]. Cuối thời Xuân Thu các chư hầu đua nhau mở mang bờ cõi, nước càng mạnh lần. Đã phú quí rồi, tự nhiên tập thành cái thói an lạc, việc chánh trị đều giao cho bầy tôi, họ Điền ở nước Tề, sáu quan Khanh ở nước Tấn, vì chuyên quyền mà thành mạnh lần.

Sau Điền Hòa đoạt nước Tề, Hàn Kiều, Ngụy Tư, Triệu Tịch, chia nhau nước Tấn, và đều được nhà Châu phong làm chư hầu.

Bốn nước nầy và Tần, Sở, Yên cùng nhau đối địch, đều thích việc chiến tranh, danh tuy lấy nhà Châu làm chủ, nhưng thật ra đều là những nước độc lập.

Từ đó, 7 nước đánh nhau liên miên, đời gọi thời gian ấy là Chiến Quốc, và 7 nước ấy là Thất hùng.

Thất hùng là:

1. Ở nước Tần, sau Mục Công hơn 10 đời, đến Hiếu Công, có tướng là Thương Ưởng biến đổi các pháp chế, chăm nom việc cày cấy, ngoài lo việc chinh phạt, nên nước trở nên giàu mạnh, từ đó, vua Tần hùng cứ đất Quan Trung mà mưu thôn tính các chư hầu ở Sơn Đông [Quan Trung tức là Thiểm Tây ngày nay. Vì nằm trong 4 cửa ải: Hàm cốc, Tân quan, Tiêu quan, Võ quan nên gọi là Quan Trung].

2. Nước Sở, dưới đời Chiêu Vương, tuy bị quân Ngô đánh bại, nhưng chẳng bao lâu lại thạnh lên được.

Sau đó, Huệ Vương diệt được nước Trần, nước Thái, Giản Vương diệt nước Lữ, đến đời Uy Vương, Sở có một giải đất ở phương Nam, đất rộng dân đông, nước rất cường thạnh.

3. Nước Yên là đất nhà Châu, phong cho người đồng họ là Triệu Công Thích. Đời Xuân Thu, thế nước còn yếu, đến đời Chiến Quốc, chiếm được phía Bắc nước Tề, rồi cùng chư hầu tranh hùng ở mặt Nam.

4. Điền Hòa tiếm nước Tề, truyền đến cháu nội là Uy Vương, nước được đại trị, các chư hầu không dám phạm đến. Sau nước Ngụy đánh nước Hàn, Chiêu Hầu là vua nước Hàn đến cầu cứu nước Tề, Tề Tuyên Vương sai Điền Kỵ, Tôn Tẩn đi đánh Ngụy, đại thắng ở Mã Lăng, giết tướng là Bàng Quyên và bắt được thái tử Thần.

Đất nước Tề [nay thuộc huyện Lâm Tri, tỉnh Sơn Đông] giáp biển, có núi non hiểm trở, giàu, đông dân, nên là nước có thế lực nhứt trong số các chư hầu thời bấy giờ.

5. Nước Triệu là do Triệu Tích chiếm một phần đất của nước Tấn [nay thuộc huyện Đàm Đan, tỉnh Trực Lệ] mà lập lên, rồi lấy hiệu là Liệt hầu, đô ở Hàm Đan.

Sau nước Triệu thắng nước Tề, đánh được Ngụy và đất Trung Sơn [nay thuộc huyện Địch, tỉnh Trực Lệ] nên càng thêm mạnh.

6. Nước Ngụy, do Ngụy Tư đồng họ với nhà Châu, chiếm một phần đất của nước Tấn [nay thuộc huyện Giải, tỉnh Sơn Tây] mà dựng lên rồi lấy hiệu là Văn hầu, đô ở An ấp. Văn hầu dùng Bộc tử Hạ, Điền tử Phương làm thầy, sai Nhạc Dương đánh Trung Sơn, dùng Ngô Khởi làm tướng đánh dẹp, làm cho nước Tần không dám dòm ngó đến phương Đông. Đến con là Võ hầu, nhiều lần đánh nước Tề, nước Triệu, phá được quân Sở, lừng lẫy một thời.

7. Nước Hàn là của Hàn Kiều, cũng đồng họ với nhà Châu, chiếm một phần đất của nước Tấn [nay thuộc huyện Võ, tỉnh Hà Nam] mà dựng nên, lấy hiệu là Cảnh hầu, đô ở Dương quắc.

Từ đời Cảnh hầu đến Văn hầu, đánh nước Trịnh, lấy được Dương thành [phía Nam đất Đăng phong, tỉnh Hà Nam] đánh nước Tống, bắt được vua, và đánh nước Tề.

Chiêu hầu dùng Thân Bất Hại làm tướng, trong sửa sang việc chính giáo, ngoài ứng đối với các chư hầu, nên nước trị, binh cường.

*

Bảy nước trên, mỗi nước hùng cứ một phương, nhưng địa thế nước Tần lợi hơn, vì Tần có cửa quan Hàm Cốc [nay ở Tây Nam, đất Linh bảo, tỉnh Hà Nam] đóng cửa quan lại mà giữ, thì quân chư hầu không đánh mình được, mở cửa quan ra mà đánh, thì quân chư hầu không cự lại được.

Bấy giờ có người nước Triệu là Tô Tần, hiểu rõ hình thế thiên hạ, xướng lên thuyết "Hợp Tung", cùng nhau liên hiệp để chống lại Tần.

Lại có Trương Nghi là bạn của Tô Tần, đã cùng Tần học với Quỉ Cốc tiên sinh, xướng lên thuyết "Liên Hoành" khuyên các nước cùng nhau liên hiệp với Tần.

Tô, Trương đem thuyết mình đi giảng giải với các chư hầu rồi đều được giàu sang.

Tô được đeo ấn 6 nước, Trương thì 2 lần làm tướng nước Tần. Từ đó phong trào du thuyết rất thạnh, các nước nuôi hàng ngàn biện sĩ, mỗi người chủ trương một phương sách. Rồi khi phân, khi hợp, khi chiến, khi hòa, can qua không dứt, quốc lực hao mòn.

Tựu trung, như Khương Vương nước Tống, Mân Vương nước Tề, đều vì ham dùng binh mà bị diệt; Chủ Phụ nước Triệu, Chiêu Vương nước Yên thì dùng binh được nhiều thành tích. Còn nhóm Liêm Pha [tướng nước Triệu], Triệu Xa [tướng nước Triệu], Nhạc Nghị [tướng nước Yên] nhờ chinh chiến mà nổi danh một thời.

Tuy rằng nước nào cũng vì thời thế bắt buộc, nhưng vì đánh nhau mãi mà nước yếu nghèo, thù ghét nhau càng lắm, chỉ làm cho nước Tần dễ thôn tính mà thôi.

3. Nhà Châu diệt vong.

Nhà Tần dùng kế của Tư Mã Thác, lấy được Ba Thục nên nước càng giàu mạnh, bèn đánh nước Ngụy, phá nước Hàn, nước Sở. Trong hơn 50 năm, năm nào cũng xuất binh, làm cho các chư hầu ở Sơn Đông rất là khốn đốn. Đến đời Chiêu Vương, Tương Vương nhờ tướng quân là Bạch Khởi và kế "Viễn giao cận công" của Phạm Tuy nên thường đánh phá được các chư hầu.

Chỉ trận đánh nước Triệu, bị quân liên hiệp của Xuân Thân nước Sở và Tín Lăng nước Ngụy đánh thua, nhưng nước Tần không vì thế mà suy, mà chí xâm lược lại càng hăng hái.

Nhà Châu ngày càng suy yếu, vua Noãn Vương sợ bị Tần diệt, nên cùng chư hầu hợp quân đánh Tần, quân Tần liền vào nhà Châu và chiếm hết đất.

Vua Noãn Vương xin hàng, Tôn thất nhà Châu là Đông Châu Quân lại cùng chư hầu mưu đánh Tần, bị Tần đem an trí ở đất Dương Nhân [ở phía Tây Lâm nhữ, tỉnh Hà Nam ngày nay]. Nhà Châu mất từ đó. Bấy giờ là năm đầu Trang Tương Vương nhà Tần.

Nhà Châu từ đời vua Võ Vương đến đó, được 37 đời, cọng 874 năm [1134-247 trước T.L.].

2. tổ chức văn hóa xã hội thời nhà châu là một di sản quí báu cho thời xuân thu chiến quốc  

Thời Xuân Thu Chiến Quốc đã thừa hưởng được một gia tài quí báu về vật chất lẫn tinh thần của thời nhà Châu, thế nên muốn tìm hiểu tình hình văn hóa xã hội thời Xuân Thu Chiến Quốc, chúng ta cũng nên tìm hiểu tình hình thời nhà Châu để hiểu rõ hơn tình hình xã hội của thời sau. Tìm hiểu tình hình văn hóa xã hội, tức tìm hiểu tổ chức xã hội của thời ấy và nếp sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần của dân chúng thời đó.

Sau đây chúng tôi trình bày sơ lược về tổ chức trong chánh quyền dưới thời nhà Châu:

Nếp sinh hoạt về vật chất lẫn tinh thần của nhà Châu là noi theo hai đời nhà Hạ, nhà Thương trước, gom góp được tất cả những tinh túy của đời trước để phát triển thêm và mở đầu cho một nền sinh hoạt sáng lạn cho đời sau.

Đây là một thời kỳ rất quan trọng trong lịch sử Trung Quốc.

Sưu tầm: Huy Tran
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.