Đôi Mắt Biếc

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8

❊ ❊ ❊

“Allen-a-Dale chẳng phải nam tước cũng chẳng phải chúa đất.”

Khi Stephen tiến đến cửa chính của nhà xứ, những làn sương đêm đã bắt đầu trườn ra từ các vũng nước và đầm lầy để bắt đầu cuộc hành trình tịch mịch. Elfride đang đứng trên bậc thềm, được chiếu rọi bởi một khoảng trời tây nhuộm sắc vàng chanh.

— Anh không đời nào lại đi tìm chiếc khuyên tai ấy suốt ngần ấy thời gian chứ? — cô lo lắng hỏi.

— Ồ không; và anh cũng có tìm thấy đâu.

— Thôi kệ vậy. Dù em rất bực; đó là đôi đẹp nhất của em đấy chứ. Nhưng mà, Stephen, anh đã làm gì vậy—anh đã đi đâu thế? Em lo lắng quá chừng. Em cứ sợ cho anh, vì anh có biết chút gì về xứ này đâu. Em cứ nghĩ, nhỡ anh ngã xuống vách đá thì sao! Nhưng giờ thì em lại muốn mắng cho một trận vì tội làm em sợ chết khiếp lên thế này.

— Bây giờ anh phải nói chuyện với cha em, — anh nói có phần đột ngột; — anh có bao điều muốn nói với ông—và với cả em nữa, Elfride.

— Những điều anh định nói có làm nguy hại đến khoảng thời gian tuyệt đẹp này của chúng ta không, và đó có phải là bí mật mơ hồ mà anh vẫn hay nhắc tới, liệu nó có làm cho em bất hạnh không?

— Có thể chứ.

Cô thở hắt ra, ngó quanh quảng như đang tìm kiếm một người nhắc tuồng.

— Để đến mai hẵng hay, — cô nói.

Chàng trai cũng bất giác thở dài.

— Không; phải nói ngay tối nay. Cha em đâu rồi, Elfride?

— Chắc là ở đâu đó trong vườn rau thôi, — cô đáp. — Đó là góc nghỉ ngơi buổi chiều yêu thích của ông. Giờ em để anh lại nhé. Hãy nói hết những gì cần nói—làm hết những gì cần làm. Hãy nghĩ đến em đang thấp thỏm chờ đợi kết cục ở trong nhà đây. — Và cô quay trở vào trong.

Cô đợi ở phòng khách, dõi theo ánh sáng lụi dần thành những bóng râm, rồi bóng râm chìm vào bóng tối, cho đến khi sự sốt ruột muốn biết chuyện gì đã xảy ra ngoài vườn không thể kìm nén thêm được nữa. Cô rảo bước vòng qua bãi cây cảnh, đẩy then cửa vườn, và dùng đôi mắt tinh anh lướt qua toàn bộ không gian chập choạng được bốn bức tường bao bọc và che chở: họ không có ở đó. Cô trèo lên một chiếc thang nhỏ vẫn dùng để hái quả, ngó qua bức tường để nhìn sang cánh đồng. Cánh đồng này kéo dài đến tận ranh giới khu đất của nhà thờ, vốn được ngăn ở phía đó bằng một hàng rào cây râm bụt. Dưới rang rào là ông Swancourt, đang đi lại thẫn thờ và nói lẩm bẩm một mình—nghe thoạt qua thì có vẻ là vậy. Không: lại có một giọng khác cất lên đáp lời; và người đối thoại hình như đứng ở phía bên kia hàng rào. Giọng nói ấy tuy dịu dàng nhưng không phải của Stephen.

Người thứ hai hẳn phải đang ở trong khu vườn bỏ hoang lâu ngày của một ngôi nhà cổ ngay gần đó, nơi mà cùng với một khu đất nhỏ đi kèm, gần đây đã được mua lại bởi một người tên là Troyton, người mà Elfride chưa từng gặp mặt. Cha cô có lẽ đã bắt chuyện với một thành viên nào đó trong gia đình ấy qua hàng rào cây râm bụt, hoặc một người khách lạ nào đó đã lang thang đến vùng này.

Chà, chẳng có lý do gì để phải làm phiền ông cả.

Và có vẻ như, xét cho cùng, Stephen vẫn chưa thổ lộ điều hằng mong muốn với cha cô. Cô lại quay vào nhà, tự hỏi không biết Stephen đang ở đâu. Vì chẳng có việc gì hay hơn để làm, cô đi lên lầu vào căn phòng nhỏ của mình. Ở đây, cô ngồi xuống bên khung cửa sổ đang mở, tì khuỷu tay lên bàn và áp má vào lòng bàn tay, chìm đắm vào dòng suy tưởng.

Đó là một đêm tháng Tám oi ả và tĩnh lặng. Mọi xáo trộn sự tĩnh mịch đủ lớn để thành tiếng động đều có thể nghe thấy từ cách đó hàng dặm, và dù chỉ là một tiếng động nhỏ nhất cũng vọng đi rất xa. Cứ thế, cô ngồi đó, nghĩ về Stephen và thầm ước gì anh đã không vì cô mà từ bỏ khoảng thời gian bên cô một cách vô ích, như hiện tại có vẻ thế. Anh mới tinh tế và nhạy cảm làm sao, cô tự nhủ; thế mà anh cũng đủ nam tính để giữ một bí mật riêng tư, điều đó càng làm tôn lên hình ảnh của anh trong mắt cô. Cứ nhìn mọi thứ bằng con mắt nội tâm như thế, cô hoàn toàn quên mất thời gian đang trôi đi.

Những sự trùng hợp kỳ lạ của hoàn cảnh, đặc biệt là những chuyện vụn vặt thường ngày, xuất hiện thường xuyên đến mức trong một cuộc đời bình thường, chúng ta dần quen với tính khó lý giải của chúng, rồi quên mất câu hỏi liệu xác suất cực thấp của những lần song hành ấy có phải là sự phủ nhận hoàn toàn việc đó do may rủi hay không. Điều xảy ra với Elfride lúc này chính là một ví dụ điển hình. Cô đang mường tượng rõ mồn một, đến lần thứ hai mươi, nụ hôn của buổi sáng hôm ấy, và chúm môi lại theo đúng tư thế mà một nụ hôn tương tự đòi hỏi, thì cô nghe thấy chính xác hành động đó được thực hiện ngay trên bãi cỏ, ngay phía dưới cửa sổ phòng cô.

Một nụ hôn—không phải kiểu khe khẽ lén lút, mà là dứt khoát, kêu giòn giã và đầy quyết đoán.

Khuôn mặt cô bừng đỏ và cô ngó ra ngoài, nhưng chẳng thấy gì. Vành tối của vùng đất cao vẽ nên một đường nét sắc sảo và buồn bã trên nền trời nhạt nhòa ánh sáng, không hề bị phá vỡ ngoại trừ ngọn cây tuyết tùng non trên bãi cỏ, vốn đã vươn cao vượt qua các cây đồng loại, chĩa phần ngọn nhọn hoắt của mình cắt ngang đường chân trời, đâm xuyên qua ánh sáng lấp lánh của vòm trời như một mũi nhứa.

Hoàn toàn có khả năng là, nếu có ai đó đang đứng trên những thảm cỏ ngoài bãi cỏ, Elfride đã có thể nhìn thấy bóng dáng mờ ảo của họ. Nhưng những khóm cây vốn trước đây chỉ chấm phá trên bãi cỏ nay đã mọc um tùm và lớn rộng, che khuất ít nhất một nửa khoảng không gian bao quanh chúng. Cặp đôi đang hôn nhau có lẽ đang nấp sau những khóm cây nào đó; dẫu sao đi nữa, chẳng có ai lọt vào tầm mắt.

Nếu không có những ẩn ý và sự vắng mặt đầy bí ẩn của người yêu, Elfride chắc chắn sẽ không bao giờ mảy may nghi ngờ rằng anh có dán dấp gì trong vụ việc vừa rồi. Nhưng những điều giấu giếm mà anh khăng khăng giữ kín hiện tại, dù làm tăng thêm vẻ huyền bí—thiếu nó có lẽ cô đã chẳng yêu anh say đắm đến thế—lại vừa khéo nuôi dưỡng mọi thứ nghi ngờ, và với một nỗi ghen tuông đang bừng lên âm ỉ, cô tự hỏi, liệu anh có phải là thủ phạm không?

Elfride rón rén bước xuống lầu, tiến thẳng ra đúng chỗ cô đã chia tay Stephen để anh có thể nói chuyện riêng với cha cô. Từ đó, cô lang thang qua mọi ngóc ngách xung quanh chốn phát ra thứ âm thanh kia—giữa những lùm nguyệt quế khổng lồ, quanh các búi cỏ lau pampas, giữa những hàng ô-rê đủ màu, dưới tán cây du rủ lá—chẳng có một bóng người. Trở lại trong nhà, cô gọi lớn:

— Unity!

— Nó sang nhà dì chơi tối nay rồi, — ông Swancourt nói, thò đầu ra khỏi cửa phòng làm việc và để ánh nến hắt lên khuôn mặt Elfride—ánh sáng dường như không phải làm lộ ra, mà chính là thứ tạo nên vết đỏ bối rối đầy lo âu đang bừng cháy trên má cô.

— Con không biết là bố có ở trong nhà đấy, — cô ngạc nhiên nói. — Rõ ràng là cửa sổ không hề hắt ra chút ánh sáng nào lúc con còn đứng ngoài bãi cỏ mà? — rồi cô nhìn lại và thấy các khung cửa chớp vẫn đang mở.

— Ồ có chứ, bố ở trong này mà, — ông nói một cách dửng dưng. — Con tìm Unity có việc gì thế? Bố nghĩ nó đã dọn bữa tối trước khi đi rồi chứ.

— Thế ạ?—Con đã ra xem đâu—con đâu có tìm nó vì việc đó.

Elfride lúc này, khi bị đòi hỏi một lý do cụ thể, lại hầu như chẳng biết lý do ấy là gì. Tâm trí cô trong khoảnh khắc lạc đi sang một chủ đề khác, tưởng chừng vô cùng vụn vặt. Một mẩu diêm đỏ quạch đang nằm bên trong tấm chắn lò sưởi, điều đó giải thích vì sao cô không thấy tia sáng nào lọt qua cửa sổ là bởi nến vừa mới được thắp lên.

— Cha ra ngay đây, — vị mục sư nói. — Cha cứ tưởng con đi đâu đó cùng anh Smith cơ chứ.

Ngay cả một cô gái chưa trải đời như Elfride cũng không khỏi nghĩ rằng cha cô hẳn phải vô cùng mù quáng nếu không nhận ra hệ quả tất yếu từ việc cô và Stephen bị bỏ lại một mình một cách tự nhiên đến thế; vô cùng bất cẩn nếu ông nhìn thấy mà chẳng mảy may bận tâm; và vô cùng tốt bụng nếu như, theo phỏng đoán có vẻ hợp lý nhất đối với cô lúc bấy giờ, ông đã thấy, đã suy ngẫm và còn đồng tình nữa là đằng khác. Những suy nghĩ ấy bỗng bị cắt ngang bởi sự xuất hiện của Stephen ngay bên ngoài hiên nhà, phần đầu và vai được phủ một lớp ánh bạc từ những vệt trăng đang dần luồn lỏi qua các tán cây.

— Rắc rối của anh có liên quan gì đến một nụ hôn ngoài bãi cỏ không? — cô hỏi một cách bộc tuệch, gần như đầy phẫn uất.

— Nụ hôn ngoài bãi cỏ ư?

— Vâng! — cô nói, giờ thì với giọng điệu bề trên đầy hách dịch.

— Anh không hiểu em đang nói gì, mà đến giờ vẫn chưa hiểu lắm. Quả thực anh chẳng hôn ai ngoài bãi cỏ cả, nếu đó thực sự là điều em muốn biết, Elfride.

— Anh không hề hay biết gì về chuyện đó sao?

— Hoàn toàn không. Sao tự dưng em lại hỏi thế?

— Đừng gặng hỏi em; chẳng có gì quan trọng đâu. Và này Stephen, anh vẫn chưa nói chuyện đính hôn của chúng ta với cha ư?

— Chưa, — anh đáp với vẻ hối tiếc, — anh không gặp được ông ngay; rồi sau đó anh cứ nghĩ mãi về những gì em nói về sự phản đối, từ chối—thậm chí là những lời cay đắng—có thể đặt dấu chấm hết cho hạnh phúc của chúng ta, nên anh đã quyết định hoãn lại đến ngày mai; điều đó cho chúng ta thêm một ngày vui sướng—một niềm vui mang chút bồi hồi run rẩy.

— Vâng; nhưng em nghĩ giữ im lặng quá lâu thì không đúng phép cho lắm, — cô nói với giọng điệu nhẹ nhàng, ngầm ra hiệu rằng mặt cô đã đỏ bừng lên. — Em muốn cha biết chúng ta yêu nhau, Stephen. Tại sao anh lại hùa theo ý định trì hoãn của em chứ?

— Anh sẽ giải thích; nhưng trước tiên anh muốn nói cho em nghe bí mật của anh—kể ngay bây giờ. Vẫn còn hai, ba tiếng nữa mới đến giờ đi ngủ. Chúng ta lên đồi ra nhà thờ đi.

Elfride thẫn thờ đồng thuận, và họ rời bãi cỏ qua một chiếc cổng nhỏ bên hông, bước lên khoảng không gian lộng gió ngập tràn ánh trăng đang tỏa chiếu xung quanh tòa nhà hiu quạnh trên đỉnh đồi.

Cửa khóa. Họ rời khỏi mái hiên, nắm tay nhau rảo bước tìm một chỗ ngồi trong nghĩa trang. Stephen chọn một cỗ quan tài bằng phẳng, trông mới và trắng hơn những ngôi mộ xung quanh, rồi tự mình ngồi xuống, nhẹ nhàng kéo tay cô về phía mình.

— Không, đừng ngồi ở đó, — cô nói.

— Sao lại không ngồi đây?

— Chỉ là một linh tính thôi; nhưng thôi bỏ đi. — Và cô ngồi xuống.

— Elfie, em có yêu anh, dẫu cho người ta có nói ra nói vào bất cứ điều gì bất lợi về anh không?

— Ơi Stephen, sao anh cứ nhắc đi nhắc lại điều đó mãi với vẻ buồn bã thế? Anh biết là em có mà. Vâng, thực sự đấy, — cô nói, xích lại gần hơn, — dù người ta có nói gì về anh đi nữa—và chẳng có điều gì xấu xa đâu—em vẫn cứ gắn bó với anh như thế. Lối sống của anh sẽ là lối sống của em cho đến khi chết.

— Em đã bao giờ nghĩ cha mẹ anh là ai, hay trước đây anh thuộc tầng lớp xã hội nào chưa?

— Không, cụ thể thì chưa. Em chỉ nhận thấy một vài điểm nhỏ trong tác phong của anh hơi kỳ lạ—chỉ vậy thôi. Em đoán anh xuất thân từ tầng lớp trung lưu bình thường của những người làm nghề chuyên môn.

— Giả sử không phải thế—rằng chẳng ai trong gia đình anh làm nghề chuyên môn ngoại trừ anh thì sao?

— Em không bận tâm. Con người anh mới là điều duy nhất liên quan đến em.

— Em nghĩ anh từng học trường nào—ý anh là, loại trường nào cơ?

— Trường tư thục của vị tiến sĩ nào đó chứ gì, — cô hồn nhiên đáp.

— Không. Ban đầu là một trường làng vỡ lòng do mấy bà giáo dạy trẻ mở, rồi sau đó là trường tiểu học quốc gia.

— Chỉ thế thôi á! Chà, em vẫn yêu anh dường ấy, Stephen, Stephen yêu dấu của em ơi, — cô lẩm bẩm đầy dịu dàng, — thực sự là thế đấy. Và sao anh lại phải kể cho em nghe những điều này với vẻ đầy tâm trạng thế? Chúng có quan trọng gì với em đâu?

Anh ôm chặt cô hơn và tiếp lời:

— Em nghĩ cha anh làm nghề gì—ý anh là kiếm sống bằng cách nào ấy?

— Chắc là hành nghề chuyên môn hay công việc gì đó chứ.

— Không; ông là thợ xây.

— Thợ hồ tự do (Freemason) à?

— Không; một người làm thuê ăn lương và là thợ nề lao động tay chân.

Elfride im lặng một lát. Hồi lâu sau cô thì thầm:

— Nghe thật lạ lẫm đối với em. Nhưng thôi chẳng sao cả; điều đó có nghĩa lý gì đâu?

— Nhưng em không giận anh vì đã không nói trước với em sao?

— Không, hoàn toàn không. Mẹ anh còn sống chứ?

— Còn.

Bà ấy có phải là một người phụ nữ phúc hậu không?

— Rất phúc hậu—người mẹ tuyệt vời nhất trên đời. Dòng họ nhà mẹ vốn là những điền chủ khá giả qua nhiều thế kỷ, nhưng bà chỉ là một cô gái vắt sữa bò.

— Ôi Stephen! — một tiếng kêu khẽ thốt ra từ miệng cô.

— Bà vẫn tiếp tục công việc vắt sữa lâu sau khi cha kết hôn với bà, — Stephen tiếp lời mà không chút do dự. — Và anh nhớ rất rõ hồi còn rất nhỏ, anh thường theo mẹ ra chuồng vắt sữa, đứng nhìn người ta gạn kem, ngủ say sưa suốt lúc người ta quay bơ, rồi ra điều giúp đỡ mẹ. À, quãng thời gian ấy cũng đủ hạnh phúc rồi!

— Không, chưa bao giờ—không thể gọi là hạnh phúc được.

— Có chứ, hạnh phúc mà.

— Em chẳng thể hiểu nổi hạnh phúc có thể tồn tại ở đâu khi mà người ta phải è cổ làm cái công việc vắt sữa đầu tắt mặt tối để kiếm sống—đôi tay đỏ phồng rộp và đôi giày bám đầy bùn đất... Stephen, em thừa nhận là thật kỳ quặc khi nghĩ về anh dưới ánh sáng của—của—việc từng có một tuổi thơ thô ráp, và làm những công việc chân tay như thế. (Stephen rụt người lại chừng một-hai phân.) — NHƯNG EM VẪN YÊU ANH NHƯ THẾ, — cô tiếp tục, lại sát vào vai anh, — và em chẳng màng gì đến quá khứ; và em thấy rằng anh càng đáng trân trọng hơn vì đã tự vươn lên trong cuộc đời theo cách ấy.

— Đó không phải là sự đáng trân trọng của anh; mà là của Knight, người đã thúc đẩy anh.

— À, lại là anh ta—lại cứ là anh ta!

— Đúng thế, và rất đúng đắn là đằng khác. Giờ thì Elfride, em đã hiểu lý do tại sao anh ấy dạy học cho anh qua thư rồi chứ. Anh đã biết anh ấy từ nhiều năm trước khi anh ấy vào Oxford, nhưng trình độ đọc sách của anh lúc bấy giờ chưa đủ để anh ấy tính đến chuyện dạy kinh điển cho anh cho đến khi anh ấy rời nhà đi. Sau đó anh bị gửi rời khỏi làng, và chúng ta rất hiếm khi gặp nhau; nhưng anh ấy vẫn duy trì hệ thống kèm cặp qua thư từ này một cách đều đặn nhất. Anh sẽ kể cho em toàn bộ câu chuyện, nhưng không phải lúc này. Chẳng còn gì để nói thêm ngoài việc kể tên địa điểm, con người và ngày tháng nữa.

Giọng anh trở nên rụt rè và chậm chạp ở đoạn này.

— Thôi; đừng bận tâm kể thêm nữa. Anh thật là một chàng trai đáng yêu và chân thành khi đã thổ lộ ngần ấy thứ; và mọi chuyện cũng chẳng đến nỗi kinh khủng gì. Đã thành chuyện bình thường khi các triệu phú khởi nghiệp bằng cách đến London với bộ đồ nghề trên lưng và nửa đồng mi-rê trong túi. Kiểu xuất thân đó đang dần được kính trọng đến mức, — cô tiếp tục một cách vui vẻ, — nó đang mang chút hơi hướng của dòng dõi quý tộc Norman.

— À, nếu anh ĐÃ tạo dựng được cơ đồ, thì anh đã chẳng bận lòng. Nhưng ngặt nỗi anh mới chỉ là một kẻ có tiềm năng làm nên cơ đồ vào lúc này thôi.

— Thế là quá đủ rồi. Và HÓA RA đây chính là điều làm anh bận lòng ư?

— Anh cứ nghĩ mình đang làm sai khi để em yêu mà không kể cho em nghe câu chuyện của mình; vậy mà anh vẫn sợ hãi không dám nói, Elfie. Anh sợ mất em, và vì thế nên anh đã hèn nhát.

— Mọi thứ về anh bỗng trở nên thật rõ ràng sau lời giải thích này! Những nét kỳ quặc của anh khi chơi cờ, cách phát âm tiếng Latinh mà cha đã nhận ra, sự kết hợp lạ lùng giữa kiến thức sách vở với sự ngơ ngác trước những phép tắc xã giao thông thường, tất cả đều được lý giải trong chớp mắt. Và chuyện này có liên quan gì đến cảnh tượng em nhìn thấy ở nhà Lord Luxellian không?

— Em đã thấy gì thế?

— Em thấy bóng của chính anh đang khoác áo choàng cho một người phụ nữ. Em đứng ở cửa bên; hai người ở trong một căn phòng có ô cửa sổ hướng về phía em. Anh ra chỗ em ngay sau đó một khoảnh khắc.

— Đó là mẹ anh.

— Mẹ anh Ở ĐÓ ư! — Cô lùi lại một chút để nhìn anh đầy chăm chú.

— Elfride, — Stephen nói, — anh đã định kể nốt phần còn lại vào ngày mai—anh vẫn cứ giấu giếm mãi—nhưng rốt cuộc bây giờ anh phải nói ra thôi. Phần còn lại trong bí mật của anh liên quan đến nơi cha mẹ anh đang sống. Em nghĩ họ sống ở đâu? Ít ra thì em cũng biết họ—bằng cách nhìn mặt rồi.

— Em biết họ ư! — cô thốt lên trong cơn kinh ngạc sững sờ.

— Vâng. Cha anh là John Smith, thợ cả của Lord Luxellian, người sống dưới chân bức tường công viên cạnh bờ sông.

— Ôi Stephen! Có thể thế được sao?

— Ông đã xây—hoặc phụ giúp xây dựng ngôi nhà em đang ở từ nhiều năm trước. Ông đã dựng những trụ cổng đá ở lối vào khu điền trang của Lord Luxellian. Ông nội anh đã trồng những hàng cây bao quanh bãi cỏ nhà em; bà nội anh—người từng làm việc ngoài đồng cùng ông—đã giữ từng gốc cây thẳng đứng trong lúc ông lấp đất: họ đã kể cho anh nghe thế khi anh còn là một đứa trẻ. Ông cũng đồng thời là người giữ đền, và đã đào rất nhiều ngôi mộ xung quanh chúng ta đây.

— Và chuyện anh biến mất một cách khó hiểu vào buổi sáng đầu tiên đến đây, rồi lại thêm lần nữa vào chiều nay, chính là để chạy đi thăm cha mẹ anh ư?... Giờ thì em hiểu rồi; hèn chi anh cứ có vẻ rành đường đi nước bước trong làng đến thế!

— Hèn chi. Nhưng hãy nhớ rằng, anh đã không sống ở đây kể từ năm lên chín tuổi. Sau đó anh đến sống với người chú, một thợ rèn, gần Exonbury, để có thể theo học trường tiểu học quốc gia dưới dạng học sinh ban ngày; lúc bấy giờ vùng bờ biển hẻo lánh này làm gì có trường nào. Chính ở đó anh đã gặp người bạn Knight của mình. Và khi anh mười lăm tuổi, đã được thầy hiệu trưởng—và đặc biệt là Knight—giáo dục khá chu đáo, anh được nhận vào làm học việc tại một văn phòng kiến trúc sư ở thị trấn đó, bởi vì anh có năng khiếu vẽ vời. Một khoản phí học nghề kha khá đã được đóng nhờ những nỗ lực của cha mẹ anh, dẫu có phần trái với mong muốn của Lord Luxellian—dù ngài ấy rất quý cha anh và đánh giá rất cao về ông. Anh ở lại đó cho đến sáu tháng trước, khi anh xin được một vị trí gọi là nhân viên tập sự tại một văn phòng ở London. Câu chuyện về anh chỉ có vậy thôi.

— Nghĩ lại cảnh ANH, một vị khách đến từ London, một người thành thị, lại sinh ra ở chốn này, và đã rành rọt ngôi làng này nhiều năm trước cả em. Thật kỳ lạ—trông thật quá đỗi kỳ lạ đối với em! — cô lẩm bẩm.

— Mẹ anh đã nhún gối chào em và cha vào Chủ nhật tuần trước, — Stephen nói, nở một nụ cười khổ sở khi nghĩ đến sự trớ trêu ấy. — Và cha em đã nói với bà rằng: “Tôi rất vui khi thấy bà đi lễ đều đặn đấy, JANE.”

— Em nhớ chứ, nhưng em chưa từng nói chuyện với bà. Chúng ta mới chuyển đến đây được mười tám tháng, mà giáo xứ thì rộng quá.

— Hãy đặt điều đó lên bàn cân so sánh, — Stephen cười buồn bã, — với niềm tin của cha em về “dòng máu xanh” của anh, thứ vẫn đang ngự trị trong tâm trí ông. Đêm đầu tiên anh đến, ông khăng khăng muốn chứng minh nguồn gốc của anh xuất phát từ một trong những dòng họ cổ xưa nhất ở miền Tây, chỉ vì cái tên đệm thứ hai của anh; trong khi sự thật là, sở dĩ anh có cái tên đó vì ông nội anh từng là phụ tá làm vườn cho gia đình Fitzmaurice-Smith suốt ba mươi năm. Nhìn thấy khuôn mặt em, tình yêu của anh ạ, anh đã chẳng đành lòng phản bác và kể cho ông nghe sự thật, bởi điều đó sẽ cắt đứt mối quan hệ thân tình của anh với em.

Cô thở dài thườn thượt. — Vâng, giờ thì em thấy sự bất bình đẳng này có thể gây ra rắc rối cho chúng ta thế nào rồi đấy, — cô lẩm bẩm, rồi tiếp tục với giọng thì thầm buồn bã, — Em đã chẳng bận tâm nếu họ sống ở một nơi xa xôi nào đó. Cha có lẽ đã đồng ý cho chúng ta đính hôn nếu gia đình anh ở cách đây cả trăm dặm; khoảng cách địa lý làm dịu đi sự tương phản về gia thế. Nhưng bố sẽ không thích đâu—Ôi Stephen, Stephen! Em phải làm sao đây?

— Phải làm sao ư? — anh ngập ngừng hỏi, giọng nặng trĩu. — Hãy từ bỏ anh; hãy để anh trở về London, và đừng tơ tưởng gì đến anh nữa.

— Không, không; em không thể từ bỏ anh! Sự bế tắc trong chuyện của chúng ta lại càng khiến em quan tâm đến anh nhiều hơn... Em thấy được điều mà thoạt đầu em chưa nhận ra. Stephen, sao chúng ta phải phiền muộn cơ chứ? Tại sao cha lại phải phản đối? Một kiến trúc sư ở London thì cũng là kiến trúc sư ở London thôi. Ai thèm tra xét ở đó chứ? Chẳng ai cả. Chúng ta sẽ sống ở đó, phải không nào? Cớ sao chúng ta phải hoảng hốt đến thế?

— Và Elfie, — Stephen nói, hy vọng trong lòng lại bùng lên cùng cô, — Knight chẳng mủi lòng chút nào chuyện anh chỉ là con của một người thợ nghèo; anh ấy nói anh xứng đáng với tình bạn của anh ấy hệt như thể anh là con một vị chúa đất; và nếu anh xứng đáng với tình bạn của anh ấy, thì anh cũng xứng đáng với em, phải không nào Elfride?

— Không những em chưa từng yêu bất kỳ ai ngoài anh, — cô đáp thay vì trả lời thẳng vào câu hỏi, — mà em còn chẳng thiết lập nổi một tình bạn sâu sắc nào, kiểu như tình bạn giữa anh và Knight vậy. Em ước gì anh không có người bạn ấy. Nó làm em thấy mình nhỏ bé đi.

— Nào Elfride, em thừa sức hiểu rõ điều đó mà, — anh nài nỉ nói. — Và thực sự là em chưa từng có lấy một người theo đuổi nào sao?

— Chẳng có ai được em công nhận là người như thế cả.

— Nhưng chưa từng có ai yêu em ư?

— Có chứ—từng có một người; anh ta bảo thế, yêu nhiều lắm.

— Từ bao giờ cơ?

— Ồ, lâu lắm rồi.

— Lâu cỡ nào, tình yêu của anh?

— Tròn một năm.

— Thế thì chưa PHẢI LÀ rất lâu (với vẻ hơi thất vọng).

— Em bảo là lâu, chứ có bảo là rất lâu đâu.

— Và anh ta muốn cưới em chứ?

— Em tin là có. Nhưng em chẳng thấy ở anh ta điểm gì thu hút cả. Anh ta không đủ tốt, ngay cả khi em có yêu anh ta đi chăng nữa.

— Anh có thể hỏi anh ta làm nghề gì không?

— Là một nông dân.

— Một người nông dân mà không đủ tốt ư—họ hàng nhà anh còn thua xa ngài ấy nữa là! — Stephen lẩm bẩm.

— Bây giờ anh ta đâu rồi? — anh tiếp tục hỏi Elfride.

— Ở ĐÂY.

— Ở đây! Ý em là sao?

— Ý em là anh ta đang ở ngay đây.

— Ở đây là ở đâu?

— Dưới chân chúng ta. Anh ta chết rồi, và chúng ta đang ngồi trên ngôi mộ của anh ta đấy.

— Elfie, — chàng trai trẻ đứng bật dậy nhìn vào ngôi mộ, — sao lời thổ lộ ấy nghe kì quặc và buồn bã thế nhỉ! Nó làm anh thấy chùng xuống ngay lập tức.

— Stephen! Em đâu có muốn ngồi đây; chính anh khăng khăng đòi ngồi đấy chứ.

— Em chưa từng khuyến khích anh ta ư?

— Chưa từng bằng ánh mắt, lời nói hay cử chỉ nào, — cô nói một cách trang nghiêm. — Anh ta chết vì bệnh lao, và được chôn cất đúng vào ngày anh mới đến đây.

— Chúng ta đi đi. Anh không thích đứng gần ANH TA chút nào, dẫu cho em chưa từng yêu anh ta đi nữa. Anh ta xuất hiện TRƯỚC anh.

— Những nỗi phiền muộn làm anh trở nên vô lý đấy, — cô hờn dỗi nói, bước theo Stephen cách đó chừng vài bước chân. — Có lẽ em nên nói cho anh biết trước khi chúng ta ngồi xuống. Vâng; chúng ta đi thôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.