Ta là đấng ta là*.
− Xuất hành 3:14
Ego sum qui sum. Một chân lý của triết học Hermetic.
− Madame Blavatsky, Vén màn bí mật thần Isis, 1877, tr. 1
“Ngươi là ai?” Ba trăm giọng nói vang Lên như một, trong khi hai mươi thanh gươm Lóe Lên trong bàn tay của những bóng ma gần nhất... “Ta là đấng ta là,” người nói.
− Alexandre Dumas, Giuseppe Balsamo, ii
Trong Công giáo có nhiều cách dịch cụm từ này, nhưng ở đây chúng tôi dùng cách dịch này để phù hợp với câu chuyện.
Sáng hôm sau tôi gặp Belbo. “Hôm qua chúng ta đã phác thảo ra một tiểu thuyết ba xu hết sảy,” tôi nói với anh ta. “Nhưng có lẽ nếu muốn biến nó thành một Kế hoạch thuyết phục, ta nên bám chặt hơn vào hiện thực.”
“Hiện thực nào?” anh ta hỏi tôi. “Có khi chỉ những tiểu thuyết rẻ tiền mới có thể cho chúng ta thước đo chân chính về hiện thực. Cũng có khi chúng dối gạt chúng ta.”
“Như thế nào?”
“Một mặt khiến chúng ta tin rằng có Nghệ thuật Lớn, khắc họa những nhân vật điển hình trong những hoàn cảnh điển hình, rồi mặt khác có truyện ly kỳ hồi hộp, truyện tình cảm ướt át, mô tả những nhân vật không điển hình trong những hoàn cảnh không điển hình. Tôi nghĩ chẳng một anh chàng bảnh chọe đích thực nào lại đi làm tình với Scarlett O’Hara hay thậm chí Constance Bonacieux hay Công chúa Daisy. Tôi chơi nhởn với tiểu thuyết rẻ tiền để hóng chút gió bên ngoài đòi thực này. Nó an ủi tôi, bày ra cái không thể đạt tới. Nhưng tôi đã trật lất.”
“Trật lất?”
“Trật lất. Proust nói đúng: âm nhạc tôi tái hiện cuộc đời tốt hơn so với một khúc Missa solemnis. Nghệ thuật Lớn cười vào mũi chúng ta trong khi an ủi ta, bởi vì nó phô bày trước mắt ta thế giới như nghệ sĩ muốn. Trái lại, tiểu thuyết rẻ tiền giả bộ như đùa cợt, nhưng rồi lại phô bày thế giới như nó thực là thế - hoặc ít nhất là thế giới như nó sẽ trở thành. Đàn bà giống Milady hơn nhiều so với giống Little Nell, Fu Manchu thực hơn là Nathan Thông thái, và Lịch sử gần với những gì Sue kể hơn là những gì Hegel phóng chiếu. Shakespeare, Melville, Balzac và Dostoyevski đều viết những câu chuyện hư cấu động lòng người. Nhưng những gì xảy ra trên thế giới đã được tiên đoán trong các tiểu thuyết ba xu rùng rợn.”
“Thực tế là, hiện thực bắt chước theo tiểu thuyết rẻ tiền dễ hơn là bắt chước theo nghệ thuật. Trở thành nàng Mona Lisa là việc khó; chọn trở thành Milady tức là ta theo thiên hướng tự nhiên của chúng ta: con đường dễ dàng hơn.”
Diotallevi, vốn im lặng cho tới lúc đó, nhận xét: “Hoặc lấy Agliè của chúng ta làm ví dụ. Ông ta thấy bắt chước Saint-Germain dễ hơn là Voltaire.”
“Phải,” Belbo nói, “và phụ nữ thấy Saint-Germain thú vị hơn Voltaire.”
Sau này, tôi tìm thấy file dưới đây, trong đó Belbo chuyển cuộc thảo luận của chúng tôi thành dạng hư cấu, tự tiêu khiển bằng cách tái hiện câu chuyện của Saint-Germain mà không thêm bất cứ thứ gì của bản thân vào, chỉ một vài câu chỗ này chỗ nọ để tạo bước chuyển trong một tác phẩm cắt dán bạo liệt những câu trích dẫn, đạo văn, vay mượn, những rập khuôn sáo mòn. Lại một lần nữa, để thoát khỏi sự khó chịu của Lịch sử, Belbo viết và săm soi lại cuộc đời thông qua vai trò một kẻ đóng thế văn chương.
Saint-Germain trở lạidoc
Đã năm thế kỷ nay bàn tay báo thù của đấng Toàn năng đã kéo tôi từ chốn sơn cùng thủy tận của Á châu tới tận vùng đất lạnh lẽo, ẩm thấp này. Tôi mang theo mình sợ hãi, tuyệt vọng, cái chết. Nhưng không, tôi là công chứng viên của Kế hoạch, ngay cả khi không ai biết điều ấy. Tôi đã chứng kiến những việc còn khủng khiếp hơn nhiều; chuẩn bị đêm thánh Bartholomew còn khó chịu hơn điều mà tôi đang chuẩn bị làm. Chà, vì sao đôi môi tôi lại cong lên thành nụ cười ma quỷ này? Ta là người ta là. Giá mà cái lão khốn Cagliostro đó đừng đoạt mất của tôi ngay cả đặc quyền cuối cùng này.
Nhưng khúc khải hoàn của tôi đang sát gần. Khi tôi còn là Kelley, Soapes đã kể cho tôi mọi thứ trong Tháp Luân Đôn. Bí quyết là trở thành một kẻ khác.
Bằng một âm mưu khôn ngoan, tôi đã khiến Giuseppe Balsamo bị giam trong pháo đài San Leo và tôi tước đoạt những bí mật của lão. Saint-Germain đã biến mất; giờ tất cả đều tin tôi là Conte di Cagliostro.
Tất cả đồng hồ trong thành rền vang báo nửa đêm. Một sự thanh bình mới quái dị làm sao. Bầu im lặng này không lừa nổi tôi. Một buổi tối đẹp đẽ dẫu lạnh; mặt trăng trên cao tỏa ánh sáng băng giá lên những con ngõ không xâm nhập nổi của Paris xưa cũ. Đã mười giờ: tháp của tu viện Thầy Dòng Đen vừa điểm tám nhịp, chậm chạp. Con gió với tiếng rít thê lương quay những chong chóng gió bằng sắt trên những mái nhà tiêu điều nối nhau san sát. Một tấm chăn mây dày phủ khắp bầu trời.
Thuyền trưởng, chúng ta đang quay trở về sao? Không. Chúng ta đang chìm! Mẹ kiếp, tàu Patna đang chìm. Nhảy đi, Jim Bốn Bể, nhảy! Tôi sẵn sàng cho đi một viên kim cương to bằng quả óc chó miễn sao thoát khỏi thống khổ này. Lái buồm chính theo chiều gió, lấy bánh lái, buồm ngọn, bất cứ thứ gì mi muốn, quỷ tha ma bắt mi đi, nó đang nổ tung!
Tôi nghiên hai hàm răng một cách kinh hoàng trong khi vẻ tái nhợt chết chóc lan đầy khuôn mặt xanh xao bệch bạc của tôi.
Làm sao tôi lại đến nông nỗi này, chính tôi, kẻ vốn chính là hình ảnh của báo thù? Những linh hồn của Địa ngục sẽ mỉm cười khinh bỉ dòng lệ của sinh vật mà giọng nói hăm dọa quá thường xuyên khiến chúng run rẩy ngay cả trong bụng địa ngục rừng rực cháy.
Ô la la, ánh đèn!
Tôi đã đi bao nhiêu bước để đến được hang thú dữ này? Bảy? Ba mươi sáu? Không tảng đá nào tôi lướt qua, không bước chân nào tôi đi qua mà không giấu một ký hiệu mật. Khi tôi đã khám phá ra hết thảy, cuối cùng Huyền Bí cũng sẽ hiển lộ với những môn đồ trung thành của tôi. Thông điệp sẽ được giải mã, đáp án của nó sẽ là Chìa khóa, và với người thụ giáo, chỉ với người thụ giáo, Bí ẩn khi ấy sẽ được hé lộ.
Giữa Bí ẩn và việc giải mã Thông điệp, khoảng cách rất ngắn, và từ đó, Ký hiệu thánh sẽ hiện hình, chói sáng, trên đó Lời nguyện cầu Chất vấn sẽ được làm rõ. Rồi Bí mật sẽ được vén sang bên, tấm màn, bức thảm Ai Cập che phủ Ngôi Sao Năm Cánh. Và từ đó hướng tới ánh sáng, tuyên bố Ý Nghĩa Bí Truyền của Ngôi Sao Năm Cánh, Câu hỏi Kabbalah mà chỉ ít người có thể đáp, và xướng tụng bằng giọng sấm sét Ký hiệu Không thể Thấu tỏ. Cúi xuống nó, Ba mươi sáu Người vô hình sẽ phải đưa ra Câu trả lời, sự thốt lên Chữ Thần Diệu mà Ý nghĩa chỉ hé mở với những đứa con của Hermes. Hãy trao cho họ Dấu Niêm Phong Giễu Nhại, Mặt Nạ mà đằng sau nó phác họa Khuôn Mặt họ tìm tòi khám phá, Câu Đố Hình Huyền Bí, Phép Đảo Chữ Siêu Phàm...
“Sator Arepo!” tôi kêu lên với giọng có thể khiến một bóng ma run rẩy. Và Sator Arepo xuất hiện, rời bỏ bánh lái mà gã nắm với đôi bàn tay lanh lẹ của một kẻ sát nhân. Theo lệnh tôi, gã quỳ rạp xuống. Tôi nhận ra gã, bởi vì tôi đã nghi ngờ danh tính gã. Gã là Luciano, tay thư ký hãng tàu tật nguyền, kẻ mà các Bề trên Ẩn danh đã ấn định sẽ thực thi nhiệm vụ độc ác và máu me của tôi.
“Sator Arepo,” tôi chế giễu hỏi, “mi có biết lời đáp Cuối cùng ẩn giấu đằng sau Phép Đảo Chữ Siêu Phàm là gì không?”
“Dạ không, thưa bá tước,” kẻ hấp tấp kia đáp. “Tôi đợi nghe nó từ miệng ngài đây ạ.”
Từ đôi môi nhợt nhạt của tôi tiếng cười quái đản bật ra và vang vọng qua những vòm nhọn cổ xưa.
Thằng ngốc! Chỉ có người thụ giáo đích thực mới biết rằng mình không biết điều đó!”
“Vâng, thưa chủ nhân,” gã thư ký khuyết tật ngu ngốc đáp. “Xin vâng lệnh ngài. Tôi sẵn sàng rồi đây ạ.”
Chúng tôi ở trong một hang ổ bẩn thỉu tại bến Clignancourt. Tối nay ta phải trừng phạt trước tiên là em, kẻ đã thụ giáo cho ta vào nghệ thuật cao quý của tội ác, kẻ giả vờ như yêu thương ta, và kẻ, còn tồi tệ hơn thế, tin rằng em yêu ta, cùng với những địch nhân vô danh mà em sẽ chung chạ ngay cuối tuần tới. Luciano, nhân chứng không được chào đón cho nỗi nhục của ta, sẽ giúp ta một tay - cánh tay duy nhất của gã - rồi cả gã cũng sẽ chết.
Căn phòng có một cái cửa lật dẫn xuống một hào nước hoặc một động lớn, một lối đi ngầm được sử dụng từ thuở xa xưa để cất trữ hàng buôn lậu, một nơi luôn ẩm ướt vì thông với hệ thống cống ngầm Paris, cái mê lộ của tội ác, và các bức tường cổ xưa rỉ ra những chướng khí khôn xiết tả, vậy nên với sự giúp đỡ của Luciano, luôn trung thành trong những chuyện ma quỷ, tôi đục một lỗ trên tường, nước phụt ra; nước tràn ngập căn hầm, những bức tường đã mục nát sụp đổ, lối đi nhập làm một với cống, xác chuột chết lềnh bềnh trôi qua. Cái bề mặt đen đen có thể thấy từ phía trên giờ là cổng tới diệt vong: xa, xa kia, dòng Seine, và rồi là biển cả...
Một chiếc thang thả xuống, gắn vào cạnh trên của cửa lật. Đu mình trên chiếc thang này, ngang tầm mặt nước, Luciano vào việc cùng một con dao: một tay bám lấy nấc thang cuối cùng, tay kia nắm con dao, bàn tay thứ ba sẵn sàng tóm lấy nạn nhân. “Giờ hãy im lặng chờ đợi,” tôi bảo, “rồi mi sẽ thấy.”
Ta đã thuyết phục em hủy diệt tất thảy lũ đàn ông mang sẹo. Đến đây với ta, mãi mãi thuộc về ta, hãy cùng xóa sổ những sinh vật những nhiễu kia. Ta biết rất rõ rằng em nào yêu chúng - em đã bảo ta như thế - nhưng hai ta sẽ còn ở lại, đôi ta và những dòng ngầm.
Giờ em xuất hiện, kiêu kỳ như một nữ tu trinh bạch, khàn đặc và trơ trơ vô cảm như một mụ phù thủy. Ôi cái hình ảnh địa ngục đã khuấy động con giống già cỗi của ta và tóm lấy tâm ta bằng nanh vuốt của dam mê, Ôi đứa con hỗn chủng huy hoàng, công cụ cho phán xét cuối cùng của ta! Với đôi bàn tay như vuốt chim ta xé lớp vải áo sơ mi phin nõn mịn màng nó tôn bộ ngực ta lên, và bằng móng vuốt ta cào rách da thịt mình thành những đường rãnh trào máu, trong khi một sự thiêu đốt khủng khiếp làm khô héo đôi môi ta lạnh như vảy Con Rắn. Một tiếng gầm vang vọng dậy lên từ hố sâu đen ngòm của linh hồn ta và bật ra qua hàm răng dữ tợn của ta - ta, con quái vật nửa người nửa ngựa mà sa mạc Tartar* ọe ra... Nhưng ta nén chặt tiếng hét mà tiến tới em với nụ cười hãi hùng.
Lấy ý từ tiểu thuyết Sa mạc Tartar (II deserto dei Tartari) của nhà văn người Ý Dino Buzzati, xuất bản năm 1940. Cuốn sách kể về Drogo, một anh lính đầy hoài bão, đã chờ đợi cả đời một cuộc chiến tranh vĩ đại, mấy chục năm canh giữ một vùng sa mạc Tartar hoang vắng. Khi quân Tartar tấn công thật, Drogo ngã bệnh và bị sa thải. Trên đường về nhà, Drogo chết trong cô độc tại một nhà trọ.
“Tình yêu của ta, Sophia của ta,” ta thầm thì như lãnh tụ duy nhất của Okhrana có thể thầm thì. “Ta đã luôn chờ đợi em; tới đây, cùng ta náu mình trong bóng tối mà chờ đợi.” Và em bật ra một tiếng cười khàn đặc, nịnh bợ, nếm trước một ít gia tài, của ăn cướp, một bản thảo của Nghị định thư để bán cho Sa hoàng... Em che giấu ranh mãnh làm sao bên dưới bộ mặt thiên thần đó cái bản chất quỷ dữ của em, em che đậy co thể mình mới thùy mị làm sao trong cái quần bò xanh bán nam bán nữ và chiếc áo kia, trong mờ, vẫn còn giấu bông huệ ô nhục mà tên đao phủ thành Lille đã đóng bằng sắt nung lên da thịt trắng nõn của em!
Thằng ngốc đầu tiên tới, bị tôi kéo vào cái bẫy này. Tôi chỉ lờ mờ thấy dáng người hắn trong cái áo choàng, nhưng hắn phô cho tôi thấy dấu hiệu của hiệp sĩ dòng Đền ở Provins. Đó là Soapes, sát thủ của nhóm Tomar.
“Bá tước ạ,” gã nói với tôi, “thời khắc đã tới. Chúng ta đã lang thang trong quá nhiều năm, phân tán khắp thế giới. Anh có mẩu cuối cùng của thông điệp. Tôi có mẩu xuất hiện ở lúc khỏi thủy của Trò chơi Lớn. Nhưng đây là chuyện khác. Chúng ta hãy hợp sức với nhau, và những kẻ khác...”
Tôi nói nốt câu của gã: “Và những kẻ khác có thể xuống địa ngục. Ở trung tâm của căn phòng, sư huynh, anh sẽ tìm thấy một cái rương; trong rương chứa thứ mà anh kiếm tìm hàng thế kỷ nay. Đừng sợ bóng tối, nó không đe dọa mà bảo vệ cho chúng ta.”
Tên ngốc bước tới vài bước, dò dẫm. Một tiếng bịch, tiếng tõm. Gã đã rơi qua cửa lật nhưng Luciano tóm lấy gã, lia dao, cổ họng mau chóng bị cắt, tiếng ùng ục của máu hòa lẫn vào tiếng cuộn xoáy của dòng rác rưởi dưới lòng đất.
Có tiếng gõ cửa. “Phải anh không, Disraeli?”
“Phải,” người lạ đáp, độc giả của tôi sẽ nhận ra đó là đại thủ lĩnh của nhóm người Anh, giờ đã leo lên tới đỉnh cao quyền lực nhưng vẫn chưa thỏa mãn. Gã nói: “Thưa ngài, phản đối cũng vô dụng thôi, bởi vì không thể nào giấu giếm được rằng một phần lớn châu Âu được bao phủ bởi một mạng lưới của những hội bí mật này, cũng giống như bề mặt trái đất giờ được bao phủ bởi những đường xe lửa...”
“Anh đã nói điều đó tại Hạ viện, vào ngày 14 tháng Bảy năm 1856. Không có gì thoát được mắt tôi đâu. Đi vào trọng điểm đi.”
Tên Do Thái phái Bacon lầm bầm một tiếng chửi thề. Gã tiếp tục: “Đông quá. Ba mươi sáu Người vô hình giờ là ba trăm sáu mươi. Nhân lên với hai: bảy trăm hai mươi. Trừ đi một trăm hai mươi năm mà cuối giai đoạn đó các cánh cửa được mở, vậy là ngài có sáu trăm, khác nào cuộc tập kích Balaclava.”
Gã đàn ông quỷ quái, khoa học bí ẩn của những con số chẳng còn gì bí ẩn với gã. “Vậy thì sao?”
“Chúng tôi có vàng, ngài có bản đồ. Chúng ta hãy liên hiệp lại. Cùng nhau chúng ta sẽ bất khả chiến bại.”
Với một cử chỉ thầy tu, tôi chỉ về phía chiếc rương ảo ảnh mà hắn, bị lòng tham che mờ mắt, nghĩ rằng mình thấy rõ trong bóng tối. Hắn bước tới, hắn ngã.
Tôi nghe thấy chóp lóe sát khí của lưỡi dao Luciano, và trong bóng tối tôi nhìn thấy tiếng nấc hấp hối ánh lên trong đồng tử câm lặng của gã người Anh. Công lý đã được thực thi.
Tôi đợi kẻ thứ ba, tên Thập tự Hoa hồng Pháp, Montfaucon de Villars, kẻ sẵn sàng tiết lộ những bí mật của giáo phái hắn.
“Tôi là bá tước de Gabalis,” hắn tự giới thiệu, thằng ngốc dối trá.
Tôi chỉ phải thì thầm vài từ, thế là hắn bị xô vào định mệnh của mình. Hắn rơi xuống và Luciano khát máu thực thi nhiệm vụ.
Em cười với ta trong bóng tối, và em bảo ta rằng em là của ta, rằng bí mật của em sẽ là bí mật của ta. Tự lừa dối bản thân em, phải, bức biếm họa hiểm độc của Shekhinah*. Phải, ta là Simon của em; nhưng đợi đã, em vẫn còn chưa biết phần hay nhất đâu. Một khi đã biết rồi, em sẽ thôi không còn biết nữa.
Sự hiện diện của Chúa.
Còn gì nữa? Lần lượt từng người, những kẻ khác tiến vào.
Padre Bresciani đã thông báo với tôi rằng đại diện của Quang chiếu hội Đức, Babette d’Interlaken, sẽ tới, chắt gái của Weishaupt, đại trinh nữ của Chủ nghĩa Cộng sản Helvetic, đứa con gái lớn lên giữa những lão già đồi trụy, bọn trộm cắp và lũ sát nhân. Chuyên gia trong việc trộm những bí mật sâu xa, trong việc mở các văn kiện nhà nước mà không cần phá dấu niêm phong, trong việc hạ độc theo lệnh của giáo phái.
Ả bước vào, thiện linh trẻ tuổi của tội ác, rúc trong bộ lông gấu Bắc Cực, suối tóc vàng tuôn chảy từ dưới chiếc mũ lông kỵ binh; ánh mắt ả ngạo mạn, châm biếm. Với trò lừa quen thuộc, tôi lái ả thẳng tới con đường diệt vong.
A, sự mỉa mai của ngôn ngữ - món quà mà tự nhiên đã trao cho ta để giữ cho yên những bí mật của linh hồn ta! Con gái của Khai sáng biến thành nạn nhân của Bóng tối. Tôi nghe thấy ả phun ra những lời nguyền khủng khiếp, không chút hối cải, khi Luciano xoáy con dao ba lần vào tim ả. Déjà vu....
Đến lượt Nilus, kẻ trong một thoáng muốn chiếm hữu cả hoàng hậu lẫn tấm bản đồ. Lão thầy tu dâm ô dơ dáy, mi muốn Tên Chống Chúa sao? Hắn đứng trước mi nhưng mi không biết hắn. Tôi tống tiễn lão, mù lòa, giữa một ngàn lời tâng bốc bí hiểm, tới cái bẫy ma quỷ đang chờ đợi lão. Luciano xé toang lồng ngực lão với một vết thương có hình cây thánh giá, thế là lão chìm nghỉm xuống giấc ngủ vĩnh hằng.
Tôi phải vượt qua sự ngờ vực do tổ tiên truyền lại đối với kẻ cuối cùng, Trưởng lão Zion, kẻ tự nhận là Ahasuerus, người Do Thái Lang thang, cũng bất tử như tôi. Lão đầy ngờ vực trong khi mỉm cười ngọt xớt, chòm râu vẫn còn nhúng trong máu những sinh linh Cơ đốc giáo hiền lành mà lão quen tay chém giết trong nghĩa địa Praha. Nhưng tôi sẽ thông minh như một Rachkovsky, thông minh hơn. Tôi ngụ ý rằng cái rương không chỉ chứa tấm bản đồ mà còn cả những viên kim cương thô. Tôi biết sức thôi miên của kim cương thô với giống người giết Chúa này. Lão tiến tới định mệnh của mình, bị lòng tham lôi kéo, và chính vị Chúa của lão, tàn nhẫn và đầy căm thù, là kẻ bị lão nguyền rủa khi chết, bị đâm như Hiram, nhưng kể cả lúc này lão cũng nguyền rủa thật khó khăn, bởi vì tên vị Chúa của lão không ai có thể thốt ra được.
Trong ảo tưởng dối lừa, tôi nghĩ rằng mình đã kết thúc Đại Công trình.
Như có luồng gió thổi, một lần nữa cửa bật mở, và một hình bóng xuất hiện, một gương mặt tái mét, những ngón tay tê cứng giữ riệt lấy ngực, cái nhìn trân trối từ dưới mũ trùm: hắn không thể nào che giấu danh tính, bởi vì hắn mặc chiếc áo đen quen thuộc của Hội đen của hắn.
“Loyola!” tôi mắc lỡm mà kêu lên.
Hắn đưa tay làm một cử chỉ ban phúc giả trá. “Ta không là người ta là,” hắn nói với nụ cười không hề có dáng dấp của con người.
Đó là sự thật: đây luôn là phương pháp của dòng Tên. Đôi khi chúng phủ nhận sự tồn tại của chính bản thân mình, và đôi khi chúng tuyên bố quyền lực của dòng để đe dọa người chưa được thụ giáo.
“Chúng ta luôn khác với những gì các người nghĩ, những đứa con của Belial*,” giờ kẻ dụ dỗ vua chúa nói. “Nhưng anh, ồ Saint-Germain....”
Belial là từ xuất hiện trong Kinh Do Thái, sau này được nhân hình hóa như Quỷ dữ trong các văn bản Do Thái và Công giáo.
“Sao anh biết tôi thực là ai?” tôi hỏi, trong lòng cảnh giác.
Hắn nhếch mép. “Chúng ta đã gặp nhau trong những thời đại khác, khi anh cố kéo tôi xa khỏi giường lâm chung của Postel, khi dưới cái tên tu viện trưởng Herblay tôi đã dẫn lối cho anh kết thúc một trong những kiếp sống của anh trong lòng ngục Bastille. (Ô, tôi vẫn còn cảm thấy trên mặt mình tấm mặt nạ sắt mà cái Hội kia, với sự giúp đỡ của Colbert, đã kết án tôi!) Chúng ta gặp nhau khi tôi do thám những cuộc trò chuyện bí mật của anh với d’Holbach và Condorcet...”
“Rodin!” tôi kêu lên, kinh ngạc sững sờ.
“Phải, Rodin, thử lĩnh bí ẩn của dòng Tên! Rodin, người mà anh sẽ không thể lừa cho rơi xuống cửa lật như anh đã làm với những kẻ khác. Hãy biết điều này, ồ Saint-Germain: không có tội ác nào, không có mưu đồ đen tối nào mà chúng tôi không phát minh ra trước anh để đạt tới vinh quang vĩ đại hơn cho đức Chúa của chúng tôi, người biện minh cho phương tiện! Chúng tôi đã khiến bao cái đầu đội vương miện rơi vào lòng đêm không bao giờ sáng hay rơi vào những cạm bẫy tinh vi hơn, tất cả để đạt tới quyền thống trị toàn thế giới! Và giờ, khi chúng ta đã nhìn thấy mục tiêu trước mắt, anh sẽ ngăn cản chúng tôi đặt bàn tay tham tàn của mình lên cái bí mật mà suốt năm thế kỷ qua đã làm dịch chuyển lịch sử thế giới sao?”
Khi nói chuyện theo kiểu này, Rodin trở nên đáng sợ. Tất cả tham vọng khát máu, tất cả những báng bổ đê tiện đã âm ỉ cháy trong lồng ngực những Giáo hoàng Phục hưng giờ hiển hiện trên trán gã con trai của Loyola này. Tôi thấy rõ ràng: một nỗi thèm khát quyền lực vô độ làm khuấy đảo dòng máu lai tạp của hắn, mồ hôi cháy bỏng ướt đầm hắn, một màn hơi nước tởm lợm tỏa ra quanh hắn.
Làm cách nào để hạ kẻ thù cuối cùng này? Một trực giác bất ngờ tới giúp tôi... một trực giác chỉ có thể đến với một người mà với người ấy linh hồn con người, qua hàng thế kỷ, không còn nơi bí ẩn bất khả xâm phạm nào.
“Hãy nhìn tôi đây,” tôi nói. “Tôi cũng là Hổ đây.”
Chỉ bằng một động tác tôi đẩy em vào chính giữa phòng, tôi xé bỏ áo của em, tôi giật đứt thắt lưng tấm áo giáp bó sát che khuất nét hấp dẫn của cái bụng màu hổ phách của em. Lúc này đây, trong ánh trăng nhợt nhạt rỉ vào qua cánh cửa khép hờ, em đứng thẳng, mỹ lệ hơn con rắn đã quyến rũ Adam, kiêu kỳ và dâm đãng, nàng trinh nữ và ả điếm, chỉ còn được bao bọc bởi quyền năng nhục dục của em, bởi một người đàn bà trần truồng là một người đàn bà vũ trang đầy đủ.
Mũ miện Ai Cập phủ lên mớ tóc dày của em, đen đến nỗi cơ hồ tỏa ánh lam; ngực em phập phồng dưới lớp vải muxơlin trong mờ. Con rắn vàng, cong cong và bướng bỉnh, với đôi mắt ngọc lục bảo, thò ra thụt vào trên đầu em chiếc lưỡi hồng ngọc chẻ ba của nó. Và ôi, chiếc áo thụng bằng sa đen của em với những tia sáng bạc, thắt lưng em thêu những cầu vồng hiểm ác, điểm ngọc trai đen! Khoảng mu vồng căng được cạo sạch để cho trong mắt những tình nhân em láng mượt như một pho tượng! Núm vú em đã được đầu bút lông của cô nô lệ người Malabar phết nhẹ lên, đầu bút ấy cô ta đã nhúng vào cùng thứ son đã nhưốm màu máu lên đôi môi em, mời gọi như một vết thương!
Rodin đang thở hổn hển. Những nén nhịn kéo dài của cả một đời dành trọn cho giấc mơ quyền lực chỉ khiến hắn càng dễ dàng rơi vào vòng nô lệ cho dục vọng không cách nào kiềm chế. Đối diện vị nữ hoàng này, diễm lệ và không chút thẹn thùng, đôi mắt nàng hun hút đen như mắt quỷ, đôi bờ vai tròn trịa, mái tóc đẫm hương, da trắng mịn màng, Rodin bị xâm chiếm bởi kỳ vọng về những vuốt ve chưa từng biết tới, về khoái lạc không thể thốt thành lời; thân xác hắn khát cầu như một thần cây khát cầu khi dán mắt vào nàng nữ thủy thần trần truồng soi mình trong dòng nước đã gây nên cái chết của Narcissus. Ngược chiều ánh sáng ta thấy hắn cứng đờ, như một kẻ bị Medusa biến thành đá, được tạc bởi khát vọng của một khí dương tráng kiện bị kìm nén giờ đang ở buổi xế chiều. Lửa dục vọng bùng khắp cơ thể hắn; hắn giống như mũi tên đã nhắm vào đích, như cây cung bị dồn tới điểm đứt tưng.
Đột nhiên hắn ngã vật xuống sàn và bò lết trước hiện thể phi thực này, bàn tay hắn mở ra như móng vuốt để khẩn nài một ngụm dầu thơm.
“Ôi nàng đẹp sao,” hắn rên rỉ, “kìa những chiếc răng hồ ly nhỏ xinh tỏa sáng khi nàng hé mở đôi môi đỏ căng mọng... đôi mắt màu ngọc lục bảo của nàng lóe sáng, rồi mờ đi... Ôi quỷ vương của dục vọng!”
Hắn không hẳn là sai, tên thối tha ấy, khi giờ đây em đang đưa đẩy cặp mông bọc trong chiếc quần bò xanh, và dấn vùng bụng dưới về phía trước để lái cái máy pinball này tới sự ngu dại tột đỉnh của nó.
“Ảnh tượng ơi,” Rodin nói, “hãy thuộc về ta; dù trong một chớp đăng quang cùng lạc thú cho cả một đời dâng hiến cho sự nghiệp phụng vụ gian khó một vị thần linh ghen tuông, một cái ôm dâm tà để làm dịu bớt sự vĩnh hằng của ngọn lửa mà dáng hình nàng đã ném ta vào. Ta khẩn nài nàng, hãy lướt đôi môi của nàng trên mặt ta, Antinea nàng ơi, Mary Magdalene nàng ơi, nàng mà ta đã khát khao trong sự hiện diện của những vị thánh ngây ngất trong cơn xuất thần, người mà ta đã thèm thuồng trong suốt bao năm phụng thờ giả tạo sự khiết bạch. Ôi nàng, mỹ lệ như mặt trời, trắng ngần như vầng trăng; ô ta chối bỏ cả Chúa trời lẫn chư thần thánh, và cả đức Giáo hoàng La Mã kia nữa - không, còn hơn thế, ta phủ nhận Loyola và lời thề tội ác đã trói ta vào Hội của ta. Một nụ hôn, một nụ hôn thôi, rồi ta an lòng nhắm mắt!”
Hắn bò trên đôi đầu gối đã không còn cảm giác, áo thầy tu trật lên để lộ hai bên hông dưới, bàn tay hắn vươn về phía cái hạnh phúc không thể với tới. Đột nhiên hắn ngã ra sau, đôi mắt lồi ra, nét mặt co giật giống như những cú sốc phi tự nhiên do pin Volta tạo ra trên mặt một xác chết. Một chất bọt xanh xanh nhưộm tím môi hắn; từ miệng hắn ra phát ra tiếng rít như bị bóp nghẹt lại, giống như tiếng của một kẻ lên cơn dại, bởi vì khi nó đạt tới pha kích phát, như Charcot đã mô tả đúng căn bệnh khủng khiếp này là chứng cuồng dâm, đòn trừng phạt của dục vọng, nó gây ra những triệu chứng giống như bệnh dại.
Đó là kết cục. Rodin bật tiếng cười điên dại, rồi đổ gục xuống sàn, không còn sinh khí, hình ảnh sống động cho sự cứng đờ của một tử thi.
Trong thoáng chốc, gã hóa điên và chết trong tội lỗi trần tục.
Tôi đẩy cái xác tới cửa lật, cẩn thận không để đôi giày da sơn của mình bị cái áo thầy tu nhờn mỡ của kẻ thù cuối cùng làm dính bẩn.
Không cần đến con dao của Luciano, nhưng tên sát thủ kia không còn kiểm soát được hành động, nỗi thôi thúc đầy thú tính phải giết nữa, giết mãi của hắn. Cười sằng sặc, hắn đâm chém một xác chết đã không còn sự sống.
Giờ ta đi cùng em tới bên bờ cửa lật, ta vuốt cổ họng em khi em cúi xuống thuởng lãm cảnh đó, ta nói với em, “Em có hài lòng với Rocambole của em không, hỡi tình yêu vô vọng của ta?”
Và khi em dâm đãng gật đầu nhếch mép cười, nước dãi nhỏ xuống khoảng không kia, ta chậm rãi siết chặt những ngón tay.
“Anh làm gì vậy, tình yêu của em?”
“Không gì cả, Sophia. Ta chỉ đang giết em. Giờ ta là Giuseppe Balsamo và ta không còn cần em nữa.”
Cô điếm của các Archon chết đi, rơi vào dòng nước. Với một cú thọc dao, Luciano lặp lại phán quyết của bàn tay nhẫn tâm của tôi, và tôi nói với hắn: “Giờ mi có thể trèo lên đây, kẻ tín cẩn của ta, linh hồn đen tối của ta.” Khi hắn trèo lên, lưng quay lại tôi, tôi cắm vào giữa hai bả vai hắn một con dao găm nhỏ có lưỡi hình tam giác hầu không để lại dấu tích gì. Gã ngã xuống, tôi đóng cửa lật: việc đã hoàn tất. Tôi bỏ lại căn phòng bẩn thỉu kia trong khi tám thi thể trôi về phía Chatelet theo những đường ống mà chỉ mình tôi biết.
Tôi quay lại căn hộ nhỏ của mình ở Faubourg Saint-Honoré, tôi nhìn mình trong gương. Rồi tôi nói với mình, ta là Vua Thế giới. Từ tòa tháp rỗng của ta, ta thống trị vũ trụ. Quyền năng khiến đầu óc tôi quay cuồng. Tôi là một chủ nhân của năng lượng. Tôi say quyền lực chỉ huy.
Chao ôi, sự báo thù của cuộc đời không bao giờ đến chậm. Mấy tháng sau, trong hầm mộ sâu nhất của lâu đài Tomar, tôi - giờ là bậc thầy của bí mật về các dòng ngầm dưới đất và chúa tể sáu thánh địa của những người đã từng là Ba mươi sáu Người vô hình, người cuối cùng của những hiệp sĩ dòng Đền cuối cùng và Bề trên Ẩn danh của tất cả các Bề trên Ẩn danh - đáng lẽ phải giành được tình yêu của Cecilia, ái nam ái nữ có đôi mắt băng giá mà giờ đây chẳng gì có thể chia tách khỏi tôi. Tôi lại tìm thấy nàng, sau hàng thế kỷ kể từ khi nàng bị tay chơi saxophone cuỗm mất khỏi tôi. Nàng đi trên lưng một cái ghế đá như đi thăng bằng trên dây, đôi mắt xanh mái tóc vàng; tôi cũng không biết nàng mặc gì dưới bộ váy tuyn trong mờ đang điểm tô cho nàng.
Nhà nguyện được đục trong đá; phía trên bàn thờ là một bức tranh vẽ các hình phạt những kẻ tội lỗi dưới các tầng địa ngục. Một vài tu sĩ trùm kín đầu u ám đứng bên tôi nhưng không khiến tôi phân tâm, tôi đang tưởng tượng bị Iberia cuốn đi...
Rồi - ôi kinh hoàng thay - bức họa được kéo lên, và phía sau nó là công trình đáng ngưỡng mộ của một họa sư Arcimboldo nào đó về hang động, một nhà nguyện khác hiện ra, giống y đúc nhà nguyện này. Ở đó trước ban thờ Cecilia đang quỳ, và bên nàng - mồ hôi lạnh rỏ trên trán tôi, tóc tôi dựng đứng - tôi thấy ai kia, đang giễu cợt phô bày vết sẹo của hắn? Kẻ kia, Giuseppe Balsamo đích thực. Kẻ nào đó đã giải thoát hắn khỏi nhà ngục ở San Leo!
Thế còn tôi? Đúng lúc này tu sĩ già nhất trong bọn vén mũ trùm lên và tôi nhận ra nụ cười gớm ghiếc của Luciano, kẻ mà Chúa biết bằng cách nào đã thoát khỏi con dao găm của tôi, những cống rãnh, bùn lầy máu me đáng lẽ đã kéo xác gã vào đáy sâu câm lặng của đại dương. Gã đã đứng về phe các địch nhân của tôi với khát khao báo thù chính đáng.
Các tu sĩ trút bỏ áo thầy tu; tất thảy vũ trang từ đầu đến chân, một cây thập tự rực cháy trên áo thụng màu tuyết trắng. Những hiệp sĩ dòng Đền Provins!
Họ túm lấy tôi, xoay tôi lại, cho tôi hướng về phía một đao phủ đang đứng giữa hai trợ tá biến dạng. Tôi bị họ dúi người xuống, và với một dấu sắt nung tôi bị biến thành con mồi vĩnh cửu của quản ngục khi nụ cười độc ác của Baphomet vĩnh viễn khắc trên vai tôi. Giờ tôi đã hiểu: tôi sẽ phải thay thế Balsamo ở San Leo - hay đúng hơn, nhận lại cái vị trí đã được chỉ định cho tôi vĩnh viễn.
Nhưng họ sẽ nhận ra mình, tôi tự nhủ, và ai đó chăc chăn sẽ tới giúp mình - ít nhất là những kẻ tòng phạm của tôi - không thể thay một người tù mà không bị ai phát hiện, đây đâu còn là thời của Mặt Nạ sắt... Thằng ngốc! Trong một khắc, tôi chợt hiểu, khi đao phủ ấn đầu tôi xuống một cái bồn đồng đang bốc khói xanh: axít!
Một miếng vải được phủ lên mắt tôi, mặt tôi bị ấn vào chất lỏng tham lam ngốn ngấu, một cơn đau khôn thấu, da thịt trên má tôi rúm lại, mũi tôi, miệng, cằm, chỉ cần giây lát là đủ, và khi người ta nắm tóc kéo tôi lên, mặt tôi không còn có thể nhận ra - liệt cứng, mưng mủ, không còn gì chung với một khuôn mặt nữa, một bài tụng ca sự gớm guốc. Tôi sẽ trở về ngục tối giống như những tên vượt ngục để tránh bị bắt lại đã lấy hết dũng khí tự hủy dung.
Ôi, tôi khóc lớn, bị đánh bại, và như người kể chuyện thuật lại, một từ thoát ra khỏi đôi môi không ra hình thù của tôi, một tiếng thở dài, một lời cầu khẩn: Cứu rỗi!
Nhưng Cứu rỗi khỏi cái gì, Rocambole thân mến? Mi biết tốt nhất là đừng cố trở thành một vai chính mà! Mi đã bị trừng phạt, mà lại bằng chính mưu kế của mi. Mi cười nhạo những kẻ sáng tạo ra ảo ảnh, và giờ - như mi thấy - mi viết lách dựa trên cái cớ của một cỗ máy, tự bảo mình rằng mi là một khán giả, bởi vì mi tự đọc bản thân mình trên màn hình tuồng như những từ ngữ đó thuộc về một người khác, nhưng mi đã rơi vào bẫy: mi, cũng như bao kẻ khác, đang cố để lại dấu chân trên lớp cát thời gian. Mi đã dám thay câu đổi chữ trên pho tiểu thuyết thế giới, nhưng pho tiểu thuyết thế giới lại kéo mi vào lõi của nó, lôi mi vào âm mưu của nó, một âm mưu không phải mi tạo ra.
Đáng lẽ đời mi đã khá hơn nếu mi cứ nán lại trên những hòn đảo của mi, hỡi Jim Bốn Bể, và cứ để nàng nghĩ rằng mi đã chết.