Thuyết âm mưu của xã hội... bắt nguồn từ việc rời bỏ Chúa Trời rồi hỏi: “Ai sẽ ngồi vào chỗ Ngài ấy?”
− Karl Popper, Conjectures and Refutations,
London, Routledge, 1969, iv, tr. 123
Chuyến bay rất tốt cho tôi. Tôi không chỉ bỏ Paris lại sau lưng, tôi bỏ luôn thế giới dưới lòng đất, bản thân mặt đất, lớp vỏ trái đất. Bầu trời và những rặng núi vẫn phủ trắng tuyết. Đơn độc ở độ cao mười nghìn mét, và cảm giác say luôn được tạo ra khi ta bay, áp suất, sự di chuyển qua những nhiễu loạn nhỏ của không khí. Chỉ ở đây, tôi nghĩ, cuối cùng tôi mới được đặt chân lên mặt đất vững chắc. Đã đến lúc rút ra kết luận, liệt kê ra các điểm trong cuốn sổ của mình, và rồi nhắm mắt lại suy nghĩ.
Tôi quyết định liệt kê ra, trước hết, những dữ kiện không thể chối cãi được.
Không nghi ngờ gì rằng Diotallevi đã chết. Gudrun đã bảo tôi như vậy. Gudrun chưa từng tham gia vào câu chuyện của chúng tôi - chị ta sẽ không hiểu được nó - nên chị ta là người duy nhất còn lại nói sự thật. Garamond cũng không ở Milan. Ông ta có thể ở bất kỳ đâu, tất nhiên, nhưng thực tế rằng ông ta không ở đó và đã không ở đó mấy ngày qua gợi ý rằng ông ta quả thực ở Paris, nơi tôi thấy ông ta.
Tương tự, Belbo không ở đó.
Giờ, chúng ta hãy giả định rằng điều tôi thấy vào đêm thứ Bảy ở Saint-Martin-des-Champs thực sự đã xảy ra. Có lẽ không phải theo cách tôi thấy, tôi bị nhạc và hương làm mụ mị; nhưng điều gì đó đã xảy ra. Nó giống như cái lần với Amparo. Sau đó, nàng không tin rằng nàng bị một Pomba Gira nhập, nhưng nàng biết rằng trong tenda de umbanda có thứ gì đó đã nhập vào nàng.
Cuối cùng, điều Lia nói với tôi trên núi là đúng. Sự diễn giải của nàng hoàn toàn thuyết phục: thông điệp Provins là một danh sách vớ vẩn. Chưa từng có những cuộc gặp gỡ của các hiệp sĩ dòng Đền ở Grange-aux-Dimes. Không có Kế hoạch nào hết và không có thông điệp nào hết.
Cái danh sách vớ vẩn ấy, với chúng tôi, là một trò chơi đố chữ với những ô trống và không có dẫn giải. Những ô chữ phải được điền sao cho tất cả đều khớp. Nhưng có lẽ cái ẩn dụ này không chính xác. Trong một trò ô chữ, những từ, giao nhau, phải có chữ cái chung. Trong trò chơi của chúng tôi, chúng tôi không dùng những từ mà dùng những khái niệm, sự kiện, vậy nên luật chơi khác. Về cơ bản, có ba nguyên tắc.
Nguyên tắc thứ Nhất: Những khái niệm được kết nối bởi sự tương đồng. Không có cách nào xác định ngay một tương đồng là tốt hay tồi, bởi vì đến một mức độ nào đó mọi thứ đều kết nối với mọi thứ khác. Ví dụ, khoai tây giao với táo, bởi vì cả hai đều là thực vật ăn được và có hình tròn. Từ táo tới rắn, bởi liên kết về Kinh Thánh. Từ rắn tới bánh vòng, bởi tương tự về hình dáng. Từ bánh vòng tới phao cứu sinh và từ phao cứu sinh tới đồ bơi và từ bơi tới biển, biển tới tàu, tàu tới phân, phân tới giấy cuộn toa-lét, toa-lét tới nước hoa, nước hoa tới cồn, cồn tới ma túy, ma túy tới xi lanh, xi lanh tới lỗ, lỗ tới mặt đất, mặt đất tới khoai tây.
Nguyên tắc thứ Hai chỉ ra rằng nếu rốt cuộc tout se tient*, liên kết này có giá trị. Từ khoai tây tới khoai tây, tout se tient. Vậy nên nó đúng.
Tiếng Pháp: mọi thứ khớp với nhau.
Nguyên tắc thứ Ba: Các liên kết không được mới lạ. Chúng phải được lập ra từ trước đó, và càng được người khác nhắc tới nhiều càng tốt. Chỉ khi ấy thì ô chữ mới có vẻ thực, bởi vì chúng là hiển nhiên.
Điều này, xét cho cùng, là ý tưởng của Signor Garamond. Những cuốn sách của các Quỷ giả không được có điểm nào mới; chúng phải nhắc lại những điều người khác đã nói rồi. Nếu không thì còn gì là căn cứ xác đáng của Truyền thống nữa?
Và đây là điều chúng tôi làm. Chúng tôi không sáng tác ra thứ gì, chúng tôi chỉ sắp xếp lại các miếng ghép. Đại tá Ardenti cũng không sáng tác ra thứ gì, nhưng cách sắp xếp các mảnh ghép của ông ta rất lộn xộn. Thêm nữa, ông ta ít học hơn chúng tôi nhiều, cho nên ông ta có ít miếng ghép hơn.
Họ có tất cả các miếng ghép, nhưng Họ không biết cấu trúc của trò đố chữ. Chúng tôi - một lần nữa - thông minh hơn.
Tôi nhớ một điều Lia đã nói với tôi trên núi, khi nàng mắng tôi đã chơi một trò chơi ghê tởm chính là Kế hoạch của chúng tôi: “Người ta đói khát các kế hoạch. Nếu anh đưa cho họ một cái, họ sẽ lao vào nó như bầy sói. Anh sáng tác ra, và họ sẽ tin. Thật sai trái khi thêm mắm thêm muối vào những sáng tác đã có.”
Đây là điều luôn xảy ra. Một gã háo danh trẻ tuổi cứ ủ ê suy nghĩ bởi vì anh ta không biết làm cách nào để trở nên nổi tiếng. Rồi anh ta thấy một bộ phim trong đó một thanh niên ẻo lả bắn một ngôi sao nhạc đồng quê và trở thành tâm điểm chú ý. Gã háo danh kia đã tìm thấy công thức; hắn ra đường và bắn John Lennon.
Cũng tương tự với các TGTT. Làm sao tôi có thể trở thành nhà thơ được xuất bản có tên xuất hiện trong một cuốn bách khoa thư? Garamond giải thích: Rất đơn giản, anh hãy chi tiền. Các TGTT không bao giờ nghĩ về điều này trước đó, nhưng bởi vì kế hoạch Manutius đang sẵn, anh ta đồng nhất với nó, bị thuyết phục rằng anh ta đã đợi Manutius suốt cả đời mình; anh ta chỉ không biết là nó đang có đó.
Chúng tôi chế ra một Kế hoạch không tồn tại, và Họ không chỉ tin nó là thật mà còn thuyết phục bản thân rằng Họ là một phần của nó trong bao năm, hay đúng hơn, Họ đồng nhất những mảnh ghép của thứ huyền thoại lộn xộn của mình như là những thời khắc trong Kế hoạch của chúng tôi, những thời khắc hòa hợp trong một mạng lưới logic, không thể bác bỏ của tương đồng, bề ngoài, nghi ngờ.
Nhưng nếu anh nghĩ ra một kế hoạch và những người khác thực hiện nó thì có khác nào Kế hoạch tồn tại. Đến điểm đó nó có tồn tại.
Từ nay về sau, những đoàn Quỷ giả sẽ tràn khắp thế giới để kiếm tìm tấm bản đồ.
Chúng tôi đã chìa tấm bản đồ ra trước mặt những người đang cố gắng vượt qua một sự bối rối riêng tư, sâu sắc. Bối rối nào? File đầu tiên của Belbo gợi ý nó cho tôi: Không thể nào có thất bại nếu thực sự có một Kế hoạch. Anh có thể bị đánh bại, nhưng không bao giờ bởi lỗi lầm của chính anh. Cúi đầu trước vận mệnh mà vũ trụ áp lên anh thì không có gì đáng hổ thẹn. Anh không phải thằng hèn; anh là người tử vì đạo.
Anh không cần phàn nàn về nhân sinh hữu hạn, là con mồi của cả ngàn vi sinh vật mà anh không thể kiểm soát; anh không phải chịu trách nhiệm về cái thực tế rằng đôi chân anh không thể cầm nắm và anh không có đuôi, rằng tóc và răng anh không mọc lại sau khi rụng, và các động mạch của anh xơ cứng theo thời gian. Đó là bởi vì những Thiên thần Đố kỵ.
Với cuộc sống thường ngày cũng vậy. Lấy ví dụ những cuộc sụp đổ của thị trường chứng khoán. Chuyện xảy ra bởi vì mỗi người đều đi một bước sai lầm, và tất cả những sai lầm đó cùng nhau tạo nên cơn khủng hoảng. Rồi kẻ nào yếu thần kinh cũng đều tự hỏi bản thân: Ai đứng sau âm mưu này, kẻ nào đang trục lợi? Anh ta phải tìm thấy một kẻ thù, một kẻ chủ mưu, nếu không thì đó là, xin Chúa tha tội cho, là lỗi của ngài.
Nếu anh cảm thấy có tội, anh chế ra một âm mưu, nhiều âm mưu. Và để chống lại chúng, anh phải tổ chức âm mưu của chính anh. Nhưng anh càng chế ra âm mưu của kẻ thù, để giải tội cho sự thiếu hiểu biết của mình, thì anh càng mê đắm chúng, và anh vẽ vời âm mưu của chính anh dựa trên hình mẫu chúng. Đây là điều đã xảy ra khi dòng Tên và các nhóm Bacon, Phaolô và Tân dòng Đền mỗi nhóm phàn nàn về kế hoạch của nhóm kia. Nhận xét của Diotallevi là: “Tất nhiên, anh quy cho những người khác điều chính anh đang làm, và bởi vì điều chính anh đang làm là đáng ghét, những người khác cũng trở nên đáng ghét. Nhưng bởi vì những người khác, như một quy luật, sẽ thích làm điều đáng ghét tương tự mà anh đang làm, họ hợp tác với anh, ám chỉ rằng - phải - điều anh quy cho họ thực sự là điều mà họ luôn khao khát. Chúa bịt mắt những kẻ mà Người muốn hủy diệt; anh chỉ phải giúp Người một tay.”
Một âm mưu, nếu quả có một âm mưu, thì phải là một bí mật. Một bí mật mà, giá chúng ta biết nó, sẽ xua tan sự mất phương hướng của chúng ta, dẫn chúng ta tới cứu rỗi; hoặc bản thân việc biết nó thôi cũng đã là cứu rỗi. Liệu một bí mật soi sáng như vậy có tồn tại?
Có, giả dụ nó không bao giờ được tỏ tường. Một khi đã được tỏ tường, nó sẽ chỉ làm chúng ta thất vọng. Chẳng phải Agliè đã nói về cơn khát điều huyền bí đã khuấy động các triều đại Antoninus hay sao? Ấy thế nhưng ai đó đã tới mà tuyên bố mình là Con trai của Thiên Chúa, Con trai của Thiên Chúa giáng trần bằng xương bằng thịt, để cứu rỗi những tội lỗi của thế giới. Đó có phải là một điều huyền bí không gì đặc sắc? Và người đó hứa cứu rỗi linh hồn cho tất cả mọi người: anh chỉ phải yêu người bên cạnh mình là đủ. Đó có phải là một bí mật tầm thường? Và người đó truyền lại ý niệm rằng bất cứ ai thốt ra lời đúng đắn vào thời điểm thích hợp đều có thể biến một khúc bánh mì và nửa cốc rượu thành thân và máu của Con trai của Chúa, và được nuôi sống bởi nó. Đó có phải là câu đố nhỏ nhoi? Và rồi người đó dẫn dắt các giáo phụ trầm tư suy ngẫm và tuyên bố rằng Thiên Chúa là Duy nhất và Ba ngôi và rằng Chúa Thánh Thần nhiệm xuất từ Chúa Cha và Chúa Con, nhưng rằng Chúa Con không nhiệm xuất từ Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Đó có phải là một công thức dễ dàng cho những kẻ duy vật? Ấy thế nhưng họ, những người giờ đã có cứu rỗi trong tầm với - cái cứu rỗi tự lực - ngoảnh mặt làm ngơ. Chỉ có thế thôi sao? Thật sáo mòn. Và họ tiếp tục dong thuyền kiếm tìm trên Địa Trung Hải, săn lùng một tri thức đã mất, so với nó thì những giáo lý ba mươi đồng bạc denarius kia chẳng là gì ngoài một tấm màn che bên ngoài, câu chuyện ngụ ngôn cho tâm hồn nghèo nàn, thứ chữ tượng hình để ám chỉ điều khác, cái nháy mắt với những gì mang tính tâm linh. Bí ẩn của Ba ngôi ư? Quá đơn giản: phải có nhiều hơn thế chứ.
Ai đó - có lẽ là Rubinstein - từng nói, khi được hỏi liệu ông có tin vào Chúa: “Ôi không, tôi tin... vào điều gì đó lớn lao hơn.” Và ai đó nữa - có phải Chesterton? - nói rằng khi người ta không còn tin vào Chúa, chẳng phải là khi ấy người ta không tin vào gì nữa: họ tin vào mọi thứ.
Nhưng mọi thứ không phải là một bí mật lớn lao hơn. Không có “bí mật lớn lao hơn”, bởi vì ngay khoảnh khắc một bí mật được khám phá, nó dường như đều nhỏ mọn. Chỉ có một bí mật trống rỗng. Một bí mật cứ trượt qua những ngón tay anh. Bí mật của phong lan là ở chỗ nó biểu thị và ảnh hưởng tới tinh hoàn. Nhưng tinh hoàn biểu thị một dấu hiệu của cung hoàng đạo, thứ này đến lượt nó biểu thị một hệ thống phẩm trật thiên thần, thứ này đến lượt nó biểu thị một thang âm nhạc, và thang âm nhạc biểu thị một mối quan hệ giữa những trạng thái tinh thần. Và vân vân. Thụ giáo là học hỏi không ngừng không nghỉ. Vũ trụ được lột vỏ như một củ hành, và một củ hành chỉ toàn vỏ. Chúng ta hãy tưởng tượng một củ hành vô hạn, trung tâm của nó nằm ở mọi nơi mọi chốn và chu vi của nó không ở đâu cả. Hành vi thụ giáo đi trên một dải Möbius* bất tận.
Mặt Möbius hay dải Möbius (Möbius bandMöbius strip), về toán học là một khái niệm topo cơ bản về một dải chỉ có một phía và một biên. Lúc đầu chỉ như một trò chơi vì xuất xứ từ một dải băng giấy (do Möbius công bố) được dán dính hai đầu sau khi lật ngược một đầu một hoặc hai lần. Về sau các nhà toán học nâng lên thành lý thuyết, lập công thức tính toán. Không chỉ vậy, lý thuyết về dải Möbius còn được ứng dụng vào thực tế trong các lĩnh vực như: kiến trúc, xây dựng... Ngạc nhiên hơn, dải Möbius còn được ứng dụng vào nghệ thuật, bao gồm: Âm nhạc (Bach), hội họa (MC. Escher), điêu khắc, kim hoàn, thủ công, vv.
Người thụ giáo thực sự là người biết rằng bí mật có sức mạnh lớn lao nhất là một bí mật không có nội dung, bởi vì không kẻ thù nào có thể khiến anh ta khai ra nó, không địch thủ sùng đạo nào có thể tước nó khỏi anh ta.
Giờ tôi thấy động lực của cái nghi lễ đêm diễn ra trước Con lắc kia có tính logic và nhân quả hơn. Belbo đã tuyên bố sở hữu một bí mật, và bởi điều này mà anh ta giành được quyền lực lớn hơn Họ. Cơn bốc đồng ban đầu của họ, thậm chí ở một người thông tuệ như Agliè, người đã lập tức khua chiêng gõ mõ triệu tập tất cả những người khác, là để giành giật nó khỏi anh ta. Và Belbo càng từ chối tiết lộ, bí mật ấy càng lớn lao trong mắt Họ; anh ta càng thề mình không sở hữu nó, Họ càng tin chắc rằng anh ta có sở hữu nó, rằng nó là một bí mật thực sự, bởi vì nếu nó giả dối, anh ta hẳn đã nói toạc nó ra rồi.
Qua hàng thế kỷ, cuộc kiếm tìm bí mật này đã là chất hồ gắn chặt tất cả Họ lại với nhau, mặc cho những vạ tuyệt thông, những cuộc chiến huynh đệ tương tàn, những cuộc tấn công chớp nhoáng. Giờ Họ đang sắp sửa tỏ tường được nó. Nhưng Họ bị hai nỗi sợ tấn công: rằng bí mật đó sẽ là một sự thất vọng, và rằng một khi ai cũng biết nó, sẽ chẳng còn bí mật nào cả. Đó sẽ là điểm kết của Họ.
Chừng đó Agliè nghĩ: Nếu Belbo nói ra, tất cả đều sẽ biết, và ông ta, Agliè, sẽ mất cái thần thái bí ẩn đã đem lại cho ông ta sự hấp dẫn và quyền lực. Nhưng nếu Belbo trao gửi cho mình ông ta, Agliè có thể tiếp tục là Saint-Germain, người bất tử. Sự trì hoãn cái chết của Agliè trùng khớp với sự trì hoãn của bí mật. Ông ta cố thuyết phục Belbo thầm thì nó vào tai ông ta, và khi ông ta nhận ra rằng điều đó là không thể, ông ta kích anh ta bằng cách tiên đoán anh ta sẽ đầu hàng, và xa hơn, bằng việc dựng lên một màn kịch mê lô phô trương. Ôi, lão bá tước già biết rất rõ rằng với những người vùng Piemonte thì cảm nhận về sự lố bịch có thể thắng cả nỗi sợ chết. Bởi vậy ông ta buộc Belbo cao giọng nói lời từ chối và nói không vĩnh viễn.
Những người khác, cũng do nỗi sợ như vậy, thích giết anh ta hơn. Họ có thể đang mất tấm bản đồ - họ sẽ có hàng thế kỷ để tiếp tục tìm kiếm nó - nhưng họ đang bảo toàn sức sống của cái khát vọng rỏ dãi, hèn hạ của mình.
Tôi nhớ một chuyện mà Amparo từng kể với tôi. Trước khi tới Ý, nàng từng có vài tháng ở New York, sống trong một khu vực thuộc dạng ngay cả vào những ngày yên tĩnh anh cũng có thể quay một xê-ri truyền hình về đội quân giết người. Nàng từng về nhà một mình lúc hai giờ sáng. Khi tôi hỏi nàng có sợ bọn cuồng dâm không, nàng chỉ cho tôi cách của nàng. Khi một tên cuồng dâm tiến tới, đe dọa, nàng sẽ nắm lấy tay hắn mà nói, “Nào, chúng mình làm nào.” Thế là hắn sẽ bỏ đi, hoang mang.
Nếu anh là một kẻ cuồng dâm, anh không muốn sex; anh muốn khoái cảm của việc trộm cướp nó, anh muốn sự kháng cự và tuyệt vọng của nạn nhân. Nếu sex được người ta chìa ra cho anh trên đĩa, đây này, đến ăn đi, tự nhiên anh sẽ không hứng thú, nếu không thì anh là loại cuồng dâm nào chứ?
Chúng tôi đã đánh thức dục vọng của họ, chìa cho họ một bí mật không thể trống rỗng hơn, bởi vì không chỉ bản thân chúng tôi biết nó, mà, thậm chí còn hay hơn, chúng tôi biết nó là giả trá.
Máy bay đang bay qua núi Blanc, và tất cả hành khách lao sang cùng một bên cửa sổ để không bỏ lỡ mất cảnh tượng cái hạch bạch huyết kia mọc lên ở đó nhờ bệnh sán trong các dòng đất. Nếu điều tôi nghĩ là đúng thì sự có thật của các dòng đất ấy cũng không hơn gì sự có thật của thông điệp Provins. Nhưng câu chuyện về việc giải mã Kế hoạch, như chúng tôi đã tái hiện nó, đó là Lịch sử.
Ký ức của tôi quay về file cuối cùng của Belbo. Nhưng nếu sự tồn tại là quá trống rỗng và mong manh đến nỗi ta chỉ có thể chịu đựng được nó nhờ ảo tưởng rằng chúng ta đang tìm kiếm bí mật của nó, vậy thì - như Amparo nói tối hôm đó ở tenda, sau thất bại của nàng - không có cứu rỗi nào hết; tất cả chúng ta đều là nô lệ, hãy cho chúng tôi một chủ nhân, chúng tôi đáng bị thế...
Không, Lia đã dạy tôi không chỉ có vậy, và tôi có bằng chứng: tên nó là Giulio, và vào giờ phút này nó đang chơi trong một thung lũng, kéo đuôi một con dê. Không, bởi vì Belbo hai lần nói không.
Lần đầu tiên anh ta nói với Abulafia, và với những người đang cố tước đi bí mật của nó. Câu hỏi là: “Bạn có mật khẩu không?” Và lời đáp, chìa khóa tới tri thức, là “Không.” Không chỉ thần chú không tồn tại, mà chúng tôi còn không biết rằng nó không tồn tại. Những người chấp nhận sự không biết ấy, bởi vậy, có thể học hỏi thứ gì đó, ít nhất là điều tôi có khả năng học hỏi.
Tiếng không thứ Hai anh ta nói vào tối thứ Bảy, khi anh ta từ chối sự cứu giúp chìa ra trước mặt. Anh ta có thể bịa ra một bản đồ, hoặc dùng một trong những bản đồ mà tôi đã cho anh ta xem. Dù sao đi nữa, với Con lắc treo như thế, sai toét, đám người điên đó sẽ không bao giờ tìm ra chữ X chỉ ra Umbilicus Mundi, và dù họ có tìm ra, sẽ phải mất vài thập kỷ nữa họ mới nhận ra rằng đó không phải thật. Nhưng Belbo từ chối cúi đầu, anh ta thích chết hơn.
Đó không phải là từ chối cúi đầu trước khát vọng quyền lực; anh ta từ chối cúi đầu trước sự vô nghĩa. Bằng cách nào đó anh ta biết rằng, cho dẫu tồn tại của chúng ta mong manh đến đâu, cho dẫu sự thẩm xét của chúng ta về thế giới có hoài công cách mấy, vẫn có thứ gì đó có nhiều ý nghĩa hơn phần còn lại.
Belbo đã cảm thấy gì, có lẽ chỉ vào khoảnh khắc đó, thứ đã cho phép anh ta phủ nhận file cuối cùng, tuyệt vọng của mình, và không giao phó vận mệnh của mình cho một người chỉ đảm bảo cho anh ta không gì hơn một Kế hoạch? Cuối cùng anh ta đã hiểu điều gì mà nó cho phép anh ta hy sinh mạng sống của mình, như thể anh ta đã học hỏi mọi thứ có thể học mà không nhận ra, và như thể, so sánh với cái bí mật duy nhất, đích thực, tuyệt đối này của anh ta, mọi thứ diễn ra trong Viện bảo tồn kia đều ngu ngốc hết thuốc chữa - và giờ nếu cứ bướng bỉnh sống thì quả là ngu ngốc?
Vẫn còn gì đó, một mắt xích bị mất trong chuỗi. Tôi đã có trong tay mọi chiến công của Belbo trước mắt mình, từ cuộc đời tới cái chết, trừ một thứ.
Đến nơi, khi lục tìm hộ chiếu, tôi thấy trong túi mình chìa khóa nhà anh ta. Tôi đã mang nó từ Thứ năm tuần trước, cùng với chìa khóa căn hộ của Belbo. Tôi nhớ ngày hôm Belbo chỉ cho chúng tôi cái tủ nhỏ chứa đựng, anh ta nói, opera omnia* của anh ta, hay đúng hơn, những tác phẩm ta không thể tìm thấy trong abulafia, có lẽ nó bị chôn giấu đâu đó ở ***.
Tiếng Latin, chỉ tất cả các tác phẩm của một tác giả.
Phỏng đoán này của tôi chẳng có cơ sở lý tính nào. Càng có cơn cớ để tin vào nó. Ở thời điểm này.
Tôi lấy xe và tôi tới đây.
Tôi không tìm thấy người họ hàng già của nhà Canepa, người trông nom nhà cửa hay gì đó, gọi là gì cũng được. Có lẽ bà ấy đã qua đời. Không có ai hết. Tôi đi qua nhiều phòng. Mùi nấm mốc xộc lên. Tôi ngẫm nghĩ hay mình đốt cái lò sưởi giường ở một trong các phòng ngủ, nhưng làm ấm giường vào tháng Sáu thì chẳng có ý nghĩa gì. Một khi đã mở các cửa sổ ra, không khí ấm áp buổi tối sẽ tràn vào.
Sau hoàng hôn, không có trăng. Như ở Paris, tối thứ Bảy ấy. Trăng lên muộn, khuyết hơn tôi thấy ở Paris, khi nó chầm chậm bò lên trên những ngọn đồi thấp, trong một chỗ trũng giữa Bricco và một gò đất nhuốm sắc vàng khác, có lẽ đã được thu hoạch.
Tôi tới vào lúc sáu giờ tối. Khi ấy trời còn sáng. Nhưng tôi không mang theo gì để ăn. Đi loanh quanh trong nhà, tôi thấy một khúc salami trong bếp, treo dưới một thanh xà. Bữa tối của tôi là salami và nước lọc: diễn ra lúc mười giờ, chắc vậy. Giờ tôi khát. Tôi đã mang theo một bình nước lớn tới thư phòng của dượng Carlo và cứ mười phút uống một cốc. Rồi tôi đi xuống, đổ đầy nước vào bình, và lại bắt đầu chu kỳ ấy.
Hẳn ít nhất cũng ba giờ sáng rồi. Tôi đã tắt đèn và khó nhìn được đồng hồ. Tôi ngó ra ngoài cửa sổ. Trên các sườn đồi, thứ nom như đom đóm, sao băng: ánh đèn pha của những ô tô thi thoảng đi xuống thung lũng hay trèo lên những ngôi làng trên đỉnh đồi. Khi Belbo còn nhỏ, cảnh tượng này không tồn tại. Khi ấy không có ô tô, không đường xá. Buổi tối là giờ giới nghiêm.
Ngay khi tôi tới, tôi đã mở cái tủ nhỏ đựng tác phẩm thiếu thời kia. Hàng chồng hàng chồng giấy, từ những bài tập tiểu học tới hàng bó những thơ và văn xuôi thuở niên thiếu. Hồi niên thiếu ai cũng làm thơ; những nhà thơ thực thụ thì hủy chúng đi, những nhà thơ tồi cho in chúng. Belbo, quá hoài nghi không thể lưu giữ chúng, quá yếu đuối không thể ném chúng đi, thì nhét chúng vào trong tủ nhỏ của dượng Carlo.
Tôi đọc hàng giờ liền. Và trong hàng giờ, cho tới thời khắc này, tôi suy tưởng về bài cuối cùng mà tôi tìm thấy đúng lúc định bỏ cuộc.
Tôi không biết Belbo viết nó khi nào. Có những trang mà trong đó xen kẽ những chữ viết tay khác, những đoạn chèn thêm vào, hoặc cũng có thể đó là cùng một người nhưng viết vào những năm khác nhau. Như thể anh ta đã viết nó rất sớm, ở tuổi mười sáu hay mười bảy, rồi quẳng đi, rồi trở lại vào năm hai mươi, một lần nữa vào năm ba mươi, thậm chí muộn hơn. Cho tới khi anh ta từ bỏ hoàn toàn ý định viết lách - chỉ bắt đầu lại một lần nữa với Abulafia, nhưng không có lòng nào khôi phục những dòng này và đưa chúng vào file điện tử để rồi thêm nhục.
Đọc chúng, tôi theo một câu chuyện quen thuộc: những sự kiện ở *** trong khoảng từ năm 1943 đến 1945, dượng Carlo, quân kháng chiến, hội trường giáo xứ, Cecilia, cây kèn trômpet. Nhưng thứ này đồng thời là đề tài ám ảnh của Belbo lãng mạn, thất vọng, buồn khổ, say xỉn. Văn chương của ký ức: anh ta tự biết rằng đây là chốn nương náu cuối cùng của những tên du thử du thực.
Nhưng tôi không phải nhà phê bình văn học. Tôi lại là Sam Spade, tìm kiếm manh mối cuối cùng.
Và vậy là tôi tìm thấy Văn bản Mấu chốt. Nó hẳn phải đại diện cho chương cuối cùng của câu chuyện về Belbo ở ***. Bởi vì, sau nó, chẳng còn gì có thể xảy ra thêm nữa.