Con Lắc Foucault

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 353 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
67

❊ ❊ ❊

Da Rosa, nada digamos agora....

− Sampayo Bruno, Os Cavalheiros do Amor,

Lisbon, Guimaraes, 1960, tr. 155

Khi đã mang thái độ nghi ngờ, người ta không bỏ qua bất cứ manh mối nào. Sau cơn huyễn mộng của chúng tôi về hệ thống động lực và cây Sefirot, tôi đã sẵn sàng để nhìn bất cứ vật gì cũng thấy biểu tượng.

Tôi vẫn giữ liên lạc với bạn bè ở Brazil và khi ấy ở Coimbra, Bồ Đào Nha có một cuộc hội thảo về văn hóa Lusitania. Mong được gặp lại tôi nhiều hơn là vì nể trọng chuyên môn của tôi, bạn bè tại Rio kiếm cho tôi một vé mời. Lia không đi cùng; nàng đã mang thai tháng thứ Bảy, và tuy việc mang thai chỉ làm thân thể mảnh khảnh nàng thay đổi rất ít, biến nàng thành một Đức Mẹ Flanders, song nàng muốn ở nhà hơn.

Tôi đã có ba buổi tối vui vẻ cùng những đồng chí cũ. Khi đang ngồi xe buýt quay lại Lisbon, chúng tôi tranh cãi xem nên dừng ở Fatima hay Tomar. Tomar là pháo đài mà các hiệp sĩ dòng Đền Bồ Đào Nha đã rút về sau khi nhà vua và Giáo hoàng cứu họ khỏi bị xét xử và diệt vong bằng cách biến cải họ thành dòng Hiệp sĩ Chúa cứu thế. Tôi không thể bỏ qua một pháo đài của hiệp sĩ dòng Đền, và may thay những người còn lại cũng không quá đam mê Fátima.

Nếu tôi có thể sáng tạo ra một pháo đài của hiệp sĩ dòng Đền, nó hẳn sẽ chính là Tomar. Bạn tiến vào lâu đài bằng cách leo lên một lối đi được gia cố chạy dọc bên sườn các tháp lũy ngoài, rải rác những lỗ châu mai hình chữ thập, và bạn hít thở không khí Thập tự chinh ngay từ khoảnh khắc đầu tiên. Ở nơi này, các hiệp sĩ của Chúa Jesus đã phồn thịnh trong hàng thế kỷ. Theo Truyền thuyết thì Henry Nhà hàng hải cũng thuộc về dòng tu này, và trên thực tế pháo đài được dâng trọn cho công cuộc chinh phục biển cả. Sự tồn tại dài lâu và hạnh phúc của các hiệp sĩ ở đây đã khiến pháo đài được xây dựng lại và mở rộng qua các thế kỷ, vậy nên bên cạnh những phần Trung cổ lại có thêm những phần Phục hưng và Baroque. Tôi đã xúc động khi bước vào nhà thờ của các hiệp sĩ dòng Đền với mái vòm hình bát giác tái hiện lại mái vòm của nhà thờ Mộ Thánh, và tôi kinh ngạc nhận thấy những cây thập tự của các hiệp sĩ dòng Đền có hình dạng khác nhau, tùy theo họ từ địa phương nào. Đây là một vấn đề tôi gặp phải trước đây khi xem những minh họa lộn xộn về đề tài này. Trong khi thánh giá của các hiệp sĩ dòng Malta vẫn còn ít nhiều điểm tương đồng thì thánh giá của hiệp sĩ dòng Đền chịu ảnh hưởng của giai đoạn lịch sử và các truyền thống địa phương. Đó là lý do vì sao những kẻ theo đuổi dòng Đền, mỗi khi tìm thấy bất kỳ loại thập giá nào ở đâu đó, liền lập tức cho rằng mình đã khám phá ra một dấu vết của các hiệp sĩ ấy.

Hướng dẫn viên đưa chúng tôi đi xem cửa sổ Manueline, janela par excellence*, một món vàng bạc chạm lộng, một mớ lắp ghép những kho báu trên mặt biển và dưới lòng biển sâu, tảo biển, vỏ ốc, mỏ neo, tời, dây xích, ca tụng những thành tích của các hiệp sĩ trên biển khơi. Hai bên cửa sổ là hai tòa tháp được tô điểm những hình khắc huy hiệu của dòng Garter. Biểu tượng của một dòng hiệp sĩ Anh quốc làm gì trong một tu viện Bồ Đào Nha được biến thành pháo đài như thế này? Người hướng dẫn không thể trả lời; nhưng chỉ ít lâu sau, ở cánh bên kia, cánh Đông Bắc, chắc vậy, anh ta cho chúng tôi xem các huy hiệu của dòng Bộ Lông Cừu Vàng. Tôi không thể không nghĩ tới trò chơi liên minh tinh tế đã hợp nhất dòng Garter với dòng Bộ Lông Cừu Vàng, bộ lông cừu với những thủy thủ Argonaut, những thủy thủ Argonaut với Chén thánh, và Chén thánh với các hiệp sĩ dòng Đền. Nhớ lại bài diễn thuyết của đại tá Ardenti cùng một vài trang trong các bản thảo của Quỷ giả, tôi giật nẩy người khi hướng dẫn viên dẫn chúng tôi vào xem một phòng bên có trần được giữ bằng đá đỉnh vòm. Những viên đá hình hoa hồng, nhưng trên một số phiến có chạm khắc một khuôn mặt dê râu ria: Baphomet...

Tiếng Bồ Đào Nha: khung cửa sổ tuyệt mỹ.

Chúng tôi đi xuống một hầm mộ. Sau bảy bước, sàn đá trần dẫn tới chỗ tụng niệm, nơi có thể đã từng có một ban thờ hoặc ngai của đại thủ lĩnh. Bạn đến đó qua một lối đi bên dưới bảy phiến đá đỉnh vòm, mỗi phiến có hình một bông hồng, phiến trước to hơn phiến sau, phiến cuối cùng đặt trên một miệng giếng. Thập tự và Hoa hồng, trong một tu viện của hiệp sĩ dòng Đền, và trong một căn phòng chắc chắn được dựng từ trước thời những bản tuyên ngôn của Hội Thập tự Hoa hồng... Tôi đặt một số câu hỏi với hướng dẫn viên. Anh ta mỉm cười. “Giá mà anh biết được có bao nhiêu người theo đuổi khoa học huyền bí tới đây hành hương... Nghe nói đây là phòng thụ giáo.”

Tình cờ bước vào một căn phòng chưa được phục chế, vẫn còn một ít đồ đạc phủ bụi, tôi thấy sàn nhà vương vãi những hộp các tông lớn. Lục lọi ngẫu nhiên, tôi khám phá ra một số mẩu của những tập sách bằng tiếng Hebrew, ước chừng có từ thế kỷ 17. Những người Do Thái làm gì ở Tomar chứ? Hướng dẫn viên bảo tôi rằng các hiệp sĩ đã giữ mối quan hệ hòa hảo với cộng đồng Do Thái địa phương. Anh ta cũng bảo tôi nhìn ra ngoài cửa sổ và chỉ cho tôi một mảnh vườn nhỏ thiết kế giống một mê cung Pháp thanh nhã, bảo rằng đó là tác phẩm của một kiến trúc sư Do Thái thế kỷ mười tám: Samuel Schwarz.

Cuộc hẹn thứ Hai ở Jerusalem... Và cuộc đầu tiên ở Pháo đài? Chẳng phải mật thư Provins là vậy sao? Lạy Chúa, pháo đài Truyền chức thánh được nhắc tới trong văn bản của Ingolf không phải là Monsalvat trong các tiểu thuyết hiệp sĩ, Avalon của Hyperboreal. Không. Pháo đài nào là pháo đài mà các hiệp sĩ dòng Đền ở Provins, quen với việc chỉ huy trang ấp hơn là đọc những truyện anh hùng hiệp sĩ Bàn Tròn, chọn làm điểm gặp mặt đầu tiên? Thiên địa ơi, là Tomar, pháo đài của các hiệp sĩ dòng Chúa Jesus, một nơi mà những kẻ sống sót của dòng tu có thể hưởng tự do tuyệt đối, những người đảm bảo không thay đổi, và nơi mà họ có thể liên lạc với những đại diện của nhóm thứ Hai!

Tôi rời Tomar và Bồ Đào Nha mà tâm trí hừng hực. Tôi không còn cười vào cái mật thư mà Ardenti trưng cho chúng tôi xem. Các hiệp sĩ dòng Đền, khi trở thành một dòng tu bí mật, đã vạch ra một kế hoạch sẽ kéo dài sáu trăm năm và kết lại trong thế kỷ của chúng ta. Các hiệp sĩ dòng Đền là những người nghiêm túc. Nếu họ nói về một pháo đài, họ có ý nói về một pháo đài thực thụ. Kế hoạch bắt đầu ở Tomar. Và lộ trình lý tưởng sẽ như thế nào, điểm tiếp theo của năm cuộc gặp khác là gì? Những nơi chốn mà các hiệp sĩ dòng Đền có thể dựa vào tình bạn, sự bảo vệ, sự chở che. Viên đại tá từng nói về Stonehenge, Avalon, Agarttha... Vớ vẩn. Thông điệp phải được nghiên cứu lại hoàn toàn.

Tất nhiên - tôi nhắc nhở mình trên đường về - ý tưởng căn cốt không phải là khám phá bí mật của hiệp sĩ dòng Đền, mà là để xây dựng nên nó.

Belbo có vẻ không thoải mái với ý tưởng quay lại với văn bản mà viên đại tá để lại, sau một hồi ngần ngừ lục trong ngăn kéo bàn phía dưới anh ta mới tìm thấy nó. Nhưng tôi thấy anh ta đã giữ lại nó. Chúng tôi cùng nhau đọc lại mật thư Provins, sau hàng bao nhiêu năm.

Nó bắt đầu với thông điệp được mã hóa theo phương pháp của Trithemius: Les XXXVI invisibles separez en six bandes. Và rồi:

a la... Saint Jean

36 p charrete defein

6... entiers avec saiel

p... les blancs mantiax

r... s... Chevaliers de Pruins pour la... j. nc.

6 foiz 6 en 6 places

chascune foiz 20 a... 120 a...

iceste est l’ordonation

al donjon li premiers

it li secunz joste iceus qui... pans

it al refuge

it a Nostre Dame de l’altre part de l'iau

it a l’ostel des popelicans

it a la pierre

3 foiz 6 avant la feste... la Grant Pute.

“Ba mươi sáu năm sau sự kiện xe cỏ, vào đêm thánh John năm 1344, sáu thông điệp niêm phong gửi tới các hiệp sĩ mặc áo thụng trắng, những hiệp sĩ đã phản cung ở Provins, báo thù. Sáu lần sáu ở sáu nơi, mỗi lần cách hai mươi năm, tổng cộng một trăm hai mươi năm, Kế hoạch là vậy. Đầu tiên ở Pháo đài, rồi tới nơi những người ăn bánh mì, rồi ở Nơi Trú ẩn, rồi ở Đức Mẹ Bên Kia Sông, rồi tại Nhà của người Popelican, rồi tới Phiến đá. Anh thấy đấy, vào năm 1344, thông điệp này nói rằng nhóm đầu tiên phải tới Pháo đài. Và trên thực tế, các hiệp sĩ định cư ở Tomar vào năm 1357. Giờ chúng ta phải tự hỏi liệu nhóm thứ Hai sẽ đi đâu. Nào: hãy tưởng tượng anh là một hiệp sĩ dòng Đền đang trốn chạy, anh sẽ tới đâu để tổ chức nhóm thứ Hai?”

“Hừm... Nếu đúng là những người trên cái xe cỏ đó chạy tới Scotland... Nhưng vì sao họ lại phải tới chính Scotland để chén bánh mì?”

Tôi đang trở thành một bậc thầy về các chuỗi kết nối. Bạn có thể bắt đầu tại bất kỳ nơi đâu. Scotland. Highlands. Các nghi lễ Druid. Đêm thánh John. Hạ chí. Ngọn lửa thánh John. Cành vàng. Bởi vì tôi đã đọc về ngọn lửa thánh John trong Cành vàng của Frazer.

Tôi gọi cho Lia. “Giúp anh một việc. Em hãy lấy cuốn Cành vàng ra xem nó nói gì về Ngọn lửa thánh John.”

Lia rất xuất sắc trong việc này. Nàng lập tức tìm thấy chương cần tìm. “Anh muốn biết gì? Đây là một nghi thức rất cổ, được thực hành ở hầu khắp các quốc gia châu Âu. Nó diễn ra vào thời khắc mặt trời đạt tới điểm cao nhất. Thánh John được thêm vào để tạo không khí Kitô giáo...”

“Ở Scotland người ta có ăn bánh mì không?”

“Để xem nào... Chắc là không... À, đây rồi: họ không ăn bánh mì vào đêm thánh John mà ăn vào đêm đầu tiên của tháng Năm, đêm lửa Beltane, có nguồn gốc là một ngày hội Druid, họ ăn bánh mì, đặc biệt là ở các vùng cao...”

“Chúng ta tìm được rồi! Loại bánh nào vậy?”

“Họ nhồi một cái bánh bột mì và yến mạch rồi nướng trên than... Rồi tiếp đến một nghi thức tưởng nhớ tới những hy sinh của người xưa... Bánh mì được gọi là bánh bannock...”

“Gì cơ? Đánh vần cho anh xem!” Nàng làm theo và tôi cảm ơn nàng, gọi nàng là Beatrice của tôi, Morgan le Fay của tôi, cũng những lời âu yếm khác.

Tôi cố nhớ lại luận văn của mình. Theo truyền thuyết, Hội bí mật trốn ở Scotland dưới trướng vua Robert dòng dõi Bruce, và các hiệp sĩ dòng Đền giúp nhà vua chiến thắng trận đánh ở Bannockburn. Để thưởng cho họ, nhà vua lập họ thành một dòng tu mới, Dòng các hiệp sĩ của thánh Andrew ở Scotland.

Tôi lấy một cuốn từ điển tiếng Anh to dày khỏi giá, tìm từ bannock: bannok theo tiếng Anh Trung cổ, bannuc theo tiếng Anglo-Saxon, bannach theo tiếng Gaelic. Một loại bánh, được nướng trên vỉ hay phiến đá, làm từ lúa mạch, yến mạch và những ngũ cốc khác. Burn là một dòng suối. Ta chỉ việc dịch Bannockburn như các hiệp sĩ dòng Đền ở Pháp hẳn sẽ làm khi họ gửi tin từ Scotland tới những người đồng bào tại Provins, thế là ta sẽ có được một thứ từa tựa dòng suối của chiếc bánh, hay là của ổ bánh, hay là của bánh mì. Những người ăn bánh mì là những người đã chiến thắng ở dòng suối của ổ bánh mì, và bởi vậy là nhóm Scotland mà có lẽ lúc đó đã tỏa khắp các đảo Anh. Suy ra một cách logic: từ Bồ Đào Nha tới Anh. Đó là một con đường ngắn, ngắn hơn nhiều so với con đường của Ardenti từ Địa cực tới Palestine.

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.