Con Lắc Foucault

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 353 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
70

❊ ❊ ❊

Dầu vậy chúng ta hãy ghi nhớ cho kỹ những gợi nhắc bí ẩn tới kỳ hạn 120 năm mà sư huynh A..., kế nhiệm của D và cũng là người cuối cùng thuộc thế hệ kế tục thứ Hai - những người sống lẫn giữa chúng ta - đã nói với chúng ta, thế hệ kế tục thứ ba ...

− Fama Fratemitatis, trong Allgemeine und general Reformation,

Cassel, Wessel, 1614

Trước tiên, tôi đọc hai bản tuyên ngôn của Hội Thập tự Hoa hồng, FamaConfessio. Tôi cũng ngó qua Đám cưới hóa học của Christian Rosencreutz do Johann Valentin Andreae viết vì Andreae được cho là tác giả của các bản tuyên ngôn.

Hai bản tuyên ngôn xuất hiện ở Đức vào tầm từ năm 1614 đến 1615, tức là khoảng ba mươi năm sau cuộc gặp gỡ năm 1584 giữa các nhóm hiệp sĩ dòng Đền Pháp và Anh, gần một thế kỷ trước thời điểm nhóm Pháp sẽ gặp nhóm Đức.

Tôi đọc, không phải để tin vào những gì các bản tuyên ngôn nói, mà là để nhìn vào sâu vào đằng sau chúng, như thể những con chữ ẩn chứa điều gì đó khác. Để giúp chúng có thêm ý nghĩa, tôi biết rằng nên bỏ qua một số đoạn và gán thêm tầm quan trọng cho một số phát biểu. Nhưng đây chính là những gì các Quỷ giả và những bậc thầy của họ đang dạy chúng tôi. Nếu anh can thiệp vào thời gian tinh lọc của mặc khải, hãy đừng đuổi theo những hoa hòe hoa sói, những chuỗi logic sặc mùi cố chấp phi-li-xtanh* cùng tính liên tục đơn điệu của chúng.

Bản tiếng Anh: “philistine chains of logic”, ý chỉ một người có thái độ thù địch hay bàng quan với văn hóa, nghệ thuật. Từ trong tiếng Ý là Puntiglioso: chỉ một người cố thắng bằng mọi cách, tìm những điểm nhỏ nhất để thắng.

Nhìn vào nghĩa đen, hai văn bản này là một đống những vô lý, khó hiểu, mâu thuẫn. Bởi vậy điều họ đang nói không thể là những gì hiển hiện trên câu chữ, lại càng không phải lời kêu gọi cải cách tâm tinh sâu xa hay câu chuyện về Christian Rosencreutz khốn khổ. Chúng là một thông điệp mã hóa mà muốn đọc thì phải chồng một tấm lưới lên trên, tấm lưới ấy để lại một số chỗ và che kín những chỗ khác. Giống như mật thư Provins mà trong đó chỉ tính các chữ cái đầu. Không có trong tay tấm lưới kia, tôi đành tự giả định ra một tấm. Tôi phải đọc bằng con mắt nghi ngờ.

Các bản tuyên ngôn kia nói về Kế hoạch Provins, điều này là chắc chắn. Trong nấm mộ của CR. (phúng dụ cho Grange-aux-Dimes, đêm 23 tháng Sáu năm 1344), một kho báu đã được đặt đó cho hậu thế khám phá, một kho báu “còn ẩn giấu... trong một trăm hai mươi năm.” Không phải tiền bạc; rõ ràng như vậy. Từng có không chỉ một cuộc luận chiến phản đối sự tham lam vô độ của giới giả kim, nhưng văn bản kia công khai hứa hẹn một thay đổi lịch sử lớn lao. Và nếu người đọc có chưa hiểu ra điều đó thì bản tuyên ngôn thứ Hai bổ sung thêm rằng không thể làm ngơ trước một đề nghị có liên quan tới miranda sextae aetatis (những phép lạ của cuộc hẹn thứ sáu và cuộc hẹn cuối cùng!), và nó nhắc lại: “Giá như sự này làm vui lòng Thiên Chúa để Người ban xuống cho ta ánh sáng từ Cây nến thứ sáu của Người... Giá như ta có thể đọc mọi điều trong độc một cuốn sách và khi đọc, ta hiểu được và ghi nhớ... Hân hoan sao nếu qua khúc ca (thông điệp được xướng to!) ta có thể biến đá (lapis exillis!) thành trân châu và đá quý...” Và trong đó còn nói xa hơn tới những bí mật bí truyền, tới một chính quyền sẽ được lập ra ở châu Âu và tới một “đại công trình” cần đạt được...

Người ta nói rằng CR. đã tới Tây Ban Nha (hay Bồ Đào Nha?) và trình bày với các học giả ở đó rằng “có thể rút từ đâu ra các tín hiệu đích thực về các thế kỷ tương lai”, nhưng phí công vô ích. Tại sao lại phí công vô ích? Liệu có phải bởi một nhóm hiệp sĩ dòng Đền Đức vào đầu thế kỷ 17 đã công bố một bí mật được canh giữ rất kỹ lưỡng, họ bị buộc phải bước ra ánh sáng bởi một sự ngưng trệ trong tiến trình chuyển giao thông điệp kia?

Không thể phủ nhận việc các bản tuyên ngôn cố gắng tái thiết các giai đoạn của Kế hoạch như Diotallevi đã tóm lược. Vị sư huynh đầu tiên mà việc tạ thế được nhắc tới là sư huynh IO., đã “đi tới điểm kết” ở nước Anh. Vậy nên có người đã mã đáo thành công ở cuộc hẹn đầu tiên. Rồi dòng kế tục thứ Hai, và dòng thứ ba được đề cập. Đến điểm này thì mọi thứ vẫn như kế hoạch: dòng thứ Hai, dòng Anh quốc, gặp dòng thứ ba, dòng Pháp quốc, vào năm 1584. Những văn bản đầu thế kỷ 17 chỉ nói về chuyện đã diễn ra với ba nhóm đầu tiên. Trong Đám cưới hóa học do Andreae viết vào thời trai trẻ, suy ra là trước thời các bản tuyên ngôn (ngay cả khi các tuyên ngôn kia ra đời ngay từ năm 1614), có nhắc tới ba ngôi đền kỳ vĩ, ba địa điểm mà ắt hẳn người ta đã biết.

Ấy thế nhưng khi đọc, tôi nhận ra rằng dẫu quả thực hai bản tuyên ngôn sau này cũng nhắc cùng những điều như Đám cưới hóa học, song hình như có gì đó bất ổn đã diễn ra trong giai đoạn này.

Chẳng hạn, vì sao lại khăng khăng đến vậy vào chuyện rằng đã đến lúc rồi, thời khắc đã tới, mặc dù kẻ thù đã vận đến mọi thủ đoạn để khiến cơ hội không được hiện thực? Cơ hội nào? Nó nói rằng mục tiêu cuối cùng của CR. là Jerusalem, nhưng ông ta không thể nào tới được Jerusalem. Tại sao lại không? Người Ả Rập được ca tụng bởi vì họ biết trao đổi tin tức, nhưng ở Đức các học giả không biết cách giúp đỡ lẫn nhau. Điều đó có nghĩa gì? Và còn một ý là “một bầy lớn hơn khát khao bãi cỏ chỉ riêng cho mình nó”. Rõ ràng một phe phái nào đó, theo đuổi những tư lợi riêng mình, đang cố gắng đảo lộn Kế hoạch, và hiển nhiên đã có một trở ngại nghiêm trọng trên thực tế.

Cuốn Fama nói rằng ban đầu ai đó đã viết ra một văn bản ma thuật (tất nhiên rồi, đó chính là mật thư Provins), nhưng Đồng hồ của Chúa điểm mỗi phút “trong khi đồng hồ của chúng ta không thể điểm dù chỉ theo giờ.” Ai đã bỏ lỡ những nhịp điểm trên đồng hồ thánh linh, ai đã không đến được một nơi cụ thể nào đó vào đúng thời điểm? Có chỗ nhắc tới một nhóm sư huynh ban đầu, những người lẽ ra có thể tiết lộ một triết lý bí mật nhưng thay vào đó đã quyết định phân tán khắp thế gian.

Các bản tuyên ngôn thở ra sự bồn chồn, mơ hồ, hoang mang. Các sư huynh của những dòng kế tục đầu tiên đều đã sắp xếp để “một người kế tục xứng đáng” thay thế mình, nhưng “họ quyết định giữ bí mật... mộ phần của mình và đến nay ta vẫn không biết được họ nằm nơi nào.”

Lời ấy thực sự đang nói về điều gì? Lăng mộ nào mà không có lấy một địa chỉ? Tôi nhận thấy rõ ràng rằng các bản tuyên ngôn được viết ra bởi vì một số thông tin đã bị thất lạc. Một lời khẩn nài được gửi tới bất kỳ ai vô tình sở hữu thông tin kia: Người ấy nên xuất đầu lộ diện.

Đoạn kết của Fama rất dứt khoát: “Một lần nữa chúng tôi kêu gọi tất cả các học giả của châu Âu... hãy cẩn thận cân nhắc lời đề nghị của chúng tôi... Cho chúng tôi biết điều họ suy ngẫm... Bởi vì dù hiện tại đây chúng tôi không tiết lộ danh tính mình... song bất cứ ai gửi danh tính đến chúng tôi đều có thể gặp riêng cùng chúng tôi, hay nếu có trở ngại nào tồn tại thì liên lạc qua giấy bút.”

Đây chính là điều viên đại tá đã định làm thông qua việc xuất bản câu chuyện của mình: buộc ai đó phải thôi im lặng mà bước ra ánh sáng.

Có một khoảng trống, một sự ngắt quãng, một sự đứt gãy. Trong nấm mồ của CR. không chỉ có dòng chữ post 120 annos patebo để nhắc về lịch trình các cuộc hẹn, mà còn cả Nequaquam vacuum; không phải “Khoảng trống không tồn tại,” mà là “Khoảng trống không nên tồn tại.” Một khoảng trống đã phát sinh, và nó phải được lấp đầy!

Một lần nữa tôi tự hỏi mình: Tại sao những thứ này lại được nói ra ở nước Đức, nơi mà dẫu có chuyện gì, dòng thứ Tư đáng lẽ cứ ngồi đó đợi với sự nhẫn nại thần thánh cho đến lượt mình? Người Đức không thể phàn nàn vào năm 1614 về một cuộc hẹn thất bại ở Marienburg, bởi vì cuộc hẹn Marienburg mãi tới năm 1704 mới diễn ra.

Chỉ một kết luận là có khả năng: Người Đức phàn nàn bởi vì cuộc hẹn trước đó không diễn ra.

Đây chính là mấu chốt! Người Đức (dòng thứ Tư) đang than van cái thực tế rằng người Anh (dòng thứ Hai) đã không gặp được người Pháp (dòng thứ ba). Tất nhiên rồi. Trong nội dung ta có thể tìm thấy những ẩn dụ rõ ràng đến gần như ngây ngô: nấm mồ của CR. đã mở và trong đó có chữ ký của các sư huynh nhóm thứ nhất và nhóm thứ Hai nhưng không có nhóm thứ ba. Người Bồ và người Anh ở đó, nhưng người Pháp đâu rồi?

Nói cách khác, người Anh không gặp được người Pháp. Nhưng người Anh, theo như những gì chúng ta đã xác định, là những người duy nhất biết tìm người Pháp ở đâu, cũng như nhóm Pháp là những người duy nhất biết tìm nhóm Đức ở đâu. Vậy nên, dù cho nhóm người Pháp tìm thấy nhóm người Đức vào năm 1704, họ cũng sẽ mất đi hai phần ba những gì đáng lẽ họ phải trao.

Hội Thập tự Hoa hồng ra mặt, chấp nhận những rủi ro của việc lộ diện, bởi vì đó là cách duy nhất để cứu vãn Kế hoạch.

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.