Trong khoảng thời gian ngắn ngủi mà Marlowe vừa trải qua trong khoang tàu để trò chuyện cùng Eustace về tâm hồn đầy tổn thương của cậu ta, thì ở trên boong lại diễn ra vài sự việc khá kỳ quặc. Có lẽ không đến mức phi thường, nhưng quả là kỳ quặc. Giờ thì những chuyện ấy cần phải được kể lại. Một câu chuyện, nếu muốn lôi cuốn người đọc, thì theo tôi biết, phải luôn tiến về phía trước. Nó phải tiến bước. Nó phải phóng từ vách đá này sang vách đá khác tựa như loài sơn dương vùng Alps. Nếu có điều gì mà tôi căm ghét nhất, thì đó chính là một tiểu thuyết khiến bạn thấy hứng thú với nhân vật chính ở chương một, rồi đến chương hai lại quay ngược thời gian để kể lể mọi thứ về ông nội của anh ta. Mặc dù vậy, tại thời điểm này, chúng ta buộc phải lùi lại một chút. Chúng ta phải quay về khoảnh khắc mà sau khi gửi gắm chú chó Bắc Kinh của mình vào khoang, cô gái có mái tóc đỏ lại bước ra boong tàu. Chuyện này xảy ra đúng vào lúc Eustace Hignett đang bắt đầu câu chuyện của mình.
Cô gái tiến ra lan can và đăm đăm nhìn vào bờ. Có tiếng lách cách khi tấm ván cập tàu được kéo vào trong và đặt lên boong. Cô gái thốt lên một tiếng kêu nhỏ đầy kinh ngạc. Rồi bỗng nhiên, khuôn mặt cô rạng rỡ hẳn lên, và cô bắt đầu vẫy tay để thu sự chú ý của một người đàn ông lớn tuổi có khuôn mặt đỏ phừng phừng vì gắng sức, người vừa chen được đến mép cầu tàu và đang ngước lên nhìn đám đông hành khách dọc theo lan con tàu.
Con tàu lúc này bắt đầu di chuyển chậm chạp rời khỏi bến, lùi dần ra giữa dòng sông. Chính khoảnh khắc ấy, người đàn ông trên cầu tàu đã nhìn thấy cô gái. Cô ra hiệu cho ông. Ông ra hiệu lại cho cô. Ông lấy ra một chiếc khăn tay, nhanh chóng gói gọn một bấp tiền giấy vào trong đó, lùi lại để lấy đà, rồi với toàn bộ sức lực của cánh tay, ông ném bọc tiền về phía boong tàu. Chiếc khăn tay chứa đựng báu vật ấy vút lên theo một đường cong duyên dáng hướng về phía boong tàu, nhưng lại thiếu mất một khoảng tốt sáu bộ, rồi rơiỏm xuống mặt nước, nơi nó bung ra như một đóa hoa súng, khiến những tờ tiền hai mươi đô-la, mười đô-la, năm đô-la và cả một ít tờ một đô-la lững lờ trôi nổi dập dềnh trên những con sóng nhỏ.
Chính vào khoảnh khắc ấy, ông Oscar Swenson, một trong những tâm hồn hà tiện nhất từng bước ra từ Thụy Điển, nhận ra rằng cơ hội ngàn vàng để gia tăng đáng kể số tiền tiết kiệm ít ỏi của mình đã đến. Về nghề nghiệp, ông là một trong những kẻ kiếm sống bấp bênh bằng cách chèo thuyền mơ màng quanh vùng ven nước. Ông đang làm vậy ngay lúc này; và khi ông đang ngồi trầm ngâm trên chiếc xuồng nhỏ của mình, sau khi đã cố gắng hết sức để tiễn đưa con tàu lớn bằng cách chèo vòng quanh nó, thì khuôn mặt khẩn khoản của một tờ hai mươi đô-la liền hiện lên trước mắt ông. Ông Swenson không phải là kiểu người có thể cưỡng lại lời kêu gọi đó. Ông thốt lên một tiếng sủa ngắn đầy ngất ngây, ấn chặt chiếc mũ quả dưa lên trán, rồi lao mình xuống nước. Chỉ một khoảnh khắc sau, ông đã trồi lên mặt nước và thu gom tiền bằng cả hai tay.
Ông vẫn đang bận rộn với công việc hợp ý ấy thì một cú tiếp nước kinh hoàng ngay bên cạnh đã đẩy ông chìm nghỉm trở lại; và khi trồi lên lần thứ hai, ông không khỏi bực bội khi nhận ra mình có thêm bạn đồng hành là một chàng trai trẻ mặc bộ đồ nỉ màu xanh sẫm với những sọc chìm.
"Svensk!" ông Swenson thốt lên, hoặc một câu tương tự mà những người gốc Thụy Điển thường thốt lên trong những khoảnh khắc bực bội chính đáng. Ông bất mãn trước sự xuất hiện của kẻ mới đến này. Mọi chuyện đang diễn ra rất suôn sẻ và ông đã nắm thóp được tình hình. Đối với ông, Sam Marlowe tượng trưng cho sự Cạnh tranh, và ông Swenson chẳng hề muốn có bất kỳ đối thủ nào trong dự án săn tìm kho báu của mình. Ai đi một mình, ông Swenson nghĩ, sẽ là kẻ đi nhanh nhất.
Sam Marlowe vốn là người có đôi chút chất triết gia trong mình. Anh có khả năng thích nghi với hoàn cảnh. Chẳng có kế hoạch nào bảo anh phải lao vút từ trên lan can xuống làn nước có màu sắc giống hệt như súp, thứ nước vừa có mùi dầu mỏ vừa thoảng hương chuột chết; nhưng một khi đã rơi xuống đây, anh sẵn sàng tận dụng tối đa hoàn cảnh. Tình cờ là bơi lội lại là một trong những thế mạnh của anh, và đâu đó giữa đống đồ đạc ở nhà có một chiếc cúp thiếc xỉn màu mà anh từng giành được ở trường trong cuộc thi "Cứu người chết đuối". Anh biết chính xác phải làm gì. Bạn phải lấp đằng sau nạn nhân và túm chặt lấy họ dưới hai nách, rồi bắt đầu bơi ngửa. Chỉ một lát sau, ông Swenson ngạc nhiên tột độ — vốn dĩ gần như lưỡng cư, ông chưa từng ngờ rằng lại có kẻ dám có gan tột cùng là cố gắng cứu mình khỏi chết đuối — đã thấy mình bị tóm từ phía sau và bị kéo đi xối xả ra xa một tờ mười đô-la mà ông suýt nữa thì tóm được.
Nỗi đau khổ tinh thần do cuộc tấn công này gây ra đã khiến ông câm lặng một cách đáng thương; dẫu cho ông có kịp thốt ra những lời nguyền rủa đậm chất Thụy Điển đang chực trào trong đầu, thì lời nói của ông cũng khó lòng mà nghe được, bởi đám đông trên cầu tàu đang reo hò như một khối thống nhất. Họ từng bỏ không ít tiền để xem những cảnh quay kém phần kịch tính hơn nhiều trên phim ảnh. Họ gầm lên những tràng pháo tay. Trong khi đó, con tàu lớn vẫn tiếp tục lùi lủi tiến ra giữa dòng sông.
Hạn chế duy nhất của những cuộc thi cứu người ở trường học, nếu xét từ góc độ trang bị cho các thí sinh đối mặt với những vấn đề của cuộc sống sau này, là đối tượng được cứu trong những dịp đó chỉ là một hình nơ-ma bằng da, mà trong số vạn vật trên đời này, hình nơ-ma bằng da có lẽ là thứ điềm tĩnh và dửng dưng nhất. Nó khác biệt ở nhiều phương diện so với một quý ông Thụy Điển dễ xúc động, cao sáu sút và được cấu thành hoàn toàn bằng thép cùng cao su lưu hóa, kẻ đang bị kéo giật ra khỏi đống tiền mặt mà hắn vẫn đinh ninh là một món gia tài để lại. Quả thực, thật khó để tìm ra điểm nào mà chúng giống nhau. Thay vì nằm bất động trong vòng tay của Sam và để mặc cho người ta cứu một cách yên ổn và trật tự, ông Swenson lại thể hiện mọi triệu chứng của kẻ cảm thấy mình đã rơi vào tay bọn sát nhân. Ông Swenson, dù rất ghét sự cạnh tranh, nhưng cũng sẵn sàng chịu đựng nó, miễn là đó là một cuộc cạnh tranh công bằng. Việc lôi kéo đối thủ ra khỏi đống chiến lợi phẩm để tự mình vơ vét — cách mà gã này đã hiểu lầm một cách tai hại về động cơ của Sam — lại là một chuyện hoàn toàn khác, và tâm hồn kiêu hãnh của ông nhất quyết không chấp nhận điều đó. Ông lập tức bắt đầu vùng vẫy với tất cả bạo lực mà mình có. Đôi bàn tay to lớn, đầy lông của ông vung lên khỏi mặt nước và khua khoắng đầy hy vọng về hướng mà ông cho là khuôn mặt của kẻ tấn công.
Sam không phải không chuẩn bị trước cho màn biểu hiện này. Những nghiên cứu của anh về nghệ thuật cứu hộ đã dạy anh rằng một kẻ sắp chết đuối thường hay vùng vẫy chống lại chính lợi ích tốt nhất của hắn. Trong trường hợp đó, để thương cho trót phải đành lòng ác, người ta chỉ đơn giản là đánh ngất kẻ ngốc nghếch ấy đi. Anh quyết định đánh ngất ông Swenson, dẫu cho nếu biết rõ hơn về vị quý ông này và hay rằng ông ta nổi tiếng là kẻ có cái đầu cứng nhất vùng ven nước, anh đã nhận ra mức độ to lớn của nhiệm vụ ấy. Những người bạn của ông Swenson, trong những phút giây chén tạc chén thù, từng nhiều lần cố gắng đánh ngất ông bằng chai lọ, giày ủng và những đoạn ống chì để rồi phải ra về trong nỗi thất vọng vì thất bại. Sam, hoàn toàn mù tịt về điều này, liền cố gắng hoàn thành công việc bằng nắm đấm, giáng thật mạnh hết mức có thể lên chóp chiếc mũ quả dưa của đối phương.
Đó là điều tệ nhất mà anh có thể làm. Ông Swenson vô cùng coi trọng chiếc mũ của mình và cuộc tấn công tàn bạo vào nó đã xác nhận những mối nghi ngờ ảm đạm nhất của ông. Giờ đây, hoàn toàn bị thuyết phục rằng việc duy nhất phải làm là bán mạng thật đắt giá, ông xoay ngoắt người lại, tóm cổ áo kẻ tấn công, vòng hai tay ôm lấy eo hắn và kéo chìm cả hai xuống dưới mặt nước.
Vào lúc nuốt ngụm nước đầu tiên và chuẩn bị sang ngụm thứ hai, Sam miễn cưỡng phải đi đến kết luận rằng đây là dấu chấm hết cho cuộc đời mình. Ý nghĩ đó khiến anh bực bội khôn xiết. Anh cảm thấy mọi chuyện lúc này cứ diễn ra theo cái kiểu ngớ ngẩn và trái khoáy quen thuộc. Tại sao người phải bỏ mạng thế này lại là anh? Sao không phải là Eustace Hignett? Kia mới là kẻ mà hoàn cảnh thế này sinh ra để dành cho hắn. Một kẻ đau khổ vì tình như Eustace Hignett chắc chắn sẽ coi chuyện này như một sự giải thoát nhân từ.
Anh tạm dừng dòng suy nghĩ để gỡ gạc cái chân nổi bật nhất của ông Swenson đang quấn chặt lấy mình. Đến lúc này, anh chắc chắn rằng mình chưa từng gặp ai mà anh lại ghét cay ghét đắng đến thế—thậm chí còn hơn cả dì Adeline. Gã này đúng là một con bạch tuộc bằng xương bằng thịt. Sam có thể đếm được tới bảy chiếc vòi khác nhau đang quấn quanh người mình và ít nhất là từng ấy cánh tay. Anh có cảm giác mình đang bị sát hại khi tuổi đời còn xuân bởi cả một trung đội người Thụy Điển vững chắc. Anh dồn toàn bộ tâm can vào nỗ lực cuối cùng... có cái gì đó như vừa buông lỏng... anh được tự do. Chẳng màng gì hơn ngoài việc cố đạp vào mặt ông Swenson một cú, Sam vọt thẳng lên mặt nước. Một vật gì đó cứng và sắc nhọn đâm phập vào đầu anh. Rồi một thứ gì đó tóm lấy cổ áo anh; và cuối cùng, phụt nước như một con cá voi, anh thấy mình bị lôi xềnh xệch lên cao và kéo qua mạn một chiếc thuyền.
Khoảng thời gian Sam chìm nghỉm dưới nước cùng ông Swenson tuy ngắn ngủi, nhưng cũng đủ lâu để toàn bộ cư dân nổi trên sông North River kéo đến hiện trường bằng xuồng, ghe, tàu máy, tàu kéo và đủ loại phương tiện khác. Việc mặt nước quanh vùng đó ngập tràn tiền bạc đã không lọt khỏi mắt những kẻ hành nghề sông nước này, và họ đã lao vào đó như một khối thống nhất. Dẫn đầu cuộc đua là chiếc tàu kéo "Reuben S. Watson", mà vị thuyền trưởng, noi theo một tiền lệ nổi tiếng, đã đưa cô con gái nhỏ đi cùng để làm bạn. Chính nhờ chi tiết này mà Marlowe thực sự thoát nạn. Phụ nữ đôi khi mang trong mình một chút tính đa cảm ở nơi mà đàn ông chỉ nhìn thấy khía cạnh kinh doanh lạnh lùng của hoàn cảnh; và chính cô con gái của thuyền trưởng đã khăng khăng đòi dùng chiếc sào móc của gia đình — lúc đó đang được dùng như một cây lao để phóng bắt những tờ đô-la — vào mục đích ít lợi lộc hơn nhưng nhân đạo hơn là vớt chàng trai trẻ ra khỏi nấm mồ nước.
Vị thuyền trưởng làu bàu một chút lúc ban đầu nhưng rồi cũng nhượng bộ — ông ta luôn chiều chuộng cô con gái cưng — kết quả là Sam thấy mình đang ngồi trên boong tàu kéo, bận rộn với quá trình phức tạp là khôi phục các giác quan trở lại trạng thái bình thường. Trong một cơn mơ màng, anh thấy ông Swenson ngoi lên mặt nước cách đó vài bước chân, chỉnh lại chiếc mũ quả dưa, và sau một cái nhìn dài đầy ác cảm về phía anh, liền bơi đi thật nhanh để chặn tờ năm đô-la đang trôi dạt dưới đuôi một chiếc xuồng gần đó.
Sam ngồi trên boong và thở hồng hộc. Cơ thể anh rỉ nước ra khắp sàn tàu như một đài phun nước công cộng. Tận sâu trong tâm trí, anh lờ mờ thoáng nghĩ rằng mình muốn làm gì đó, có cảm giác mơ hồ rằng bản thân đang có một cuộc hẹn nào đó mà anh buộc phải giữ; nhưng anh lại chẳng tài nào nhớ nổi đó là gì. Trong khi đó, anh tiến hành những thử nghiệm ngập ngừng với hơi thở của mình. Đã lâu lắm rồi anh không thở nên dường như đã quên mất cách làm.
"Chà, ướt sũng rồi hả anh bạn?" một giọng nói vang lên.
Cô con gái của vị thuyền trưởng đang đứng bên cạnh anh, nhìn xuống với vẻ đồng cảm. Về phần những thành viên còn lại trong gia đình, tất cả những gì anh có thể thấy là phần mông quần màu xanh rộng thùng thình của họ khi họ đang mải miết cúi người qua mạn tàu với đầy hy vọng trong công cuộc tìm kiếm tài lộc.
"Đúng thế đấy, anh bạn! Anh ướt thật rồi đấy! Chúa ơi! Em chưa từng thấy ai ướt đến thế này! Em từng thấy mấy tay bị ướt nhưng chưa thấy ai ướt như anh đâu. Phải đấy, anh chắc chắn là ướt như chuột lột rồi!"
"Tôi ướt thật mà," Sam thừa nhận.
"Đúng thế, anh ướt rồi! Dùng từ ướt là chuẩn xác luôn. Ướt sũng từ đầu đến chân, đúng là thế đấy!"
"Là do nước," Sam nói. Não bộ anh vẫn còn mơ màng; anh ước gì mình có thể nhớ ra cuộc hẹn đó là gì. "Chính thứ đó làm tôi ướt."
"Nó làm anh ướt là cái chắc rồi," cô bé đồng tình. Cô nhìn anh với vẻ tò mò. "Anh nhảy xuống làm gì thế?" cô hỏi.
"Làm gì á?"
"Vâng, anh nhảy xuống làm gì? Sao tự dưng anh lại lao đầu xuống từ con tàu đó thế? Em không tận mắt thấy, nhưng tía bảo anh rơi uỳnh một cái từ trên boong xuống như một bao khoai tây vậy."
Sam thốt lên một tiếng kêu thất thanh. Anh đã nhớ ra rồi.
"Cô ấy đâu rồi?"
"Ai cơ?"
"Con tàu ấy."
"Chắc nó chạy xuôi dòng sông rồi ạ. Lúc em nhìn thấy lần cuối là nó đang quay đầu."
"Nó không đi mất đấy chứ!"
"Đi rồi chứ còn gì nữa. Anh mong nó đứng yên đấy chắc? Nó phải sang bờ bên kia chứ bộ? Đi mất tiêu rồi còn gì." Cô nhìn anh vẻ tò mò. "Anh muốn ở trên tàu à?"
"Tất nhiên rồi."
"Thế thì vì Chúa, sao anh lại dại dột lao đầu khỏi tàu như một bao khoai tây thế hả?"
"Tôi trượt chân. Tôi bị đẩy hay gì đó." Sam chồm dậy và nhìn quanh một cách cuống cuồng. "Tôi phải quay lại. Không có cách nào đuổi theo sao?"
"Ừm, anh có thể bắt kịp nó ở trạm kiểm dịch dưới vịnh. Nó sẽ dừng lại để trả hoa tiêu xuống."
"Cô có thể đưa tôi đến trạm kiểm dịch được không?"
Cô gái liếc nhìn đầy e dè về phía chiếc quần của người cha.
"Dạ, bọn em có thể," cô nói. "Nhưng tía em vốn là người cứng nhắc, và lúc này ông đang mải câu đô-la bằng sào móc. Ông ấy dễ nổi khùng lắm nếu bị làm phiền đấy."
"Tôi sẽ thưởng cho ông ấy năm mươi đô-la nếu đưa tôi lên tàu."
"Mang tiền theo người không đấy?" cô nàng hỏi với vẻ làm duyên. Cô bé dẫu có chút đa cảm nhưng vẫn là con gái của tía mình và thừa hưởng từ ông cái máu kinh doanh.
"Đây này." Anh rút ví ra. Chiếc ví đang nhỏ nước giọt tách tách, nhưng giấy tờ bên trong thì chỉ hơi ẩm một chút.
"Tía!" cô gái gọi.
Phần mông chiếc quần vẫn y nguyên vị trí cũ, điếc đặc trước tiếng gọi của đứa con cưng.
"Tía! Lại đây mau! Con bảo cái này!"
Chiếc quần thậm chí còn chẳng mảy may rung rinh. Nhưng cô gái này là một người quyết đoán. Có một dụng cụ hàng hải đang nằm trên giá để đồ ngay tầm với của cô. Nó dài, chắc chắn và được làm bằng một loại gỗ khá cứng. Khéo léo rút thứ đó khỏi vị trí, cô giáng cho người cha đang lơ đễnh một phát vào đúng phần duy nhất có thể nhìn thấy được của ông ta. Ông quay phắt lại, để lộ khuôn mặt đỏ lựng và đầy râu.
"Tía ơi, vị quý ông này muốn được đưa lên tàu ở trạm kiểm dịch. Ổng sẽ trả cho tía năm mươi quả."
Cơn giận bay biến khỏi khuôn mặt người thuyền trưởng nhanh như ngọn đèn được vặn nhỏ lại. Việc câu kéo từ nãy đến giờ rất ế ẩm, và nãy giờ ông mới chỉ vớt được độc một tờ hai đô-la. Trong một tình huống khẩn cấp bỗng nhiên ập đến thế này, bạn chẳng thể làm gì nên hồn với một cái sào móc câu cả.
"Năm mươi quả á!"
"Năm mươi tờ đấy!" cô con gái quả quyết. "Tía chịu không nào?"
"Này cô bé," thuyền trưởng đáp gọn lỏn, "con nói chuẩn không cần chỉnh!"
Hai mươi phút sau, Sam đang leo lên mạn con tàu lớn lững lững vươn cao như một ngọn núi vượt trội hơn hẳn chiếc tàu kéo. Quần áo trên người anh dính bết vào da thịt lạnh ngắt. Mỗi bước chân anh đi lại phát ra tiếng kêu ọp ẹp.
Một ông lão trông phúc hậu đang hút xì gà bên lan can mở trân trân đôi mắt nhìn anh.
"Cha nội ơi, cậu ướt sũng rồi kìa," ông nói.
Sam lướt qua ông với vẻ mặt lạnh tanh và rảo bước xuyên qua cánh cửa dẫn vào lối cầu thang.
"Mẹ ơi, sao chú kia lại ướt thế ạ?" giọng một đứa trẻ trong trẻo vang lên.
Sam vút qua, lao phăm phăm xuống cầu thang.
"Lạy chúa, thưa ngài! Ngài ướt quá đấy!" một tiếp viên nam kêu lên ở cửa phòng ăn.
"Cậu ướt hết cả rồi kìa," một nữ tiếp viên nói vọng theo dọc hành lang.
Sam cắm cổ chạy về khoang của mình. Anh xô cửa bước vào và ngã vật xuống chiếc ghế dài. Ở tầng giường dưới, Eustace Hignett đang nằm nhắm nghiền mắt. Cậu ta lờ đờ mở mắt ra, rồi trân trân nhìn.
"Ồ!" cậu ta nói. "Này! Cậu ướt như chuột lột thế kia!"