KHOA ĐIỂU CẦM HỌC XÔ VIẾT-HARVARD

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13dạy Chim Cách Bay
Chương 13dạy Chim Cách Bay

❊ ❊ ❊

Cuối cùng là chiếc bánh xe - Tư duy sơ khởi của Tony Béo - Vấn đề chính là chim hiếm khi viết lách như các nhà điểu cầm học - Kết hợp sự chất phác với trí khôn thay vì ngược lại

Ta hãy xem câu chuyện vali có bánh xe.

Tôi mang một chiếc vali lớn có bánh xe, chủ yếu chất đầy sách vở trong hầu hết mọi chuyến đi của mình. Chiếc vali nặng (tình cờ những quyển sách tôi thích mang theo khi đi xa luôn luôn có bìa cứng).

Vào tháng 6 năm 2012, tôi đang đẩy chiếc vali nặng nề chất đầy sách vở bên ngoài nhà đón khách sân bay quốc tế JFK, nhìn vào chiếc bánh xe nhỏ dưới đáy vali và bộ phận kim loại giúp đẩy nó lăn, tôi bất chợt nhớ lại những ngày tôi còn phải ì ạch lôi kéo đám hành lý chất đầy sách vở đi qua chính cái nhà đón khách này, thỉnh thoảng dừng lại để nghỉ và để cho axít lactic lưu thông khỏi cánh tay nhức mỏi của mình.60 Tôi không thể thuê một người khuân vác, và thậm chí nếu có thể, tôi cũng không cảm thấy thoải mái khi làm thế. Tôi lại đi qua cùng một ga đón khách ngày ấy sau ba thập niên, có và không có bánh xe, và sự tương phản đó thật kỳ quái. Nó khiến tôi choáng váng về việc chúng ta thiếu óc tưởng tượng đến mức nào: chúng ta đặt chiếc vali lên một chiếc xe đẩy có bánh xe, nhưng không ai ngày ấy nghĩ ra việc gắn trực tiếp những chiếc bánh xe nhỏ xíu vào bên dưới chiếc vali.

Liệu bạn có thể hình dung rằng phải mất gần 6.000 năm từ lúc phát minh ra bánh xe (được cho là phát minh của người vùng Lưỡng Hà) cho đến khi có ứng dụng thông minh này (của những người chế tạo hành lý ở một vùng công nghiệp ngoại ô ảm đạm)? Và hàng tỷ giờ đi lại của những người lữ hành như tôi lôi kéo hành lý qua những hành lang đầy các viên chức hải quan thô lỗ.

Tệ hơn, ứng dụng này chỉ xảy ra ba thập niên sau khi chúng ta đã đưa con người lên mặt trăng. Và hãy nghĩ đến mọi thứ tinh xảo phức tạp liên quan đến việc đưa con người vào không gian, và việc đó hoàn toàn không có tác động gì đáng kể đến cuộc sống của tôi, rồi so sánh nó với axit lactic trong cánh tay tôi, con đau nhức vùng thắt lưng tôi, nỗi ê ẩm trong lòng bàn tay tôi, và cảm giác bất lực trước một hành lang dài dằng dặc. Thật vậy, cho dù có ảnh hưởng cực kỳ, chúng ta vẫn đang nói tới điều gì đó tầm thường: một công nghệ hết sức đơn giản.

Nhưng công nghệ chỉ tầm thường sau khi nó đã xảy ra, chứ không phải trước khi ta có nó. Tất cả những bộ óc tài trí này, thường rối bời và lộn xộn, những người thường đi dự những cuộc hội nghị ở xa để thảo luận về các hạt vi lượng, về những phỏng đoán của Gõdel, Shmodel, Riemann, phải mang vác hành lý qua các nhà đón khách sân bay, mà không nghĩ đến việc sử dụng tài trí của họ cho vấn đề vận chuyển nhỏ nhặt này. (Chúng ta nói rằng xã hội trí thức ban thưởng cho những suy luận “khó khăn”, so với xã hội thực hành, trong đó không có sự trừng phạt dành cho tính đơn giản.) Và thậm chí nếu những con người tài trí này sử dụng những bộ não được cho là phát triển quá mức của họ vào những vấn đề hiển nhiên và tầm thường, biết đâu chừng họ sẽ chẳng đạt được thành tựu gì trong bất kỳ lĩnh vực nào khác.

Điều này cho ta biết đôi điều về cách thức ta vẽ ra tương lai. Con người chúng ta thiếu óc tưởng tượng đến mức ta thậm chí không biết những gì quan trọng của mai sau trông sẽ như thế nào. Ta sử dụng tính ngẫu nhiên để nhồi nhét chính mình bằng các phát minh khám phá; đó là lý do khiến khả năng cải thiện nghịch cảnh là cần thiết.

Bản thân câu chuyện bánh xe thậm chí còn hổ thẹn hơn so với câu chuyện chiếc vali: người ta không ngừng nhắc nhở ta rằng người Mesoamerica (vùng Trung Mỹ và phía nam của Bắc Mỹ) không phát minh ra bánh xe. Nhưng họ quả thật đã phát minh ra bánh xe. Họ đã có bánh xe, nhưng đó là bánh xe trong những món đồ chơi nho nhỏ cho trẻ con. Nó hệt như câu chuyện chiếc vali: người Maya và Zapotec không đạt được bước nhảy ứng dụng. Họ sử dụng những lượng nhân công lớn, lượng bắp ngô lớn, và axit lactic để di chuyển những tảng đá khổng lồ trong không gian phẳng lẽ ra rất lý tưởng cho những cỗ xe đẩy và xe ngựa, nơi họ xây các kim tự tháp. Họ thậm chí còn lăn những tảng đá trên những súc gỗ. Trong khi đó, con em họ lăn đồ chơi có bánh xe trên sàn vữa (hay cũng có thể chúng không được chơi như thế, vì đồ chơi biết đâu chỉ sử dụng cho mục đích tang lễ).

Câu chuyện cũng tương tự với động cơ hơi nước: người Hy Lạp cũng có một dạng động cơ hơi nước vận hành, lẽ dĩ nhiên chỉ để giải trí: dụng cụ aeolipyle - một tua-bin xoay tròn khi đun nóng, như đã được Hero xứ Alexandria mô tả. Nhưng phải đến Cách mạng công nghiệp chúng ta mới biết áp dụng phát minh lâu đời này.

Cũng hệt như những thiên tài vĩ đại đã tạo ra những phát minh đầu tiên, chính những đổi mới trong thực hành đã tìm thấy tổ tiên lý thuyết của chúng.

Trong quá trình phát minh và ứng dụng dường như có điều gì đó âm thầm lén lút - điều mà con người thường gọi là sự tiến hóa. Chúng ta được dẫn dắt bởi những thay đổi tình cờ nho nhỏ (hoặc lớn lao), mang tính chất tình cờ nhiều hơn so với ta chịu nhận. Ta huênh hoang khoác lác, nhưng ta gần như không có óc tưởng tượng, ngoại trừ một ít người nhìn xa trông rộng, những người xem ra đã nhận thấy khả năng chọn lựa của sự việc. Ta cần chút ngẫu nhiên để giúp mình vượt qua, và cần khả năng cải thiện nghịch cảnh nhiều gấp đôi, vì tính ngẫu nhiên đóng vai trò nhất định ở hai cấp độ: phát minh và ứng dụng. Luận điểm đầu tiên không có gì đáng ngạc nhiên, cho dù ta xem nhẹ vai trò của sự tình cờ, nhất là khi nó liên quan đến các phát minh khám phá của chúng ta.

Nhưng tôi phải mất cả đời mới nhận ra luận điểm thứ hai: việc ứng dụng không nhất thiết xảy ra từ các phát minh. Nó cũng đòi hỏi sự may rủi và hoàn cảnh. Lịch sử y học rải rác những trình tự lạ kỳ của việc khám phá ra phương pháp điều trị rồi sau đó được ứng dụng muộn hơn rất nhiều, cứ như thể hai hoạt động này hoàn toàn tách biệt nhau, trong đó việc thực hành khó hơn vô cùng so với việc phát minh ra phương pháp điều trị. Cũng hệt như việc đưa thứ gì đó ra thị trường đòi hỏi phải đấu tranh với những kẻ chống đối, các cơ quan quản lý, những bộ đồ trống rỗng, những người theo chủ nghĩa hình thức, và hàng núi chi tiết đè bẹp ta, và đôi khi cả tâm trạng chán nản của ta. Nói cách khác, ta phải nhận diện được quyền chọn (một lần nữa, người ta thường bị mù trước các quyền chọn). Khi ấy, tất cả những gì bạn cần là sự khôn ngoan để nhận ra bạn có gì trong tay.

Phát minh nửa vời. Có những thứ mà ta có thể gọi là phát minh nửa vời, và biến những phát minh nửa vời này thành phát minh trọn vẹn quả thật là một cú đột phá thật sự. Đôi khi bạn cần có một tầm nhìn để biết mình phải làm gì với một phát minh, một tầm nhìn mà chỉ có một người duy nhất mới có. Ví dụ con chuột máy tính, hay cái gọi là giao diện đồ họa: Phải có Steve Jobs để đưa nó vào chiếc máy tính rồi đến chiếc laptop của bạn - chỉ có ông mới có tầm nhìn biện chứng (dialectic) giữa hình ảnh và con người - rồi về sau bổ sung thêm âm thanh thành tam biện chứng (trilectic). Như người ta nói, những sự việc này “lồ lộ trước mắt ta”.

Hơn nữa, những “công nghệ” đơn giản nhất, hay có lẽ chẳng phải công nghệ mà là những công cụ, như chiếc bánh xe, là những thứ dường như giúp vận hành cả thế giới. Bất chấp quảng cáo thổi phồng, có những thứ ta gọi là công nghệ lại có tỷ lệ tử vong rất cao, như tôi sẽ chứng minh trong chương 20. Chỉ cần suy nghĩ rằng trong tất cả các phương tiện giao thông từng được thiết kế vào 3.000 năm trước, từ cuộc tấn công của người châu Á cổ đại (Hyksos) và các bản vẽ của Hero xứ Alexandria, phương tiện giao thông cá nhân ngày nay chỉ giới hạn trong xe hai bánh và ô tô (cùng một vài biến thể giữa hai loại này). Thậm chí khi đó, công nghệ xem ra cũng có lúc tiến lúc lùi, với những thứ tự nhiên hơn và đỡ mỏng manh hơn thế chỗ cho những sản phẩm công nghệ. Bánh xe ra đời ở Trung Đông, xem ra đã từng biến mất sau khi người Ảrập xâm lược vùng Levant rồi du nhập phương tiện giao thông bằng lạc đà được sử dụng phổ cập hơn, và dân chúng nhận ra rằng lạc đà mạnh mẽ hơn, vì thế sẽ hiệu quả hơn trong dài hạn so với công nghệ mỏng manh của bánh xe. Thêm vào đó, vì một người có thể kiểm soát sáu con lạc đà, nhưng chỉ kiểm soát được một cỗ xe, nên sự thụt lùi của công nghệ có vẻ vững chắc về mặt kinh tế hơn.

Câu chuyện chiếc vali dường như trêu ngươi tôi khi tôi nhìn vào tách cà phê bằng sứ và nhận ra rằng ta có một định nghĩa đơn giản về tính mỏng manh, dẫn đến một quy tắc suy nghiệm đơn giản và thực tiễn: phát minh càng đơn giản và càng hiển nhiên, thì để nhận ra nó ta càng ít cần đến phương pháp phức tạp. Mấu chốt là ở chỗ, những gì quan trọng chỉ có thể bộc lộ thông qua thực hành. Có bao nhiêu trong số các suy nghiệm đơn giản đến mức tầm thường này hiện đang nhìn vào ta và trêu ngươi ta?

Câu chuyện bánh xe cũng minh họa cho luận điểm của chương này: cả chính phủ và các trường đại học gần như không giúp ích gì cho việc phát minh đổi mới và khám phá, chính xác là vì, ngoài chủ nghĩa duy lý mù quáng của họ, họ đi tìm những thứ phức tạp và kinh khủng, những gì đáng đưa tin và tường thuật, khoa học và hoành tráng, chứ hiếm khi nhìn vào chiếc bánh xe dưới đáy vali. Tôi chợt nhận ra, tính đơn giản không dẫn đến các giải thưởng.

Lưu ý đến khoáng cách

Như ta đã thấy với câu chuyện Thales và chiếc bánh xe, khả năng cải thiện nghịch cảnh (nhờ vào ảnh hưởng phi đối xứng của hoạt động thử nghiệm và sửa sai) thay thế cho trí thông minh. Nhưng vẫn cần có đôi chút trí thông minh. Từ thảo luận của chúng ta về tính duy lý, ta thấy rằng tất cả những gì ta cần là khả năng nhận ra những gì ta hiện có tốt hơn những gì ta có trước đây - hay nói cách khác, ta nhận ra sự hiện diện của quyền chọn (hay “thực hiện quyền chọn” như cách nói trong kinh doanh, nghĩa là tranh thủ lợi thế của một phương án quí giá, ưu việt hơn so với phương án trước đó, với lợi ích chắc chắn từ việc chuyển đổi từ phương án này sang phương án kia, phần duy nhất của quá trình đòi hỏi phải có tính duy lý). Và từ lịch sử công nghệ, chẳng có gì bảo đảm rằng lúc nào ta cũng biết khai thác sử dụng những quyền chọn mà khả năng cải thiện nghịch cảnh mang lại cho ta: sự việc có thể sờ sờ ra đó và nhìn chòng chọc vào ta suốt một thời gian dài mà ta vẫn không nhận ra. Ta đã thấy khoảng thời gian từ lúc phát minh ra bánh xe cho đến lúc người ta áp dụng chúng vào chiếc vali. Các nhà nghiên cứu y khoa gọi độ trễ này là “khoảng cách tịnh tiến”, nghĩa là khoảng thời gian từ lúc phát minh chính thức cho đến ứng dụng đầu tiên, mà do độ nhiễu quá mức và sự quan tâm học thuật, đã được Contopoulos-Ioannidis, bác sĩ nhi khoa bệnh lây nhiễm của Trung tâm y khoa Đại học Standford, và các đồng nghiệp chứng minh rằng ngày càng kéo dài hơn trong thời hiện đại.

Sử gia David Wooton xác định khoảng thời gian hai thế kỷ từ lúc khám phá ra vi trùng cho đến khi thừa nhận vi trùng là nguyên nhân gây bệnh, khoảng thời gian chậm trễ 30 năm từ lý thuyết vi sinh vật về sự thối rữa cho đến lúc triển khai việc khử trùng, và chậm trễ 60 năm từ lúc khử trùng cho đến việc điều trị bằng thuốc.

Nhưng sự việc có thể trở nên xấu đi. Trong thời kỳ tăm tối của y học, các bác sĩ từng dựa vào ý tưởng duy lý ngây thơ về cân bằng dịch khí trong cơ thể con người, và bệnh tật được cho là bắt nguồn từ sự mất cân bằng thể dịch, dẫn đến hàng loạt cách điều trị được cho là cần thiết để phục hồi cân bằng. Trong quyển sách về thể dịch, Noga Arikha chứng minh rằng sau khi William Harvey minh họa cơ chế lưu thông máu vào thập niên 1620, người ta từng dự kiến các lý thuyết này và các thực hành liên quan sẽ biến mất. Thế mà dân chúng vẫn tiếp tục quy cho linh hồn và thể dịch, và các bác sĩ vẫn tiếp tục điều trị trong nhiều thế kỷ bằng phương pháp trích huyết, bơm thụt ruột, và đắp mô (đắp một miếng bánh mì ướt hay bột dinh dưỡng lên chỗ mô sưng tấy). Điều này cứ tiếp diễn thậm chí sau khi Pasteur chứng minh rằng vi trùng là nguyên nhân của những căn bệnh lây nhiễm đó.

Bây giờ, là một người theo chủ nghĩa kinh nghiệm hoài nghi (skeptical empiricist), tôi không cho rằng việc chống đối một công nghệ mới nhất thiết là phi lý: chờ thời gian thực hiện công việc kiểm chứng có lẽ là cách tiếp cận có giá trị nếu ta cho rằng ta có một bức tranh chưa hoàn chỉnh về sự việc. Đó chính là nội dung của việc quản lý rủi ro theo chủ nghĩa tự nhiên. Tuy nhiên, sẽ trở nên phi lý nếu ta duy trì một công nghệ cũ vốn hoàn toàn phi tự nhiên và có hại rõ ràng, hay khi việc chuyển sang một công nghệ mới (như vali có bánh xe) rõ ràng không có những tác dụng phụ khả dĩ từng xảy ra với công nghệ trước đó. Và chống lại việc bãi bỏ những công nghệ cũ như vậy dứt khoát là bất tài và có tội (như tôi luôn nói, việc bãi bỏ những thứ phi tự nhiên thì không có những tác dụng phụ dài hạn; nó thường không có những thiệt hại do can thiệp gây ra.)

Nói cách khác, tôi không hô hào phản đối áp dụng các khám phá phát minh, hay biện hộ cho việc phản đối này bằng sự khôn ngoan ngầm ẩn và thái độ quản lý rủi ro: điều này rõ ràng là sai lầm. Các nhà chuyên môn phần nào thiếu dũng cảm và hèn nhát khi hiếm có ai muốn mạo hiểm công việc và danh tiếng của mình để thực hiện sự thay đổi.

Nghiên cùu và sai lầm có thể trở thành hoạt động đầu tư như thế nào

Hoạt động thử nghiệm và sửa sai có một giá trị quan trọng mà người ta thường không hiểu: nó không thật sự ngẫu nhiên, mà đúng hơn, nhờ vào khả năng chọn lựa, nó đòi hỏi phải có ít nhiều tính duy lý. Người ta cần thông minh sáng suốt để nhận ra kết quả thuận lợi và biết bỏ đi những gì bất lợi.

Và người ta cần duy lý để không thử nghiệm và sửa sai một cách hoàn toàn ngẫu nhiên. Nếu bạn đi tìm chiếc ví bỏ quên trong phòng khách, theo cách thức thử nghiệm và sửa sai, bạn thể hiện tính duy lý bằng cách không tìm hai lần ở cùng một chỗ. Trong nhiều hành động, mọi phép thử, mọi thất bại đều mang lại thêm thông tin, mỗi thông tin lại có giá trị hơn thông tin trước đó - nó cho bạn biết việc gì không có kết quả, hay những nơi không có chiếc ví. Sau mỗi phép thử, người ta càng đến gần hơn với kết quả, giả định một môi trường trong đó người ta biết chính xác mình đang tìm kiếm cái gì. Từ phép thử không mang lại kết quả, ta có thể biết mình nên tiếp tục đi đâu.

Ta có thể minh họa điều này rõ ràng nhất bằng bí quyết thực hành của Greg Stemm, người chuyên kéo xác tàu đắm lâu năm từ dưới đáy đại dương. Năm 2007, ông gọi phát hiện lớn nhất của ông (lúc bấy giờ) là “Thiên Nga Đen” sau ý tưởng tìm kiếm những kết quả cực kỳ có lợi. Phát hiện của ông là một kho báu khá lớn với kim loại quý hiện trị giá cả tỉ đôla. Thiên Nga Đen của ông là một chiếc tàu chiến Tây Ban Nha tên Nuestra Senora de las Mercedes, bị quân Anh đánh chìm ở vùng biển nam Bồ Đào Nha vào năm 1804. Stemm tỏ ra là một kẻ săn Thiên Nga Đen tích cực tiêu biểu, và là người có thể chứng minh rằng việc tìm kiếm này là một hình thức kiểm soát tính ngẫu nhiên cao độ.

Tôi gặp ông và chia sẻ ý tưởng với ông: các nhà đầu tư của ông (cũng như của tôi lúc bấy giờ, vì khi ấy tôi vẫn còn làm kinh doanh) phần lớn không dễ dàng hiểu ra rằng đối với một người đi tìm kho báu, một vùng xấu (nghĩa là tốn chi phí tìm kiếm nhưng không phát hiện được gì) không phải là biểu hiện của thất vọng, như trong một hoạt động kinh doanh mang lại dòng tiền đều đặn như của một nha sĩ hay gái mại dâm chẳng hạn. Do nhận thức giOT. hạn trong những lĩnh vực nhất định, người ta có thể tiêu tiền để mua sắm nội thất văn phòng và không gọi đó là “tổn thất”, mà là đầu tư, nhưng sẽ xem chi phí tìm kiếm là “tổn thất”.

Phương pháp của Stemm như sau. Ông thực hiện việc phân tích vùng biển nơi có thể đắm tàu. Dữ liệu này được tổng hợp thành một bản đồ các vùng xác suất. Sau đó, ông thiết kế vùng tìm kiếm, đảm bảo là họ phải chắc chắn con tàu đắm không nằm trong một vùng cụ thể nào đó trước khi chuyển sang vùng có xác suất thấp hơn. Điều này có vẻ ngẫu nhiên nhưng thật ra không ngẫu nhiên. Nó giống việc tìm kiếm kho báu trong nhà bạn: mọi cuộc tìm kiếm dần dần sẽ có xác suất tìm thấy kết quả cao hơn, nhưng chỉ khi bạn chắc chắn không có kho báu ở những chỗ bạn đã tìm rồi.

Một số độc giả xem ra không hứng thú lắm với đạo lý của việc săn tìm tàu đắm, và có thể xem những kho báu này là tài sản quốc gia chứ không phải tư nhân. Thế nên chúng ta sẽ chuyển sang lĩnh vực khác. Phương pháp Stemm sử dụng cũng áp dụng cho việc thăm dò dầu khí, nhất là dưới đáy đại dương chưa khai thác, với một điểm khác biệt: trong một con tàu đắm, kết quả có lợi giới hạn trong phạm vi giá trị kho báu, trong khi nguồn lợi từ các giếng dầu và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác gần như không giới hạn (hay giới hạn rất cao).

Cuối cùng, hãy nhớ lại thảo luận về việc khoan ngẫu nhiên trong chương 6 và tính ưu việt của nó so với các kỹ thuật có chỉ đạo. Phương pháp tìm kiếm dựa vào khả năng chọn lựa này không phải ngẫu nhiên một cách ngốc nghếch. Nhờ vào khả năng chọn lựa, nó giúp chế ngự và khai thác tính ngẫu nhiên.

Sự phá hủy sáng tạo và không sáng tạo

Nhà kinh tế học Joseph Schumpeter cũng có một nhận định tương tự cho rằng việc thử nghiệm và sửa sai có những sai lầm, nhưng ông không nắm bắt khái niệm phi đối xứng (từ chương 12, ta bắt đầu gọi tính phi đối xứng là khả năng chọn lựa). Ông nhận ra rằng có những thứ cần đổ vỡ để cho hệ thống cải thiện, và ông gọi là sự phá hủy có tính sáng tạo - một ý niệm được triết gia Karl Marx triển khai và do Nietzsche khám phá, như ta sẽ thấy trong chương 17. Nhưng tác phẩm của Schumpeter cho thấy ông không suy nghĩ theo tình trạng bất định và tính vô minh; mà chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa can thiệp với ảo tưởng cho rằng chính phủ có thể đổi mới bằng sắc lệnh, điều mà ta sẽ thấy mâu thuẫn trong những trang sau. Ông cũng không nắm bắt được khái niệm phân chia tầng lớp của áp lực tiến hóa. Quan trọng hơn, cả ông và những người gièm pha ông (những nhà kinh tế học Harvard tưởng rằng ông không am hiểu toán học) đều bỏ qua khái niệm khả năng cải thiện nghịch cảnh với ảnh hưởng phi đối xứng (hay khả năng chọn lựa), vì thế họ cũng bỏ qua hòn đá luyện đan là một tác nhân tăng trưởng. Nghĩa là họ đã bỏ qua một nửa cuộc đời.

Bây giờ, vì phần lớn bí quyết công nghệ xuất phát từ khả năng cải thiện nghịch cảnh, từ khả năng chọn lựa của hoạt động thử nghiệm và sửa sai, nên có những người và những tổ chức muốn che giấu thực tế này, hay hạ thấp vai trò của nó.

Ta hãy xem hai loại tri thức. Loại thứ nhất không chính xác là “tri thức”; đặc tính mo hồ của nó khiến ta không gắn liền nó với định nghĩa nghiêm ngặt về tri thức. Đó là cách ta thực hiện công việc mà ta không thể thực sự diễn đạt bằng ngôn ngữ một cách rõ ràng và trực tiếp - đôi khi điều này được gọi là apophatic - nhưng ta có làm việc, và làm việc rất tốt. Loại thứ hai giống với cái mà ta gọi là “tri thức” hơn; đó là những gì bạn hấp thu ở nhà trường, có thể được chấm điểm, có thể mã hóa, có thể giải thích, có thể chứng minh, hàn lâm hóa, hợp lý hóa, chính thức hóa, lý thuyết hóa, mã hóa, Xô viết hóa, quan liêu hóa, Harvard hóa vv…

Sai lầm của chủ nghĩa duy lý ngây thơ dẫn đến việc đánh giá quá cao vai trò và tính cần thiết của loại tri thức thứ hai, tri thức học thuật, trong các vụ việc nhân sinh - và hạ thấp vai trò của loại tri thức không thể mã hóa, phức hợp, trực giác và dựa vào kinh nghiệm.

Chúng ta có xu hướng tin rằng các kỹ năng và ý tưởng đều xuất phát từ sách vở và lập luận, trong khi thật ra ta hấp thu chúng thông qua những hành động có khả năng cải thiện nghịch cảnh, hay chúng đến với ta một cách tự nhiên (từ bản năng sinh học bẩm sinh). Xu hướng đó làm cho ta trở nên mù quáng: thậm chí có thể có điều gì đó trong bộ não ta làm ta không nhận ra điều này. Ta hãy xem điều đó xảy ra như thế nào.

Gần đây tôi có đi tìm định nghĩa về công nghệ. Hầu hết các sách giáo khoa đều định nghĩa công nghệ là việc áp dụng tri thức khoa học vào các dự án thực tiễn - khiến ta tin vào một dòng tri thức chảy từ “khoa học” cao quý (được tổ chức xung quanh một nhóm người thần thánh có các học hàm học vị đặt trước tên họ) đến thực tiễn thấp kém (được thực hiện bởi những người không thông thạo, không học rộng hiểu sâu để có tư cách thành viên trong nhóm người thần thánh).

Vì thế, theo sách vở, người ta trình bày sự hình thành của tri thức như sau: các nghiên cứu cơ bản mang lại tri thức khoa học, từ đó tạo ra công nghệ, tiếp đến dẫn đến ứng dụng thực hành, rồi tiếp đến dẫn đến tăng trưởng kinh tế và các vấn đề có vẻ thú vị khác. Kết quả đạt được từ việc “đầu tư” vào nghiên cứu cơ bản một phần sẽ được chỉ đạo đầu tư nhiều hơn vào nghiên cứu cơ bản, rồi dân chúng sẽ phát đạt và tận hưởng phúc lợi của sự phồn vinh hình thành từ tri thức với những chiếc ô tô Volvo, các kỳ nghỉ trượt tuyết, những bữa ăn Địa Trung Hải, và những chuyến đi dạo mùa hè trong những công viên xinh đẹp.

Điều này gọi là mô hình tuyến tính Baconian, theo tên triết gia khoa học Francis Bacon;61 tôi điều chỉnh nó theo cách trình bày của nhà khoa học Terence Kealey62 (vốn là một nhà hóa sinh, một nhà khoa học thực hành, chứ không phải một sử gia khoa học) như sau:

Học thuật Khoa học và công nghệ ứng dụng Thực hành

Trong khi mô hình này có thể có giá trị trong một vài trường hợp rất hạn hẹp (nhưng được quảng cáo rầm rộ) như chế tạo bom nguyên tử, điều chính xác ngược lại xem ra đúng trong hầu hết những lĩnh vực mà tôi xem xét. Hay chí ít, mô hình này không bảo đảm đúng, và điều gây sốc là, chúng ta không có bằng chứng chính xác cho thấy nó đúng. Có thể học thuật giúp ích cho khoa học và công nghệ, rồi tiếp đến giúp ích cho thực tiễn, nhưng theo một phương thức không định trước, phi mục đích luận, như ta sẽ thấy sau (nói cách khác, sự nghiên cứu theo chỉ đạo xem ra chỉ là ảo tưởng).

Ta hãy chuyển sang phép ẩn dụ về những con chim. Hãy nghĩ tới sự kiện sau đây: Một nhóm người thần thánh (từ Harvard hay một nơi tương tự) giảng dạy cho những con chim cách bay. Hãy tưởng tượng những ông hói đầu độ tuổi 60, mặc áo choàng đen, đang làm nhiệm vụ trong một biểu mẫu tiếng Anh đầy những thuật ngữ chuyên môn, với các phương trình chỗ nọ chỗ kia. Những cánh chim bay lên. Ôi sự xác nhận tuyệt vời! Họ lao vào văn phòng khoa Điểu cầm học để viết sách viết báo và báo cáo rằng chim đã vâng lời họ, một suy luận nhân quả không chê vào đâu được. Khoa Điểu cầm học Harvard hiện có công lao không thể thiếu được trong việc dạy chim biết bay. Họ sẽ nhận được ngân sách nghiên cứu của chính phủ vì những đóng góp của họ.

Toán học Hoạt động lái của chim và các công nghệ

vỗ cánh Chim bay (vô on)

Thật tình cờ, chim không viết sách báo, có thể cho là vì chúng chỉ biết bay, nên chúng ta không bao giờ biết câu chuyện từ phía chim. Trong khi đó, những con người thần thánh tiếp tục rao giảng câu chuyện của họ với các thế hệ mới, những người hoàn toàn không biết gì về tình hình những ngày giảng dạy của Harvard trước kia. Không ai thảo luận về việc biết đâu chim không cần đến những bài giảng, và không ai có động cơ gì để xem xét số lượng chim bay mà không cần đến sự giúp đỡ từ các cơ sở khoa học vĩ đại.

Vấn đề nằm ở chỗ, những gì tôi viết trên đây có vẻ ngớ ngẩn, nhưng thay đổi lĩnh vực sẽ làm nó xem ra hợp lý hơn. Rõ ràng, chúng ta không bao giờ nghĩ rằng nhờ các nhà điểu cầm học mà chim biết bay, và nếu có ai tin như vậy, thì họ cũng khó mà thuyết phục được những con chim. Nhưng vậy thì tại sao khi ta nhân tính hóa và thay thế “chim” bằng “con người”, thì ý tưởng con người biết làm việc nhờ vào các bài giảng trở nên có vẻ hợp lý hơn? Khi áp dụng cho con người, vấn đề bỗng trở nên rắc rối.

Vì thế, ảo tưởng ngày càng gia tăng, với ngân sách nhà nước, những đồng tiền thuế, các ban bệ nhà nước căng phồng ở Washington đều dành hết cho việc giúp chim bay giỏi hơn. Vấn đề phát sinh khi người ta bắt đầu cắt giảm nguồn ngân sách như thế - với những lời cáo buộc tới tấp là người ta đang giết chim vì không giúp chúng bay lên.

Cổ ngữ Do Thái có câu: “Trò giỏi thì thầy được vinh danh.” Ảo tưởng về công trạng này chủ yếu xuất phát từ sự ngụy biện thành tích: ngoài sự kiện đáng buồn là lịch sử thuộc về những người viết sử (bất kể người thắng hay kẻ thua), lịch sử lại còn mang nặng định kiến khi những người viết sử có thể cung cấp những sự kiện xác nhận thành tích (những gì đã có tác dụng) nhưng không phải một bức tranh hoàn chỉnh về những gì đã đạt được và những gì đã thất bại. Ví dụ, tư liệu nghiên cứu theo chỉ đạo sẽ kể lại những thành tích đạt được bằng ngân sách (như thuốc điều trị AIDS hay một số loại thuốc thời thượng), chứ không phải những gì đã thất bại, vì thế gây cho bạn ấn tượng rằng nghiên cứu theo chỉ đạo có kết quả tốt hơn so với ngẫu nhiên.

Và lẽ dĩ nhiên, người ta không bao giờ kể những câu chuyện lợn lành chữa thành lợn què. Họ không bao giờ kể liệu việc giáo dục trong một số trường hợp có thể làm hại bạn như thế nào.

Vì thế, chúng ta không nhìn thấy khả năng xảy ra một quá trình khác, hay vai trò của một quá trình, một vòng lặp như sau:

Chỉnh sửa ngẫu nhiên (khả năng cải thiện nghịch cảnh) → Các suy nghiệm (công nghệ) →Thực hành và học việc → Chỉnh sửa ngẫu nhiên (khả năng cải thiện nghịch cảnh) → Các suy nghiệm (công nghệ) Thực hành và học việc…

Song song với vòng lặp trên:

Thực hành Các lý thuyết học thuật → Các lý thuyết học thuật → Các lý thuyết học thuật → Các lý thuyết học thuật… (lẽ dĩ nhiên cũng có

một số ngoại lệ, một số rò rỉ tình cờ, cho dù thật sự hiếm hoi và thường

được quảng cáo rầm rộ, được khái quát hóa quá đáng).

Bây giờ, điều quan trọng là ta có thể tìm thấy tính gian lận trong cái gọi là mô hình Baconian bằng cách xem xét những sự kiện xảy ra vào thưở trước khi Harvard dạy chim cách bay và xem xét những con chim. Đây là những gì tôi tình cờ tìm thấy (quả thật là tình cờ) trong sự nghiệp của tôi như một người chuyên thực hành chuyển sang nghiên cứu về sự biến động, nhờ vào chuyển biến may mắn của các sự kiện. Nhưng trước hết, cho phép tôi giải thích các hiện tượng phụ và mũi tên giáo dục.

CÁC HIỆN TƯỢNG PHỤ

Ảo tưởng Xô viết-Harvard (dạy chim cách bay và tin rằng bài giảng là nguyên nhân của kỹ năng tuyệt vời này) thuộc về một nhóm ảo tưởng nhân quả gọi là các hiện tượng phụ (epiphenomena). Những ảo tưởng này là gì? Khi bạn đứng lâu trên một cầu tàu hay trong buồng lái với một chiếc la bàn trước mặt, bạn có thể dễ dàng có ấn tượng là chiếc la bàn đang định hướng cho con tàu chứ không phải chỉ đơn thuần phản ánh hướng đi của con tàu.

Hiệu ứng dạy chim cách bay là ví dụ về việc tin vào hiện tượng phụ: ta thấy mức độ nghiên cứu học thuật cao ở những nước giàu có và phát triển, khiến ta nghĩ rằng hoạt động nghiên cứu là nguồn gốc tạo ra phồn vinh. Trong một hiện tượng phụ, bạn thường không quan sát thấy A nếu không quan sát thấy B cùng với nó, vì thế bạn có xu hướng nghĩ rằng A gây ra B, hay B gây ra A, tùy thuộc bối cảnh văn hóa hay những gì có vẻ hợp lý đối với một phóng viên địa phương.

Biết rằng nhiều chàng trai để tóc ngắn, nhưng hiếm khi người ta có ảo tưởng rằng tóc ngắn xác định giới tính, hay việc thắt cà vạt làm cho người ta trở thành một doanh nhân chẳng hạn. Nhưng người ta dễ dàng rơi vào những hiện tượng phụ khác, nhất là khi họ bị chìm ngập trong nền văn hóa chịu ảnh hưởng của tin tức.

Và ta có thể dễ dàng nhìn thấy chiếc bẫy khi để cho các hiện tượng phụ này kích thích hành động của mình, rồi biện hộ về nó khi hồi tưởng lại sự việc đã xảy ra. Ta cảm thấy một kẻ độc tài - hay một chính phủ - là không thể thiếu được, chỉ bỏi vì ta không dễ dàng nhìn ra một phương án khác, hay phương án đó bị che giấu bỏi các nhóm lợi ích đặc quyền. Ví dụ, Cục Dữ trữ Liên bang Hoa Kỳ có thể tàn phá nền kinh tế nhưng vẫn cảm thấy tự tin về hiệu quả hoạt động của họ. Người ta sợ một phương án khác.

Lòng tham là một nguyên nhân

Bất kỳ khi nào khủng hoảng kinh tế xảy ra, người ta cũng chỉ vào lòng tham như một nguyên nhân, khiến ta có ấn tượng rằng nếu ta có thể đi đến cội rễ của lòng tham và nhổ nó ra khỏi cuộc đòi này thì khủng hoảng sẽ được loại trừ. Hơn nữa, ta có xu hướng tin rằng lòng tham là mới mẻ, vì những cuộc khủng hoảng kinh tế dữ dội quả là mới mẻ. Đây là một hiện tượng phụ: lòng tham đã có từ trước tính mỏng manh của hệ thống. Nó tồn tại từ rất lâu đòi trong lịch sử. Từ lúc Virgil đề cập đến lòng tham vàng và cụm từ radix malorum est cupiditas (từ bản Tân ước bằng tiếng Latinh), cả hai đều đã hơn 20 thế kỷ trước đây. Chúng ta biết những vấn nạn của lòng tham ngày càng sâu sắc hơn qua nhiều thế kỷ, mà lẽ dĩ nhiên không có thuốc chữa, bất chấp nhiều hệ thống chính trị từng được triển khai kể từ bấy giờ. Tiểu thuyết của Trollope The Way We Live Now, xuấn bản gần một thế kỷ rưõi trước đây, cho thấy những lời than phiền về lòng tham vô độ và những người điều hành lừa bịp, y hệt như tiếng khóc than về “thập niên của lòng tham” tôi nghe được vào năm 1988 hay sự lên án “lòng tham của chủ nghĩa tư bản” vào năm 2008. Với sự trường kỳ đều đặn đáng kinh ngạc như vậy mà người ta vẫn còn xem lòng tham là cái gì đó (a) mới mẻ và (b) có thể cứu chữa. Đây lại là ví dụ về chiếc giường Procrustes hay gọt chân cho vừa giày: ta không thể dễ dàng thay đổi được bản chất con người, nhưng ta có thể dễ dàng xây dựng một hệ thống đứng vững trước lòng tham, nhưng không ai nghĩ tới những giải pháp đơn giản như vậy.63

Tương tự, “thiếu cảnh giác” thường được đưa ra như một nguyên nhân của sai lầm (như ta sẽ thấy với câu chuyện Société Générale trong tập V, nguyên nhân thật ra là quy mô và tính mỏng manh). Nhưng thiếu cảnh giác không phải là nguyên nhân cái chết của một ông trùm mafia; nguyên nhân cái chết là do đã tạo ra kẻ thù, và biện pháp phòng tránh là kết bạn.

Bóc trần các hiện tượng phụ

Ta có thể đào bới các hiện tượng phụ trong dòng rao giảng văn hóa và ý thức thông qua xem xét trình tự các sự kiện và kiểm tra xem thử sự kiện này có luôn luôn đi trước sự kiện kia hay không. Đây là một phương pháp đã được Clive Granger quá cố xây dựng một cách tinh tế (bản thân ông cũng là một người lịch thiệp tinh tế), xứng đáng được giải Nobel Kinh tế, mà Ngân hàng Thụy Điển (Sveriges Riskbank) trao tặng để vinh danh Alfred Nobel, từng được trao cho nhiều fragilista. Đây là kỹ thuật khoa học chính xác duy nhất mà các triết gia khoa học có thể sử dụng để thiết lập tính nhân quả, vì giờ đây họ có thể tách biệt cái gọi là “nguyên nhân Granger” thông qua xem xét các trình tự. Trong các tình huống hiện tượng phụ, bạn sẽ thấy A và B đi kèm với nhau. Nhưng nếu bạn sàng lọc phân tích bằng cách xem xét trình tự, qua đó đưa chiều thời gian vào - cái nào diễn ra trước, A hay B? - và phân tích bằng chứng, thì bạn sẽ thấy có thật A gây ra B hay không.

Hơn nữa, Granger còn có ý tưởng tuyệt vời là nghiên cứu các khoảng chênh lệch, nghĩa là thay đổi của A và B, chứ không chỉ các mức A và B. Tuy tôi không tin phương pháp Granger có thể khiến tôi tin rằng “A gây ra B” một cách chắc chắn, song gần như chắc chắn phương pháp này giúp tôi vạch trần tính nhân quả giả hiệu, và cho phép tôi đưa ra nhận định rằng “phát biểu B gây ra A là sai,” hay không có đủ bằng chứng về trình tự.

Sự khác biệt quan trọng giữa lý thuyết và thực hành chính xác nằm ở việc tìm trình tự các biến cố và ghi nhớ trình tự này. Nếu cuộc đời tiến tới tương lai nhưng ký ức lui về quá khứ, như Kierkegaard64 quan sát, thì sách vở làm trầm trọng hơn hiệu ứng này - ký ức, nhận thức, và bản năng của ta đều có trình tự của chúng. Những người hiện diện ở đây hôm nay và nhìn lại những biến cố mà họ không sống trong đó sẽ có xu hướng bị ảo tưởng về nhân quả, chủ yếu do trộn lẫn trình tự của các biến cố. Trong đời thường, bất chấp mọi định kiến này, ta không có cùng một con số về những sự kiện không đồng bộ như nhà nghiên cứu lịch sử. Lịch sử hiểm ác, đầy dối trá, đầy định kiến!

Đon cử ví dụ một chiêu để bóc trần tính nhân quả: tôi thậm chí còn chưa chết, mà đã nhìn thấy sự bóp méo tác phẩm của mình. Các tác giả xây dựng lý thuyết về nguồn gốc các ý tưởng của tôi, cứ như thể người ta đọc sách rồi triển khai các ý tưởng, mà không tự hỏi biết đâu chiều hướng ngược lại mới đúng: người ta tìm kiếm sách vở để xác nhận cho suy nghĩ của mình. Vì thế, một nhà báo (Anatole Kalesky) nhìn thấy ảnh hưởng của Benoit Mandelbrot trong quyển sách Fool by Randomness của tôi, xuất bản năm 2003, khi tôi còn không biết Mandelbrot là ai. Thật đơn giản: nhà báo nhận thấy những điểm tương đồng về tư tưởng trong một lĩnh vực và dựa vào chênh lệch tuổi tác nên ngay lập tức rút ra một suy luận sai lầm. Anh ta không nghĩ rằng những người có tư tưởng như nhau có xu hướng kết giao với nhau và sự tương đồng tư duy này dẫn đến mối quan hệ chứ không phải chiều ngược lại. Điều này khiến tôi nghi ngờ mối quan hệ thầy-trò mà ta đọc thấy trong lịch sử văn hóa: về tất cả những người được gọi là học trò tôi mà là học trò tôi chỉ vì chúng tôi có suy nghĩ giống nhau.

Chọn lựa dữ liệu thuận lợi (hay ngụy biện chùng thực)

Ta hãy xem một tờ bướm quảng cáo du lịch của các nước để quảng bá về đất nước mình: bạn có thể dự kiến rằng các hình ảnh trình bày sẽ đẹp hơn rất nhiều so với những gì bạn chạm trán tại địa phương. Và sự chênh lệch này có thể được đo bằng một hiệu số: đất nước thể hiện qua tờ bướm quảng cáo trừ đi đất nước thể hiện qua đôi mắt trần của bạn. Sự khác biệt có thể nhỏ hay lớn. Chúng ta cũng thực hiện việc điều chỉnh này với các sản phẩm thương mại, chúng ta không cả tin vào quảng cáo.

Nhưng chúng ta không điều chỉnh sự thiên lệch này trong khoa học, y học và toán học, và lý do ở đây cũng y hệt như lý do khiến ta không chú ý đến hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què. Chúng ta là những kẻ bị lừa bỏi những thứ phát triển tinh vi.

Trong nghiên cứu thể chế, người ta có thể tường thuật có chọn lọc những sự kiện xác nhận cho câu chuyện của họ, và không để lộ những sự kiện trái ngược hay những sự kiện không áp dụng cho câu chuyện của họ; vì thế nhận thức khoa học của công chúng mang nặng định kiến, họ có xu hướng tin vào tính cần thiết của các phương pháp Harvard tưởng tượng, bóng bẩy, và tinh vi. Và các nghiên cứu thống kê có xu hướng bị hỏng bởi tính phiến diện này. Một lý do khác khiến ta nên tin vào sự phủ định hơn là sự khẳng định.

Giới học thuật được trang bị chu đáo để kể với ta về những gì họ làm vì ta, chứ không phải để kể những gì họ không làm vì ta, nhờ thế các phương pháp của họ mới trở nên không thể thiếu được. Điều này bao trùm nhiều lĩnh vực trong cuộc sống. Các nhà buôn nói về thành công của mình, Vì thế người ta trở nên tin rằng họ rất thông minh, mà không nhìn vào những thất bại ẩn giấu của họ. Về khoa học hàn lâm, vài năm trước, nhà toán học vĩ đại người Anh gốc Libăng Michael Atiyah nổi tiếng về lý thuyết hạt cơ bản đến New York để huy động vốn cho một trung tâm nghiên cứu toán học ở Libăng. Trong bài diễn văn, ông liệt kê những ứng dụng mà toán học hóa ra có ích cho xã hội và đời sống hiện đại, như tín hiệu giao thông. Tốt. Nhưng còn những lĩnh vực mà toán học đưa ta đến thảm họa thì sao (ví dụ như toán kinh tế hay toán tài chính, trong đó nó làm hệ thống nổ tung)? Và còn những lĩnh vực khác ngoài tầm với của toán học? Ngay lúc đó tôi chợt nghĩ tới một dự án khác: một danh mục liệt kê những lĩnh vực toán học không mang đến kết quả, vì thế gây ra thiệt hại.

Chọn lựa dữ liệu có lợi loại bỏ dữ liệu bất lợi (cherry-picking) là một khả năng chọn lựa: người kể chuyện (và xuất bản câu chuyện) có lợi thế là có thể đưa ra những ví dụ xác nhận cho câu chuyện và hoàn toàn làm ngơ những sự kiện còn lại - và tính biến động và phân tán càng cao, câu chuyện vui nhất càng tràn đầy triển vọng (và câu chuyện buồn nhất càng tối tăm ảm đạm). Những người có khả năng chọn lựa - quyền chọn câu chuyện - chỉ tường thuật những gì phù hợp với mục đích của mình. Bạn chọn lấy những khía cạnh có lợi cho câu chuyện và che giấu những khía cạnh bất lợi, và chỉ có tính giật gân là xem ra đáng kể.

Thế giới thực dựa vào nhận thức về khả năng cải thiện nghịch cảnh, và không một trường đại học nào có thể nuốt chửng khả năng này, cũng hệt như những người theo chủ nghĩa can thiệp không chấp nhận rằng sự việc có thể tự cải thiện mà không cần đến sự can thiệp của họ. Ta hãy chuyển sang quan niệm cho rằng các trường đại học giúp tạo ra phồn vinh và sự tăng trưởng của những tri thức hữu dụng trong xã hội. Ở đây có một ảo tưởng về nhân quả; đã tới lúc phá vỡ ảo tưởng đó.

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.