Tôi đến số 25 phố Krebs khoảng 2 giờ chiều, mọi thứ tỏ ra yên ắng như trước. Bà vợ ông gác dan đang ngồi ở vị trí của mình cạnh cửa và lập tức để cho tôi vào căn hộ của ông Harald Olesen. Không có dấu hiệu nào của những cư dân khác trong tòa nhà. Tôi có một số câu hỏi mới cho vài người bọn họ, nhưng ngay lúc này trong đầu tôi không có chõ cho bất kỳ thứ gì khác ngoài chiếc máy quay đĩa của ông Harald Olesen.
Chiếc máy vẫn ở đó, với đĩa hát của dàn nhạc Vienna Philharmonic trên bàn quay. Tim đập thình thịch, tay run rẩy, tôi cẩn thận hạ cái kim xuống. Những tưởng cái nhãn là giả và đĩa hát sẽ không phát ra âm thanh nào, tôi bị sốc một lần nữa khi điệu valse quyến rũ lập tức tràn ngập căn phòng. Âm lượng gần như cực đại và bản thu khá là trung thực. Giờ đây tôi lại mong đến lúc nhạc tắt và tiếng súng vang lên vào cuối đĩa hát. Vặn nhỏ âm lượng xuống, với nỗi mong mỏi mỗi lúc một lớn, tôi chờ nghe một tiếng súng không tồn tại. Sau khi chơi quãng nhạc cuối cùng, cây kim nâng lên và trở về vị trí của nó mà chẳng có chuyện gì xảy ra.
Đầu tiên, tôi cảm thấy thất vọng. Sau đó tôi cười, bất chấp thất bại mà nó đem đến cho tôi, vì giả thiết đầy sáng tạo của cô nàng Patricia kiêu hãnh đã không đứng vững. Tôi lại bật cái máy quay đĩa và tăng âm lượng trước khi tiến đến chỗ điện thoại của ông Harald Olesen và quay số được ghi trên mẩu giấy nhỏ trong bóp.
Patricia nhấc máy ngay. Tôi có thể cảm thấy cô khá ngạc nhiên bởi tiếng nhạc, và cũng vì nó mà tôi phải nói lớn hơn để cô nghe được.
“Tôi đang ở trong căn hộ của ông Harald Olesen, đã bật cái máy quay đĩa và nghe đến hết bản thu âm. Nhưng như cô có thể nghe đấy, hình như đó chỉ là một đòn tung hỏa mù.”
Đầu dây bên kia im lặng một lúc. Có thể Patricia đang ngờ vực giả thiết của mình trong vài giây, nhưng điều đó rõ ràng không kéo dài.
“Nhưng phải là nó. Không có giải pháp nào khác hơn. Cái máy quay đĩa nằm riêng lẻ hay là một phần của một dàn âm thanh hiện đại có trang bị một đầu cassette?”
Tôi liếc nhìn nhanh cái máy quay đĩa và lập tức cảm thấy tim mình thắt lại vì hoang mang. Chiếc máy quay đĩa quả thực là một phần của dàn stereo kiểu mới với một đầu cassette - và đang có một cuốn băng trong đó. Khi nghe thấy điều này, Patricia nói nhanh như chớp.
“Như vậy cái đầu cassette phải là đáp án. Hãy bật cái băng đó nhưng giảm âm lượng để không làm kinh sợ cả tòa nhà nếu - ý tôi là khi - có tiếng súng nổ. Hãy gọi lại tôi sau khi đã nghe xong cuốn băng đó. Nhưng dĩ nhiên, nếu cũng không có tiếng súng trong cuốn băng nốt thì anh không cần phải mất thời gian gọi lại tôi làm gì.”
Patricia Louise I. E. Borchmann nói một mạch không dừng. Sau đó cô dập máy, thậm chí không nói lời chào.
Tôi nhìn vào dàn âm thanh một cách nghi hoặc, rồi tắt cái máy quay đĩa và tua cuộn băng cassette lại từ đầu. Cuộn băng có vẻ là đồ thật và tiêu đề tiếng Đức cho biết đó là Bản giao hưởng số 9 của Beethoven. Việc tua cuộn băng lại từ đầu tưởng như lâu đến vô tận. Khi nó đã tua xong, tôi giảm âm lượng xuống vài nấc và ngồi xuống, chờ đợi đầu từ hoạt động. Đúng như mong đợi, Bản giao hưởng số 9 của Beethoven vang lên. Tôi nhanh chóng tự hỏi liệu có phải mình đang phung phí thời gian quý báu không. Tuy nhiên, chỉ được vài phút, tiếng nhạc tắt ngấm sau một tiếng tách lớn. Cuộn băng tiếp tục chạy một cách vô cùng chậm rãi trong hai mươi lăm phút tiếp theo. Lúc đầu tôi còn đi vòng vòng trong phòng, nhưng khi cuộn băng gần hết, tôi tiến lại gần chiếc loa to của dàn âm thanh.
Tôi đang mong chờ cuộn băng dừng bất kỳ lúc nào thì bất thình lình một tiếng tách nữa vang lên, rồi nối tiếp bằng một tiếng súng nổ đoàng. Dù đã được giảm âm lượng, tiếng nổ vẫn vang như bom nguyên tử trong tai tôi. Tôi nhảy dựng và lặng người quan sát cuộn băng cassette dừng lại. Tôi đứng đó trong năm phút, tự hỏi rằng trước tôi, bàn tay của kẻ nào đã bật cuộn băng này.
Khi đã hoàn hồn, tôi gọi lại cho Patricia, cô nhấc điện thoại ngay hồi chuông đầu tiên. “Có phải tiếng súng vang lên ở cuối cuộn băng không?” cô hỏi.
Tôi lúng búng một chữ ‘phải’ đầy nhẫn nhục, và hai chữ ‘chúc mừng’ còn khẽ hơn, rồi sau đó giải thích với giọng rõ nghe hơn rằng tiếng súng vang lên ở cuối cuộn băng cassette thu Bản giao hưởng số 9 của Beethoven. Tôi gần như cảm thấy đầu dây bên kia rung lên khi cô thở ra.
“Ơn Chúa lòng lành. Tôi gần như đã bắt đầu thấy lo. Hãy nhớ kiểm tra dấu vân tay trên băng cassette và dàn âm thanh, nhưng đừng thất vọng nếu không tìm thấy gì. Chúng ta đang đối mặt với một tên sát nhân đặc biệt xảo quyệt.”
Tôi đáp lại rằng đây đúng là một trường hợp như vậy, nhưng sẽ hữu ích nếu biết bằng cách nào hắn đã rời khỏi hiện trường và liệu có cần chỉnh lại thời gian gây án lên sớm hơn gần hai mươi lăm phút hay không. Điều này phần nào gây bối rối cho Patricia.
“Từ từ đã nào. Thứ nhất, tôi không hoàn toàn chắc chắn đó là một người đàn ông và thứ hai, anh lấy hai mươi lăm phút đó ở đâu ra?”
Tôi mỉm cười nghĩ rằng lần này tôi đã đi trước cô và cho cô biết cuộn băng cassette đó có thời lượng hai mươi lăm phút. Tôi chờ đợi một từ ‘à ha’, nhưng thay vào đó chỉ nhận được một cái thở phào và một câu hỏi tàn nhẫn khác.
“Nhưng chúng ta không có bằng chứng nào cho thấy kẻ sát nhân đã bật băng cassette ngay sau khi gây án, đúng không?”
Dĩ nhiên tôi phải thừa nhận điều đó. Thủ phạm trên lý thuyết có thể ở trong căn hộ lâu như mức gã hoặc ả muốn trước khi bật cassette và đi ra. Tương tự như vậy, đoạn băng có thể cũng đã được tua tới và án mạng chỉ xảy ra vài phút trước khi tiếng súng vang lên. Tôi chợt nhớ ra bác sĩ pháp y chỉ có thể thu hẹp khoảng thời gian gây án trong khoảng từ 8 đến 11 giờ tối. Patricia và tôi lập tức nhất trí rằng bất kỳ ai không có bằng chứng ngoại phạm vững chắc trong khoảng 8 giờ đến 10 giờ 10 phút đều có thể bị xem là nghi phạm. Chúng tôi cũng nhanh chóng đồng ý rằng tôi cần quay lại và bàn luận tình hình cùng với cô trước khi nói chuyện với những người hàng xóm của ông Olesen một lần nữa.