Bách Gia Chư Tử

Lượt đọc: 190 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 14 -
I. CHƯ TỬ THỜI TÂY HÁN

❊ ❊ ❊

Trở lên là phần lược khảo về thân thế Chư Tử, căn cứ phần nhiều theo tài liệu trong Sử ký Tư Mã Thiên, có thêm bớt cho hợp với nội dung quyển sách.

Các Chư Tử được kể đều là những nhân vật tiêu biểu cho 10 môn phái, Nho gia thì có Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử; Đạo gia thì có Lão Tử, Trang Tử; Mặc gia có Mặc Tử; Pháp gia có Thương Quân, Hàn Phi, Lý Tư; Danh gia có Huệ Thi, Công Tôn Long, đều là những người nổi danh hơn hết.

Phái Âm Dương gia có Trâu Viễn, Tung Hoành gia có Tô Tần, Trương Nghi, đây là những người tuy có tiếng nhưng không bằng những người của các phái đã kể trên.

Kế đó là những người như Hứa Hành, học thuyết của ông xuất phát từ Đạo gia, nhưng vì lại gán cho là của Thần Nông, cho nên mới gọi là Nông gia...

Thuyết của Tống Hình thì gần với Mặc gia, nhưng vì thiên về văn chương, chuyện tích cho nên gọi là Tiểu thuyết gia.

Lã thị Xuân Thu là do Môn khách viết, mà Lữ bất Vi chỉ đứng tên, học thuyết thì gom góp của nhiều phái, cho nên đứng sau cùng các nhân vật khác.

Căn cứ theo thời đại, trước hết là cuối thời Xuân Thu, Lão Tử và Khổng Tử mở đầu, cho đến Lý Tư thời nhà Tần, thì thời Chiến Quốc là thời kỳ toàn thạnh của Chư Tử, thế nên bàn về Chư tử, là nói đến thời kỳ Châu Tần, hay cũng gọi là Tiên Tần.

Sách Hán thơ nghệ văn chí của Ban Cố, dùng sách Thất lược của Lưu Hâm làm căn cứ.

Lưu Hâm là người cuối thời Tây Hán, Ban Cố là người của thời Đông hán lúc mới bắt đầu dựng nghiệp, cho nên về phần trích lục Chư Tử lược của ông, không hạn chế ở thời Châu Tần, mà lại không có những người của thời Tây Hán.

Phong trào Chư Tử dưới thời Châu Tần còn ảnh hưởng đến thời Tây Hán sâu xa, vì thế cũng cần tóm lược thân thế một số Chư Tử dưới thời Tây Hán để cho quyển sách được đầy đủ hơn.

Sau đây xin kể 10 nhân vật có tiếng nhứt trong số Chư Tử dưới thời ấy:

1. Lục Giả

Người nước Sở, giúp Hán Cao Tổ định thiên hạ, thường đi sứ đến Chư hầu, có hai lần đi sứ sang Việt Nam, thương thuyết với Triệu Đà.

Dưới thời Lữ Hậu, thường với Thừa tướng Trần Bình, Thái Úy Châu Bột cùng nhau diệt họ Lữ...

Như thế ông thuộc phái Tung Hoành gia.

Trong Hán chí, phần Thi phú lược phân phú ra làm 4 loại, loại thứ 3, thuộc về Lục Giả, như thế Lục Giả cũng là một Từ phú gia.

Ông có viết cho Cao Tổ một quyển sách gồm 12 thiên gọi là Tân Ngữ Hán chí. Sách nầy được liệt vào phái Nho gia.

2. Giã Nghị

Người đất Lạc Dương, làm chức Đình úy nước Ngô được Văn Đế triệu đến làm bác sĩ, năm sau, được lên chức Đại trung Đại phu, bị bọn Đại thần là Châu Bột, Quán Anh tìm cách ngăn trở, nên bị đưa ra Trường Sa làm Thái phó cho Trường Sa Vương, sau đó lại bị dời đến làm Thái phó cho Lương Vương.

Lương Vương té ngựa chết, Giã Nghị buồn vì làm Thái phó không nên việc gì cả, buồn rầu khóc lóc hơn một năm rồi cũng chết.

Bài phú "Bằng Điểu" của ông đã nói lên được tâm tư u uất của ông. Ông là một Từ phú gia mà lại có căn bản sâu sắc về Đạo gia, ông viết được 58 thiên sách, gọi là Tân thơ Hán chí, được liệt vào phái Nho gia.

3. Đổng Trọng Thư

Người Quảng Châu, làm bác sĩ dưới thời Cảnh Đế.

Võ Đế hỏi chánh sách với các kẻ sĩ văn học và hiền tài, Đổng Trọng Thư làm đối sách được hạng đầu, nên được làm Tướng quốc cho Giang độ Vương và Giang tây Vương.

Tài học của ông sở trường về truyện Công Dương Xuân Thu và các Nho gia trong Hán chí.

123 thiên sách của Đổng Trọng Thư đều là những bài sớ điều trần về giáo dục và những thuật trị nước, người đời sau chỉ gom tinh túy của một thiên mà cũng thành được tập sách.

4. Hoàn Khoan

Tự Thứ Công, người Nhữ Nam, dưới thời Tuyên Đế, thường làm quan Thái thú Lư Khâu.

Chiêu Đế hạ chiếu cho các kẻ sĩ hiền tài, văn học, hỏi về những điều khổ sở trong dân chúng, ai cũng nói chuyện muối và sắt làm khổ dân, ông cũng biện luận với Tang hoằng Dương về việc ấy.

Ông gom góp lại những lời biện luận ấy thành pho Diêm thiết luận, sách Hán chí liệt sách trên vào phần Nho gia, nhưng thật ra quyển Diêm thiết luận, không phải do chính tay Hoàn Khoan viết.

5. Lưu Hướng

Bổn danh là Cánh Sanh, dòng Tôn thất nhà Hán, dưới thời Ngươn đế, từng làm Tôn Chánh Cấp Sự Trung, sau đó đồng một lượt với nhóm Châu Kham, Tiêu vọng Chi, bị bọn hoạn quan Hoằng Cung, Thạch Hiển gièm siểm, bị hạ ngục mấy lần.

Lưu Hướng bực dọc liền viết mấy thiên sách: Tật sàm, Cứu nguy, Trích yếu, Thế tụng, gồm tất cả 8 thiên, ông lại gom góp những điều lành, dữ lạ lùng từ thời Thượng cổ đến đời nhà Hán viết thành pho: Hồng phạm ngũ hành truyện, góp các truyện ký và Thi, Thơ; làm các pho Liệt nữ truyện, Tân tự, và Thuyết uyển, Hán chí tổng xưng... Các sách kể trên đều được liệt vào phái Nho gia. Ngoài ra 8 thiên sách do chính ông viết [đã bị thất lạc] các sách đều do ông gom góp lại mà thành.

Dưới thời Thành đế, ông phụng chiếu lãnh chức Hiệu trung bí thơ, đó là sự nghiệp rất to lớn của đời Lưu Hướng, chính ông là người khai tổ cho ngành học sắp xếp mục lục đứng đắn, và khảo chính chỗ sai, chỗ đúng các sách của nước Trung Hoa.

6. Dương Hùng

Tự Tử Vân, người Thục quận, đất Thành đô, ban đầu làm quan Lang, đến thời Vương Mãng được lên chức Đại phu.

Trong sách Hán chí, phần Nho gia có "sách Dương Hùng sở tự", quyển "Thái huyền", Pháp ngôn" của ông viết cũng ở trong bộ sách kể trên.

Quyển Thái huyền phỏng theo Châu Dịch, còn quyển Pháp ngôn thì phỏng theo Luận Ngữ, ông lại phỏng theo sách "Ngu châm" viết quyển "Châu châm", phỏng theo Thương hiệt Thiên viết Huấn soán, phỏng theo Nhĩ nhã viết Phương ngôn, còn về phần chú, ông có viết thiên "Phản ly tao", "Bạn lao sầu" v.v... phỏng theo Ly Tao. Thiên "Giải trào", thì ông phỏng theo "Đáp khách nạn" của Đông Phương Sóc.

Các bài phú: Cam tuyền, Trường dương, Vũ lạp thì phỏng theo Tư mã Tương Như.

Như thế thì Dương Hùng sở trường về môn mô phỏng để sáng tác.

7. Triệu Thố

Người Dĩnh Châu, học với Trương Khôi về thuyết Hình, Danh của Thân bất Hại, Thương Quân.

Dưới thời Văn Đế, làm chức Thái thường Chưởng cố, phụng chiếu đến Tế Nam nhậm chức Thượng thơ với Phục Thắng, rồi sau đó làm Gia lịnh [dạy học] cho thái tử.

Thái tử rất kính, gọi là Trí Nang [trí khôn], Cảnh đế lên ngôi cho làm chức Nội sử, quyền lớn hơn chức Cửu khanh, rồi sau lại làm Ngự sử Đại phu.

Ông chủ trương xén bớt đất phong cho các vương hầu; Ngô, Sở, bảy nước làm phản, mượn danh trừ Triệu Thố, Cảnh đế nghe lời Đậu Anh, Viên Áng đem Triệu Thố ra chém ở chợ phía Đông.

Trong Hán chí, phần Pháp gia có Triệu Thố, với những thiên về: các sớ tâu, nghị... và về giáo dục.

8. Bằng Thông

Gốc tên là Triệt, húy tên Võ đế, nên cải lại là Thông, người Phạm dương, ông là người du sĩ dưới thời Tần Hán, ban đầu du thuyết với Phạm Dương rồi kế đó thuyết với Hàn Tín đánh Tề và làm phản nhà Hán để tự lập.

Đến khi Hàn Tín bị tội, lúc sắp bị giết có câu "hối hận vì không nghe lời Bằng sanh". Cao tổ liền bắt Bằng Thông muốn xé xác. Ông vì khéo nói mà khỏi.

Sau đó ông làm thượng khách cho thừa tướng Tào Tham, có viết quyển Huề thủy, sách Hán chí liệt vào phái Tung Hoanh gia.

Quyển sách nầy luận về việc quyền biến của các thuyết sĩ thời Chiến Quốc, nội dung phần lớn là chép lại các chuyện của du sĩ thời Chiến Quốc.

9. Trâu Dương

Người nước Tề, ban đầu làm khách ở Ngô vương Tỷ, vì ông can ngăn không được liền bỏ sang Lương Hiếu Vương, vì Dương Thắng gièm siểm, bị hạ ngục, sau lại được làm thượng khách.

Hiếu Vương sai người giết Viên Áng, ông bị liên can, liền vào Trường An.

Ông sở trường về từ phú, ngang hàng với Mai Thừa, Hán chí liệt ông vào hàng Tung Hoành gia.

10. Lưu An

Con của Hoài Nam Lệ vương Trường, ban đầu được phong Phụ lăng hầu, sau nối nghiệp Hoài Nam Vương, rồi sau vì mưu phản bị phát giác nên tự sát.

Lưu An thích văn học, ưa nuôi kẻ sĩ, Môn khách đã làm cho ông quyển Hoài Nam nội ngoại thơ, phần ngoại thơ đã bị thất lạc, Hán chí liệt ông vào phần Tạp gia.

*

Trở lại cộng chung tất cả 10 người. Dưới thời Tây Hán, không có sách của Danh gia và Mặc gia, vì đến thời kỳ đó, 2 phái ấy đã suy vi, còn các phái: Đạo gia, Âm Dương gia, Nông gia và Tiểu thuyết gia cũng không có nhân vật nào nổi danh.

Phần trên, những người được nêu tên, đều thuộc về Nho gia và Pháp gia, nhưng cũng không một ai xướng xuất ra được một học thuyết như Mạnh Tử, Tuân Tử, hay Thương Quân, Hàn Phi Tử.

Dưới thời Тây Hán, có một tác phẩm vĩ đại của một học giả, đó là pho Sử ký của Tư mã Thiên. Sử ký là một pho sử không tiền của nước Trung Hoa, và Tư mã Thiên cũng là đệ nhứt sử gia của Trung quốc, nhưng tính chất lại khác hẳn với Chư Tử,

Dưới thời Tây Hán, các học giả đều chú tâm Kinh học [Ngũ kinh] chuyên chú vào chương cú trong sách vở xưa, còn văn nhân thì chú trọng từ phú, sách vở của họ là những thiên từ phú diễn tả tâm tình hay những bài luận, bài sớ.

Từ đó, cái học của Chư Tử và việc trước thuật sách để phổ biến học thuyết, cũng bị suy vi.

Trong sách Hán chí, phần Chư Tử lược thời Tây Hán, có thể nói đó là phần chót suy tàn của Chư Tử thời Châu Tần... vì thế, những nhà khảo cứu, ít ai chú ý đến phần Chư Tử dưới thời Tây Hán.

Sưu tầm: Huy Tran
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.