1. Quan chế
Lúc ấy chế độ địa phương tập quyền đã phát triển mạnh, chế độ phong kiến lung lay và tan rã lần.
Chế độ Quận huyện lớn mạnh, quan chế địa phương dưới thời nầy có các quan: Tể, Doãn, Công, Đại phu, danh xưng tuy khác nhau, nhưng chức quyền thì giống nhau, đó đều là những chức quan hành chánh ở Huyện.
Ở nước Lỗ, Huyện có quan Tể, cũng như phần trước đã viết: Khổng Tử làm quan Tể đất Thành, Tử Cao làm quan Tể đất Phi v.v...
Ở nước Sở thì gọi là Công, như Diệp công, Trần công, Thái công và cũng gọi là Doãn.
Ở nước Tấn thì gọi là Đại phu...
Dưới thời Chiến Quốc cũng có chức Thú, đó là người phụ trách hành chánh ở Quận. Còn quan chế ở trung ương của các nước thì có 3 quan Khanh, chỉ có phân nửa số Lục quan của Thiên tử: đó là các quan Tư đồ, Tư mã, Tư không.
Ở các nước, như nước Tấn có các quan Thượng, Hạ quân, Tướng tá, ở nước Sở có Lịnh doãn, Tư mã, nước Tần có Tả, Hữu Thứ trưởng, nước Tống có Hữu sư, Tả sư, Tư thành, Tư khấu... Danh xưng tuy khác nhau, nhưng cũng đều là chấp chánh đại thần.
Đến thời Chiến Quốc, các chức trên đều được gọi là Tướng, sau đó lại được tôn là Tướng quốc, cũng y như Quốc vụ tổng lý hay Thủ tướng ngày nay.
Về quân sự thì gọi là Tướng quân cũng như chức Tổng tư lịnh bây giờ.
2. Điền chế Thuế vụ
Dưới thời Xuân Thu có phép đánh thuế vào mẫu ruộng. Sử chép: đời Lỗ Tuyên công, năm thứ 15, đánh thuế vào mẫu ruộng ngoài số ruộng công điền, mức thuế là 1 phần 10 trong số hoa lợi, nếu cọng thêm với hoa lợi của công điền thì thuế tăng lên gấp đôi.
Về chế độ nộp quân dụng thì y theo thời trước, căn cứ theo tỉnh điền để nộp số ngựa, xe trận, trâu và người lao công, nếu có thay đổi, thì chỉ đôi chút mà thôi.
Đến thời Chiến Quốc, nhà Tần dùng chánh sách của Thương Ưởng bỏ tỉnh điền, mở rộng bờ cõi để chiêu dụ dân chúng và quan không được lãnh ruộng, để cho dân được tự do mua bán ruộng làm của riêng.
Chánh sách thuế khóa cũng thay đổi, cứ tính theo số mẫu ruộng mà tính thuế, cứ để cho dân tự do canh tác, bao nhiêu cũng được, không hạn chế diện tích, vì thế mà đất đai ngày càng mở rộng thêm, mà cũng vì thế mà đi lần đến chỗ dân chúng giàu nghèo rất cách biệt nhau.
3. Binh chế
Cũng theo thời trước, thời Xuân Thu trưng binh trong nông dân, mà trong chiến tranh thì dùng xa chiến làm chủ. Nước Tấn là lớn hơn cả, lúc toàn thạnh, giáp xa có đến 4 ngàn chiếc, mỗi chiếc có 75 người theo, cọng chung quân số có đến 30 vạn người.
Đến thời Chiến Quốc, mới bắt đầu dùng cách mộ lính. Triệu Võ Linh ăn mặc theo người Hồ, tập cỡi ngựa bắn cung, đa số các nước bắt chước theo, vì thế Trung quốc bắt đầu dùng kỵ binh từ lúc ấy.
Quân số ở các nước lớn, mỗi lần huy động toàn lực, có đến mấy mươi vạn hay 100 vạn, xe ngựa có đến cả ngàn hay cả vạn chiếc vì thế quân chế và chiến thuật có thay đổi nhiều hơn trước, quân số cũng gia tăng, và cũng từ đó thế lực của Trung quốc đã áp đảo được các vùng xung quanh.
4. Hình chế
Dưới thời Xuân Thu cũng noi theo Ngũ hình thời trước, nhưng các hình thức cắt tai, cắt mũi, xâm mặt, đóng gông chỉ thi hành trong giới dân chúng còn hàng quí tộc thì khỏi.
Lớp quí tộc có tội thì bị đày, đến thời Chiến Quốc, quân quyền rộng lớn thêm, thì hình pháp lại càng chặt chẽ hơn.
Dưới thời nhà Tần có hình phạt liên can đến 3 họ, 7 họ, 10 họ... lại có hình phạt chém ngang lưng, ngựa xé xác v.v...
Nước Sở có hình phạt giết cả gia đình, nước Tề có hình phạt phanh thây, nước Triệu có Di hình [giết cả 9 họ]. Tóm lại hình phạt chỉ do sự tùy thích của vua chúa mà thi hành chớ không chiếu theo luật pháp thành văn hay tập quán gì cả, vì thế mà hình pháp lần lần đi đến chỗ hết sức tàn khốc.
— Tuyển chọn nhơn tài
Dưới thời Xuân Thu, đời đời ăn lộc, đời đời làm quan, cha truyền con nối, đó là chánh thể chuyên chế của quí tộc, mặc dù chế độ tuyển cử đã có đặt ra, nhưng lại không dùng.
Dưới thời Chiến Quốc, việc cạnh tranh rất kịch liệt, được lòng kẻ sĩ thì nên nghiệp Bá, mất lòng kẻ sĩ thì cơ nghiệp tiêu tan, vì thế các bậc vua chúa, và các bậc đại thần đều hạ mình đem lễ vật trọng hậu để tiếp đón du sĩ, bất luận thân sơ, bất luận mới cũ, nếu ai có tài, mặc dù là kẻ thù cũng tìm cách dùng cho được... và mặc dù đó là kẻ tà vạy cũng không bỏ, dùng được càng nhiều người càng tốt.
Dưới thời Tề Tuyên Vương, nhóm Tắc Hạ, đông đến mấy ngàn người, trong số đó có đến phân nửa số người thuộc thành phần trung và hạ lưu trong xã hội. Sau đó, đến những năm cuối thời Chiến Quốc, Mạnh thường quân Điền Văn nước Tề, Tín lăng quân Công tử Vô Kỵ nước Ngụy, Ngụy Thắng nước Triệu, Xuân thân quân Hoàng Yết nước Sở, mỗi người nuôi kẻ sĩ trong nhà, có đến mấy ngàn.
Trong số tân khách đông đảo ấy, mặc dù là bình dân, nếu có một nghề sở trường là có thể nhờ đó mà được phú quí, vì đó mà chế độ giai cấp quí tộc bị lung lay, tiếp theo quần hùng chia nhau cát cứ địa phương, mỗi người đều có chủ quyền riêng và chọn người cai trị theo ý mình, nhờ đó mà kẻ sĩ muốn tìm hiển vinh, nếu đến nước nầy không được thì lại đi sang nước khác.
Có người, ngày hôm qua là kẻ đào vong lang thang, nhưng ngày hôm nay đã trở thành một Tể tướng quyền cao, tước trọng.
Tô Tần, Trương Nghi, Thương Ưởng, Phạm Thư, v.v...có kẻ là người đã từng bị phạm tội, có kẻ là người đi trốn tránh, đều là những người tầm thường, chỉ trong một sớm một chiều mà thành danh tướng văn hay võ của một nước lớn, đó là chuyện thường, không một ai lấy làm lạ.
*
Trong thời gian ấy các ngành Học thuật phát đạt một cách mạnh mẽ dị thường, nước Trung Hoa, trải qua mấy ngàn năm lịch sử, các môn như triết học, văn học, khoa học, mỹ thuật và các ngành kỹ nghệ khác, ngoài ra việc từ ngoại quốc du nhập vào, đại đa số đều được phát sinh ra trong thời gian nầy.
Cũng từ lúc đó, văn tự lần lần phát triển, từ lối văn tự tượng hình đi đến lối đại triện và tiểu triện, nhờ đó mà tiết kiệm được thời gian và trí nhớ của con người, và việc ghi chép học tập được dễ dàng rất nhiều.
Lúc ấy, chế độ học hiệu của thời xưa cũng bị suy tàn, phong trào tư nhân dạy học phát triển mạnh. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử và các Chư Tử khác, ai ai cũng dạy học trò, số đệ tử đông có đến cả ngàn, mở phong trào dạy tư cho đến đời sau.
Kết quả của phong trào dạy học ấy là kẻ sĩ càng lúc càng nhiều, nhiều hơn số học trò trong các trường nhà quan.
Điều nên chú ý là việc dạy trong các trường quan cứ y theo qui củ cũ, còn tư nhơn dạy học thì mỗi người theo chủ trương riêng của mình, có chỗ hay mà cũng có chỗ dở, đó là đặc điểm của nền giáo dục dưới thời Chiến Quốc.
Nhờ phong trào dạy học ấy mà kẻ sĩ rất đông, phong trào du hiệp thạnh hành, thích giúp đỡ người hoạn nạn, dù cho mình có tan xương, nát thịt cũng vui lòng. Những gương như Trinh Anh, Dự Nhượng nước Tấn, Lạn Tương Như, Mao Toại nước Triệu, Kinh Kha, Điền Quang, Phàn Ô Kỳ, Cao Tiệm Ly của nước Yên v.v... đều là những người tầm thường mà nổi danh trong thiên hạ.
Họ trọng nghĩa, xem cái chết nhẹ như lông hồng, và có lẽ phong thái ấy lưu truyền đến nước Nhựt mà biến thành môn Võ sĩ đạo.
B. Lễ Giáo
1. Chế độ gia tộc
Dưới thời Chiến Quốc, chế độ gia tộc phát triển thêm, việc cùng họ kết hôn bị cấm, các lễ hỏi cưới đều lần lần hoàn bị, trong khi đó thì chế độ đa thê lại thạnh hành.
Thiên tử có 3 bà phu nhơn, 9 bà tần, 27 thế phụ, 81 ngự thê, còn chư hầu thì một lần cưới đến 9 vợ. Nhà sĩ, Đại phu thì tự do nuôi tỳ, thiếp, pháp luật không ngăn cấm.
Thời ấy, địa vị người phụ nữ trong xã hội rất thấp kém, đàn ông xem đàn bà như nô tỳ, thường thường, vì một lý do nhỏ mọn cũng có thể để vợ, đó là chuyện không có gì lạ... người đàn bà bị để bỏ, pháp luật không cấm tái giá.
Lúc ấy, cũng có nạn tảo hôn, đồng thời phong tục lã lơi cũng lưu hành, đãng phụ, du tử, công nhiên cợt nhã mà không ai thấy chướng tai gai mắt, nhứt là ở nước Trịnh, rồi kế đó là nước Vệ, rồi sau là nước Trần, và các nước khác cũng có tật ấy nhiều hay ít.
2. Chế độ dòng dõi
Đến đời Chiến Quốc chế độ dòng dõi được hoàn bị thêm, dưới thời Thái Cổ, trai gái lộn xộn, con chỉ biết mẹ, mà không biết cha là ai rồi sau đó, lần lần mới có cưới hỏi thành vợ chồng, dòng dõi được rõ ràng.
Từ vợ chồng, rồi có cha con, anh em, luân lý cũng được qui định từ đó.
3. Lễ Tang tế
Chế độ gia tộc phát triển hoàn bị, đó là đặc điểm về tổ chức gia đình xã hội Trung Hoa, vì thế tang lễ cũng rất long trọng.
Đến thời nhà Châu, tang lễ đã hoàn bị, từ tang phục cho đến quan khách, cúng tế, việc gì cũng có thứ lớp và tỉ mỉ.
Từ Thiên tử cho đến thứ dân, tang lễ cũng được phân biệt rõ ràng.
Dưới thời Xuân Thu mới có tục tuẩn táng, Tần Mục Công chết, đem 3 đứa con của Tử Xa thị chôn theo... dưới thời Chiến Quốc, tục tuẩn táng còn ghê gớm hơn, vua chúa chết, có lúc tuẩn táng theo đến mấy trăm người, thật là một điều vô cùng tàn nhẫn, sau đó tục tuẩn táng được thay bằng hình nộm cho đến bây giờ cũng vẫn còn thấy ở một vài nơi.
Về tế lễ cũng lần lần hoàn bị hơn trước, ngoài việc tế Thiên thần, Địa kỳ, còn việc tế lễ người đã mất. Thiên tử thì tế lễ 7 miếu, chư hầu 5 miếu, đại phu 3 miếu v. v... đó là tế lễ người trước đã qua đời, thứ dân thì không lập miếu chỉ tế lễ ở nhà trong.
4. Việc bói toán và thuyết thần tiên
Việc bói toán rất thạnh hành trong thời kỳ nầy, trong nước có việc gì quan trọng, là bói toán. Ngoài ra, khi gặp vật gì thay đổi lạ lùng, hoặc nằm chiêm bao, hay nghe lời đồng dao, mà xét việc kiết hung, họa phước.
Đến cuối thời Chiến Quốc thì chuyện thần tiên rất thạnh hành. Trâu Viễn xướng xuất thuyết Âm Dương rồi sau đó, các tay phương sĩ ở vùng Yên, Tề, lại bày ra những chuyện thần tiên quái đản, để mê hoặc các vì vua chúa.
Lúc đó Tề Ung vương và Tuyên vương, Yên Chiêu vương v. v... rất tin thuyết thần tiên của bọn Phương sĩ nên sai người ra biển để tìm thần tiên, cho rằng người tiên có thứ thuốc trường sanh bất tử, nhưng sau cùng chẳng tìm được gì cả, đó là một biến động thất thường trong ngành tôn giáo, học thuật.
5. Dân phong các nước
Phong tục dân chúng trong các nước không giống nhau, đại để nước Lỗ thì chuộng Lễ, nước Tề chạy theo lợi, nước Việt tin quỉ thần, nước Tần thì chuộng công, Trịnh Vệ thì phong tục thiếu đoan chính.
Vùng Trâu, Lỗ ở cạnh sông Thù, Tứ, thích đạo Nho, theo Lễ nghĩa, sợ tội, xa lánh điều tà. Vùng Tam hà thì đất hẹp người đông nên dân chúng cần kiệm lo làm việc. Vùng Yên, Triệu thì nhiều kẻ sĩ khảng khái, thích bi ca. Lương, Tống thì trung hậu có nhiều bực quân tử, còn giữ được tục tốt của tiên vương, nước Sở thì khắc bạc, trí trá và ít tín nghĩa.
Đại để, vì địa lý và khí hậu các nước không đồng, lịch sử và di truyền của từng nước cũng khác nhau, thế nên phong tục, tính chất của dân chúng cũng có khác, đến khi nước Tần thống nhứt thì dân phong các nơi mới lần lần thống nhứt.
*
Trở lên là lược qua về hoàn cảnh lịch sử và tình hình văn hóa xã hội dưới thời Xuân Thu Chiến Quốc.
Nhận xét về sự phát triển mạnh mẽ của nền học thuật lúc ấy, sử gia Vương đồng Linh có mấy ý kiến:
"Thời đại học thuật toàn thạnh của Trung Quốc, chính là ở vào thời Chiến Quốc, mà điểm xuất phát là ở vào thời kỳ cuối đời Xuân Thu, các môn phái sánh vai nhau tuyên truyền phổ biến học thuyết mình, đó là một hiện tượng đặc biệt hiếm có trong lịch sử Trung Hoa mà có lẽ luôn cả trên thế giới.
Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng ấy, có mấy ý kiến sau đây:
1. Nhờ sức tiềm tàng phong phú
Một tập thể người lúc mới gầy dựng, thì phải từ chỗ tối tăm đi lần đến nơi sáng lạn, trình độ văn minh, không phải do một sớm một chiều mà thành tựu được. Căn cứ theo sách vở xưa đã ghi chép, từ lúc Hoàng đế, Nghiêu, Thuấn trở đi, thì nền văn hóa của Trung Hoa đã bắt đầu gầy dựng, rồi đến đời nhà Hạ, nhà Ân, và đến đời nhà Châu thì trung ương tập quyền đã hình thành và nền văn hóa cũng bắt đầu thống nhứt.
Trải qua một thời gian khá dài, nước Trung Hoa từ trạng thái man dã đã bước sang nếp sống văn minh, xã hội có tổ chức, nếp sống tinh thần phát triển mạnh, chính nhờ sức súc tích lâu dài, phong phú mà nền văn hóa Trung Hoa mới bộc phát một cách huy hoàng sáng lạn như thế.
2. Do nơi xã hội biến thiên
Từ đời Nghiêu, Thuấn đến lúc Châu sơ, rồi kế đó là nhà Châu dời sang phương Đông, cho đến cuối đời Xuân Thu, nước Trung Hoa đã trải qua nhiều biến thiên trọng đại.
Từ địa vực chánh trị cho đến dân tâm, phong tục, tất cả đều biến đổi và tiến bộ, sau mỗi lần phát minh về phương tiện giao thông và phương tiện sanh sản, rồi cũng từ đó mà học thuật tư tưởng tiến bộ theo, nền học vấn giai từng quí tộc lan rộng đến giới bình dân, đó cũng là điều kiện cho nền văn hóa phát triển mạnh.
3. Nhờ tư tưởng, ngôn luận tự do
Tư tưởng, ngôn luận mở đường cho chánh trị, quốc gia thống nhứt, tư tưởng ngôn luận được thống nhứt đúng theo ý nguyện của dân chúng thì nền văn hóa giáo dục cũng thống nhứt và phát triển mạnh.
Nhà Châu, với nền chánh trị thuần nhứt, chánh quyền trung ương vững mạnh, vì thế học thuật tư tưởng vững vàng, nhưng đến khi chánh quyền yếu kém, xã hội suy đồi thì học thuật, tư tưởng cũng bị tan rã theo.
Chánh quyền vững mạnh, học thuật tư tưởng được khuyến khích nâng đỡ, cho tự do phát triển đó là một điều kiện quan trọng làm cho nền văn hóa phát triển mạnh.
4. Nhờ đường sá giao thông tiện, kinh tế phát triển
Dưới thời Xuân Thu Chiến Quốc, các nước tiếp xúc nhau nhiều hơn trước, hoặc do chiến tranh, hay do các cuộc liên lạc giao thông ngoại giao, nhờ vậy mà giao thông ngày càng mở rộng.
Giao thông dễ dàng, con người đi đó đi đây, được gần gũi tiếp xúc nhau tất nhiên kiến thức được trao đổi và mở rộng.
Trong thời gian nầy sự sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh, và thương nghiệp cũng bắt đầu lớn lên làm cho sự sống con người được thoải mái hơn trước, đó cũng là một điều kiện quan trọng cho sự phát triển văn hóa.
5. Nhân tài được trọng dụng
Các nước tranh nhau, muốn có kẻ hiền tài, để cho nước giàu dân mạnh, và cũng sợ người giỏi qua nước khác gây nên tai vạ cho mình thế nên các nước đua nhau đón rước nhân tài.
Nước Tề có lúc chứa cả ngàn tân khách, đó cũng là một nguyên nhân làm cho nền học thuật, văn hóa phát triển mạnh.
6. Nhờ văn tự phát triển, và có lụa vải để thay thế thẻ tre
Văn tự phát triển, việc ghi chép dễ dàng, khỏi phải dùng lối chữ tượng hình. Văn tự phát triển đến mức có thể ghi những sự kiện trừu tượng của tư tưởng, rồi kế đó sự phát minh ra viết, vải lụa dùng để ghi chép tiện lợi, dễ cất, dễ đem đi, đó cũng là một điều kiện làm cho văn hóa, học thuật phát triển.
7. Và sau cùng, nhờ nền giáo dục phổ cập đến dân gian
Như phần trên đã viết, nhờ sách vở và việc học tập từ trong nhà quan đi lần ra dân chúng và được phổ biến rộng rãi thành phong trào đó cũng là một nguyên nhân chính làm cho văn hóa, học thuật phát triển mạnh.
*
Nhận xét chung về tình hình văn hóa, học thuật, tư tưởng lúc ấy, giáo sư Tiền Mục có những tổng kết như sau:
Thời Xuân Thu suốt một thời gian dài 240 năm, một mặt đó là thời kỳ rất rối loạn và khẩn trương nhưng có một mặt khác đó là cũng là thời kỳ nền văn hóa quí tộc của thời xưa phát triển đến một cao điểm chưa từng có, vì thế cho nên nền văn hóa lúc đó được hậu thế ngưỡng mộ và tôn trọng.
Tóm lại, giai từng quí tộc lúc ấy đã có những tư tưởng, hiểu biết về nền tôn giáo của thời xưa khá đúng đắn, mặc dù tin tưởng quỉ thần nhưng họ cũng nghĩ rằng: Đạo trời, không xa với đạo người... vì thế đối với cuộc sống, họ có những quan niệm khá rõ ràng, chính xác.
Lúc đó, mặc dù trên phương diện quốc tế, giữa nước nầy với nước kia, luôn luôn có những vụ xung đột binh đao, nhưng xu hướng chung là tất cả đều trọng hòa bình, cố gắng tránh việc binh đao và giữ tín nghĩa.
Về phương diện ngoại giao, các nước cũng giữ được phong thái văn nhã, tiêu biểu được cho nền văn hóa khá cao của thời phong kiến lúc bấy giờ. Lúc đó có nhiều khi chỉ làm một bài thi, chỉ viết một phong thơ mà giải quyết được những vấn đề chánh trị gay go, thật là một điều hết sức tốt đẹp.
Cho đến khi phải đánh nhau, mặc dù trong chiến tranh cũng vẫn còn giữ được tánh chất nhơn, đạo, giữ được tín nghĩa, biết khiêm nhượng, tạo thành một nét đặc biệt cho phong thái chánh trị lúc ấy. Vào thời nầy, đạo đức, nhơn nghĩa lễ trí tín, được tôn trọng hơn là sức mạnh của võ lực, đó là điểm khác biệt giữa thời Xuân Thu và Chiến Quốc.
Trong pho Tả truyện, mặc dù ghi rất ít về chánh trị nội bộ của các nước, nhưng lại ghi rất nhiều về việc sinh hoạt tư riêng của giai từng quí tộc thời ấy, qua sử liệu kể trên, lớp người quí tộc thời ấy thấy xa hiểu rộng, tinh thần khoáng đạt, nhơn cách hoàn bị, rất đáng cho người đời sau tôn kính và noi theo.
Nói chung, dưới thời Xuân Thu, nền văn hóa quí tộc của nước Trung Hoa xưa, đã phát triển đến một điểm rất cao, rất tốt đẹp, rất sáng lạn.
Rồi đến lúc giai từng quí tộc bị tan rã, để nhường chỗ lại cho giai từng bình dân, và tự nhiên nền văn hóa cũ cũng phải tự nhiên biến đổi để nhường chỗ lại cho một nền văn hóa khác hợp thời hơn.
Thời Chiến Quốc, có thể nói là một thời kỳ chiến tranh sát phạt, với những cuộc giao thiệp dối trá lừa đảo, tàn nhẫn, tiêu biểu cho giai từng quí tộc bị đọa lạc, trong khi đó thì từ giới bình dân đã bắt đầu xuất hiện một nền học thuyết, tư tưởng mới đó là thời đại hoàng kim của nền văn hóa Trung Quốc.
Phân tích kỹ, thì nền văn hóa ấy có thừa hưởng được những di sản tốt đẹp của nền văn hóa quí tộc cũ để phát triển thêm theo đúng đường lối của mình.
Vì thế chúng ta có thể nói, giới bình dân không phá hoại hẳn nền móng cũ, mà chỉ nương theo đó xây dựng cái mới cho hợp với giai từng mình hơn, và đó cũng là điểm mà các nhà học giả Trung Quốc bảo rằng: Nền văn hóa, học thuật của Trung Quốc từ xưa cho đến nay như chỉ có một phái nối tiếp nhau, và cũng nhờ điểm đó mà nền văn hóa Trung Quốc mới uyên thâm.