Đôi Mắt Biếc

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

❊ ❊ ❊

“Dưới bóng một cội cây già.”

Stephen quay gót trở lại hướng ngôi nhà tranh mà anh chỉ mới ghé thăm cách đây tầm hai hoặc ba tiếng đồng hồ. Khi anh đến gần và tiến vào vòm lá xum xuê mọc quanh vùng ngoại vi công viên Endelstow, những đốm sáng và vệt bóng từ vầng trăng rọi xuống cứ rượt đuổi nhau liên hồi trên đầu và dọc sống lưng anh trong một trò đùa nghịch không dứt. Lúc bước qua chiếc cầu ván và vào đến cổng vườn, anh nhìn thấy một bóng người đang thắp sáng di chuyển từ khoảng đất rào chắn sang phía ngôi nhà bên kia. Đó là cha anh, với cánh tay đang nẹp trong chiếc khăn vải treo cổ, đang đi vòng quanh ngắm nghía khu vườn dưới ánh trăng, đặc biệt chú ý đến luống củ cải non nhất trong đám củ cải non, trước khi cài then đóng cửa ngôi nhà để nghỉ đêm.

Ông cất tiếng chào con trai với cái âm lượng quen thuộc vang dội. “Cha chả, Stephen! Chỉ mười phút nữa là tụi ta lên giường đi ngủ rồi đấy. Chắc con đến xem tay ta bị sao chứ gì, hả cậu ấm?”

Vị bác sĩ đã đến rồi đi, và cái tay đã được chẩn đoán là chỉ bị thương nhẹ, dẫu rằng sự việc có lẽ đã được xem là nghiêm trọng hơn rất nhiều nếu ông Smith là một nhân vật có máu mặt hơn. Câu hỏi han đầy lo lắng của Stephen chỉ kéo theo từ phía cha anh những lời tiếc nuối vì sự bất tiện khi ông đành phải bó tay không làm gì trong hai ngày tới, hơn là sự bận tâm đến cơn đau do tai nạn gây ra. Hai cha con cùng nhau bước vào nhà.

John Smith — với làn da rám nắng như mùa thu và bộ quần áo trắng muốt như mùa đông — là một đại diện tiêu biểu đến hoàn hảo cho người thợ thủ công làm đá ở chốn thôn quê. Giống như hầu hết thợ thuyền vùng quê khác, ông mang trong mình quá nhiều cá tính để có thể trở thành một “người lao động” rập khuôn — thứ sản phẩm sinh ra từ sự va đập mài giũa lẫn nhau giữa những con người cùng loại chỉ có thể trải nghiệm ở các đô thị lớn, nơi biến một cái Tôi đơn nhất thành một phân số của một Cái Lớp chung.

Công việc của ông không có sự chuyên môn hóa rạch ròi vốn là nét đặc trưng của thợ thủ công thành thị. Dù ngặt nghèo mà nói thì ông chỉ là một thợ nề, ông chẳng màng việc nhúng tay vào một viên gạch, nếu gạch là thứ phải dùng trong ngày; hay một tấm lợp hoặc ngói, nếu mái nhà cần được che chắn trước khi mùa mưa dầm kéo tới và chẳng có ai ở gần làm việc ấy giỏi hơn ông. Thật vậy, có một vài dịp giữa độ mùa đông giá rét, khi băng giá cấm tiệt mọi việc dùng tới bay thợ nề, khiến móng nhà lún sụt, đá vứt tung tóe và vữa tơi tả, ông đã chuyển sang đốn và cưa cây. Hơn thế nữa, ông đã tự tay làm vườn trên mảnh đất của chính mình ròng rã bao năm trời đến mức nếu rơi vào tình thế cấp bách, ông hoàn toàn có thể kiếm sống bằng nghề đó.

Có lẽ người đồng hương của chúng ta không phải là một bậc thầy tài nghệ điêu luyện theo một hướng chuyên biệt nào đó như những người anh em thợ thuyền ở thành thị. Nhưng kỳ thực, ông giống như gã thợ làm ghim vụng về nhưng làm trọn vẹn từ đầu đến cuối một cây ghim — kẻ từng bị Adam Smith khinh miệt vì lý do đó nhưng lại được Macaulay kính trọng, và suy cho cùng thì ông vẫn mang nhiều phẩm chất của một người nghệ sĩ hơn rất nhiều.

Giờ đây, khi hiện diện trong nhà dưới ánh nến, dáng vẻ khỏe mạnh cường tráng của ông quả là một cảnh tượng rất đáng ngắm nhìn. Bộ râu của ông rậm và xoăn tít như râu của một bức tượng Hercules tạc bằng đá; tay áo sơ mi xắn lên một nửa, chiếc áo ghi-lê buông cúc; sự khác biệt về sắc độ giữa lớp vải lanh trắng muốt với đôi tay và khuôn mặt đỏ hồng tạo nên sự tương phản giống như lòng trắng và lòng đỏ trứng gà. Nghe tiếng họ bước vào, bà Smith từ trong phòng đựng thức ăn bước ra.

Bà Smith là một người phụ nữ tề gia có khuôn mặt thiên về việc kích thích tư duy hơn là gây ấn tượng cho thị giác, dẫu không hẳn là hoàn toàn như vậy. Bà vẫn giữ được nét tươi trẻ của bản thân dẫu nay đã bước sang quãng đời xế bóng tẻ nhạt; nhưng những đường nét trên khuôn mặt bà trước hết bộc lộ một thứ lẽ phải thông thường vô cùng vững vàng ẩn phía sau; thoạt nhìn, tổng thể con người bà như mang theo một dạng bình luận mang tính biện luận về thế giới nói chung.

Các chi tiết của vụ tai nạn sau đó được cha của Stephen kể lại, theo cái cách đầy kịch tính vốn cũng quen thuộc ở Martin Cannister, những cư dân khác trong vùng, và thế giới nhà nông nói chung. Bà Smith chen vào những cảm thán của mình giữa các hồi, đóng vai trò như vị xướng ngôn viên của thê kịch, để bản thuật chuyện trở nên trọn vẹn. Cuối cùng câu chuyện cũng đi đến hồi kết, như mọi câu chuyện dù dài đến đâu rồi cũng phải dứt, và Stephen liền lái hướng trò chuyện sang ngã khác.

“Thưa mẹ, giờ họ đã biết hết mọi chuyện về con rồi,” anh điềm tĩnh nói.

“Làm tốt lắm!” cha anh đáp lời; “giờ thì lòng ta được yên ổn rồi đấy.”

“Con tự trách mình — con sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho bản thân — vì đã không nói cho họ biết từ trước,” chàng trai tiếp lời.

Đến lúc này, bà Smith liền dời tâm trí ra khỏi chủ đề vừa rồi. “Mẹ chẳng thấy con có gì mà phải đau buồn cả, Stephen,” bà nói. “Những người vô tình kết giao được với bạn bè thì đâu có dại gì ngay từ cú phất đầu tiên đã đem phơi bày gia phả nhà mình ra.”

“Chắc chắn là con chẳng làm điều gì sai trái cả,” cha cậu nói.

“Không; nhưng lẽ ra con phải lên tiếng sớm hơn. Chuyến viếng thăm này của con có nhiều uẩn khúc hơn con tưởng đấy — nhiều hơn rất nhiều.”

“Làm sao mà qua mặt được ta chứ,” bà Smith đáp, đăm đăm nhìn anh với vẻ trầm tư. Stephen đỏ bừng mặt; còn cha anh thì đưa mắt nhìn người này sang người kia với vẻ hoàn toàn ngơ ngác.

“Con bé trông cũng xinh xắn đấy chứ,” bà Smith nói tiếp, “lại rất ra dáng tiểu thư và cũng thông minh nữa. Nhưng dẫu nó có hợp với con về mặt đó đi chăng nữa, thì ôi trời đất quỷ thần ơi, cớ sao mà con lại đâm đầu đi muốn có vợ có con làm cái quái gì từ sớm thế này cơ chứ?”

John bặm cái miệng vốn ngắn tự nhiên của mình lại thành một đường dài và nhăn trán. “Gió đang thổi theo chiều hướng đó phải không nào?” ông nói.

“Thưa mẹ,” Stephen kêu lên, “sao mẹ lại nói những lời ngớ ngẩn thế! Lại còn đem ra mổ xẻ xem cô ấy có xứng với con hay không, cứ như thể chuyện đó còn gì phải hoài nghi nữa không bằng! Cha ạ, cưới được cô ấy sẽ là phúc đức lớn lao nhất trong đời con — về mặt xã hội lẫn thực tế, cũng như ở mọi phương diện khác. Con e là chẳng có cái phúc lớn đến thế đâu; cô ấy ở trên cao quá. Gia đình cô ấy không cần những thứ trai quê như con bước chân vào nhà đâu.”

“Thế nếu họ không cần con, thì ta thà thấy họ chết khô chết dở còn hơn là đi cần họ, rồi cứ tìm đến những gia đình tử tế hơn sẵn sàng đón nhận con mà sống.”

“À, vâng; nhưng con không tài nào chịu nổi cái cảm giác khó chịu khi bị coi rẻ lúc được chào đón giữa những người như mẹ vừa nói, trong khi con có thể nhận được sự thờ ơ dửng dưng giữa những người như gia đình cô ấy.”

“Rồi cái quái thai tư duy nào sẽ lại len lỏi vào đầu con nữa đây?” mẹ anh nói. “Mà nói cho trót nhé, cô ấy chẳng hề cao sang quá mức so với con, và con cũng chẳng thấp hèn gì so với cô ấy đâu. Con hãy nhìn cách mẹ tự nâng giá trị bản thân mình mà xem. Mẹ chắc chắn rằng mẹ không bao giờ đứng buôn chuyện với bất kỳ kẻ làm thuê làm mướn nào quá một phút; và mẹ chẳng bao giờ mời bất cứ ai không tự kinh doanh riêng đến dự bữa tiệc Giáng sinh của nhà mình cả. Thế mà mẹ vẫn trò chuyện với đủ loại quý nhân đi xe ngựa sang trọng đến chỗ đại nhân nhà ngài mà chẳng cần phải thưa thưa dạ dạ ‘bà ơi’ hay ‘ông ơi’ gì sất, và họ vẫn đón nhận điều đó ngoan ngoãn như những chú cừu non thôi.”

“Mẹ đã nhún gối cúi chào vị mục sư đấy thôi, thưa mẹ; và con ước gì mẹ đừng làm thế.”

“Nhưng đó là trước khi ông ta gọi thẳng tên thánh của mẹ, chứ nếu không thì đừng hòng ông ta nhận được một cái nhún gối nào từ mẹ nhé!” bà Smith vừa nói vừa rướn người lên, ánh mắt lóe lên vẻ bực bội. “Con cứ chì triết mẹ mãi, Stephen, cứ như thể mẹ là kẻ thù không đội trời chung của con không bằng! Thế con bảo mẹ phải làm gì với cái ông đó để tống khứ ổng đi đây, khi mà ổng cứ nhồi sọ mẹ và cha con hết bên này đến bên nọ về sự vĩ đại của ổng, rồi về những chuyện đã xảy ra khi ổng còn là một cậu thanh niên ngồi trên ghế nhà trường, cùng tỉ tỉ thứ chuyện đời khác; cái lưỡi của ổng ngoáy trong miệng cứ lăng quăng như cái giẻ lau nhà quanh xưởng sữa ấy chứ. Ổng đã làm thế thật mà, phải không hả John?”

“Cơ sự thì đại khái là đúng như thế đấy,” chồng bà đáp.

“Bất kỳ người phụ nữ nào ngày nay,” bà Smith nói tiếp, “nếu có lấy chồng đi chăng nữa, thì cũng phải chấp nhận một người cha chồng có địa vị thấp hơn cha đẻ của mình. Đàn ông thì ngày càng tiến thân lên cao, còn phụ nữ thì vẫn dậm chân tại chỗ. Kẻ nào con gặp cũng ra dáng công tử bột hơn cha hắn; và con thì hoàn toàn xứng đôi vừa lứa với cô ta rồi còn gì.”

“Đấy cũng là điều mà chính cô ấy nghĩ.”

“Thế thì chỉ chứng tỏ cô ta là người có óc phán đoán thôi. Ta biết ngay là cô ta đang để mắt đến con mà, Stephen — ta biết thừa.”

“Để mắt đến con! Lạy Chúa tôi, chuyện quái gì thế này!”

“Và thực lòng mẹ phải nhắc lại lần nữa là con không nên vội vàng như thế, hãy cứ chờ thêm vài năm xem sao. Lúc đó con hoàn toàn có thể với tới những người còn cao giá hơn cả cô con gái của một tay mục sư đã phá sản ấy chứ.”

“Thực ra thế này, thưa mẹ,” Stephenốt lên vẻ kiên nể, “mẹ chẳng biết gì về chuyện đó cả. Con sẽ chẳng bao giờ với cao hơn đâu, bởi vì con không muốn thế, và dù con có sống đến một trăm tuổi đi nữa thì cũng chẳng đời nào con làm thế. Còn việc mẹ bảo cô ấy đang săn đón con, con không thích nghe người ta nói về cô ấy như vậy, bởi vì điều đó ngụ ý rằng cô ấy là một người đàn bà mưu mô, còn con là một gã đàn ông đáng để giăng bẫy — cả hai điều đó không những không đúng sự thật, mà còn hoang đường đến mức nực cười trong hoàn cảnh này. Phải thế không hả cha?”

“Ta e là mình không hiểu rõ chuyện này lắm để mà đưa ra ý kiến,” cha anh nói, với giọng điệu của con cáo bị cảm lạnh nên chẳng ngửi thấy mùi gì nữa.

“Dù sao đi nữa thì cô ta cũng chẳng phải dạng vừa đâu, tính cái khoảng thời gian ngắn ngủi mà con quen biết cô ta đấy,” mẹ anh nói. “Thà rằng mẹ nghĩ năm năm nữa con vẫn còn đủ trẻ trung để nghĩ đến những chuyện đại loại như thế này. Và quả thực cô ta hoàn toàn có thể chờ đợi được, rồi cô ta cũng sẽ chờ cho mà xem, cứ tin lời mẹ đi. Sống ở một nơi xó xỉnh khỉ ho cò gáy thế này, mẹ chắc chắn rằng cô ta phải vô cùng biết ơn vì con đã thèm để ý đến cô ta đấy. Chắc cô ta đã ế vợ già đến chết nếu con không xuất hiện rồi.”

“Toàn chuyện nhảm nhí,” Stephen lẩm bẩm trong miệng, không dám nói to.

“Đó là một sinh linh bé nhỏ xinh xắn,” bà Smith tiếp lời với giọng điệu có phần bằng lòng hơn giờ phút Stephen đã bị át vía; “chẳng có lời nào để chê trách cô ta cả, mẹ xin thừa nhận. Thỉnh thoảng mẹ vẫn thấy cô ta chưng diện lộng lẫy như ngựa đi chợ phiên, và mẹ rất ngưỡng mộ cô ta vì điều đó. Quả là một tiểu thư hoàn hảo. Nhưng người ta đâu thể cấm mình suy nghĩ được, và giả sử hồi đi học mà cô ta chịu học tính toán thay vì học đánh vần chữ cái thì ví tiền của cô ta đã khá hơn rồi; bởi vì như mẹ đã nói, chẳng có thời đại nào tồi tệ cho những kẻ như cô ta bằng bây giờ đâu.”

“Thôi nào, thôi nào mẹ!” Stephen mỉm cười xoa dịu.

“Nhưng mẹ cứ nói đấy!” mẹ anh đáp lại với vẻ gay gắt. “Mẹ đọc báo không phải là công cốc đâu nhé, và mẹ biết đàn ông ai cũng bước lên một nấc thang nhờ vào hôn nhân cả. Đàn ông tầng lớp của cô ta, nghĩa là mấy tay mục sư ấy, thì cưới con gái các ông địa chủ; địa chủ thì cưới con gái các lãnh chúa; lãnh chúa thì cưới con gái các công tước; công tước thì cưới con gái hoàng hậu. Mọi bậc thang của giới đàn ông đều kết đôi với người ở bậc thang cao hơn; và bậc thang thấp nhất của phụ nữ quý phái thì hoặc là ế chồng, hoặc là phải lấy người ngoài tầng lớp của mình.”

“Nhưng vừa nãy chính mẹ lại nói là——” Stephen cãi lại, không kìm được sự cám dỗ muốn chỉ ra sự mâu thuẫn trong lời nói của mẹ. Rồi cậu khựng lại.

“Nào, ta đã nói gì nào?” Và bà Smith chuẩn bị đôi môi để bước vào một chiến dịch mới.

Stephen thầm hối hận vì đã khơi mào, bởi một trận cuồng phong có thể sẽ nổ ra, nhưng anh buộc phải tiếp lời.

“Vừa nãy chính mẹ bảo là con không nằm ngoài tầng lớp của cô ấy cơ mà.”

“Ừ, đấy, ở đấy! Đúng là cái thói của con; đúng là dòng máu cắt rốn của ta rồi. Mẹ cá là con sẽ bới lông tìm vết mọi điều mẹ nói cho bằng được nếu có thể, Stephen ạ. Con y hệt như cha con ở cái điểm đó; cứ hễ ai bênh vực ai thì con lại bênh người khác trừ mẹ ra. Trong lúc mẹ đang dốc lòng nói năng, trò chuyện, cố gắng và lao tâm khổ tứ vì lợi ích của con, thì con lại cứ lăm lăm chờ chực để bắt bẻ mẹ theo cái kiểu đó đấy. Thế nên đúng là con thuộc tầng lớp của cô ta, nhưng đó là điều mà người nhà CÔ TA SẼ GỌI LÀ cưới lệch tầng lớp đấy. Đừng có mà gây sự cãi cọ nữa, Stephen!”

Stephen giữ im lặng một cách khôn ngoan, và cha anh cũng hùa theo thái độ đó, thế là suốt mấy phút liền chẳng còn nghe thấy âm thanh nào khác ngoài tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc mặt xanh treo lề đường bên vách tường.

“Mẹ chắc chắn một điều,” bà Smith bổ sung bằng một giọng điệu triết lý hơn và như một lời chốt hạ cuối cùng, “nếu vào thời của mẹ mà việc kiếm một ông chồng lại khó khăn trần ai như thời buổi này — khi mà con phải tôn súng một thằng đàn ông như thần thánh để nịnh nọt nó rước con về nhà — thì thà rằng mẹ đi giày đất nhão nhào đất nặn gạch còn hơn là hạ thấp lòng tự tôn của mình xuống để đi lấy chồng, nếu không thì cứ coi như trong chín ổ bánh mì chẳng có nổi một hạt lúa mì nào sất.”

Cuộc tranh luận đến đây là chấm dứt, và vì trời đã khuya, Stephen liền nói lời chào tạm biệt buổi tối với cha mẹ, tình cảm của mẹ anh dành cho anh chẳng hề kém phần nồng nhiệt dẫu vừa mới đấu khẩu xong; bởi vì dẫu bà Smith và Stephen có luôn hùm hạp cãi vã với nhau, họ chẳng bao giờ thù hằn nhau cả.

“Và rất có thể,” Stephen nói, “ngày mai con sẽ rời khỏi đây luôn; con cũng chưa biết nữa. Thế nên nếu con không ghé lại chào trước khi quay về London, thì cũng đừng hòng hoảng hốt lên nhé, được chứ?”

“Nhưng chẳng phải con định ở lại tận hai tuần cơ mà?” mẹ anh hỏi. “Và chẳng phải con được nghỉ trọn một tháng trời sao? Thế hóa ra họ sắp đuổi cổ con đi đấy à?”

“Đâu có chuyện đó. Con có thể ở lại lâu hơn; cũng có thể con sẽ đi. Nếu con đi, tốt nhất là mẹ đừng hé răng nói gì về việc con đã từng ở đây cả, vì lợi ích của cô ấy. Mấy giờ thì xe chở hàng chạy qua ngã rẽ Endelstow thế mẹ?”

“Bảy giờ.”

Và rồi anh rời khỏi họ. Trong thâm tâm, anh nghĩ rằng nếu vị mục sư cho phép anh được đính hôn, được hy vọng vào một mối lương duyên, hay bằng bất cứ cách nào được tơ tưởng đến bóng hình người thương Elfride, anh có thể sẽ ở lại lâu hơn. Còn nếu anh bị cấm ngặt không được tơ tưởng đến chuyện đó nữa, anh quyết định sẽ khăn gói lên đường ngay lập tức. Và viễn cảnh thứ hai, dẫu đối với một tâm hồn trẻ trung đầy hy vọng, vẫn có vẻ là khả năng dễ xảy ra hơn cả.

Stephen đi bộ trở về nhà xứ qua những đồng cỏ y như lúc anh đến, xung quanh vây quanh bởi tiếng nước róc rách du dương chảy qua những con đập nhỏ, ánh trăng dịu dàng khiêm nhường, và hương thơm ngai ngái của làn sương sớm lan tỏa khắp không gian. Đó là khoảng thời gian mà việc ngắm nhìn cảnh vật tự thân nó đã là một sự chiêm nghiệm, và chiêm nghiệm chính là sự bình yên. Stephen vốn không đủ tầm triết gia để tận dụng món quà mà Thiên Nhiên ban tặng ấy. Cấu trúc tâm hồn anh được cấu thành từ những chi tiết vô cùng đơn giản; là một loại tâm chất vốn hiếm hoi vào thuở ban sơ của các nền văn minh, nhưng lại có xu hướng trở nên vô cùng phổ biến khi một quốc gia già cỗi đi, cá tính phai mờ và giáo dục lan rộng; nghĩa là, bộ não của anh có khả năng tiếp thu phi thường nhưng lại chẳng có chút sáng tạo nào đáng kể. Nhanh chóng lĩnh hội bất kỳ loại tri thức nào anh nhìn thấy xung quanh, và sở hữu một khả năng thích ứng uyển chuyển vốn phổ biến ở phụ nữ hơn đàn ông, anh thay đổi màu sắc y như một con tắc kè hoa ngay khi bầu không khí xã hội mà anh hòa nhập vào mang một âm hưởng cao sang và nhân tạo hơn. Anh không có nhiều ý tưởng độc đáo, thế nhưng hầu như chẳng có ý tưởng nào mà dưới sự rèn giũa thích hợp, anh lại không thể tạo ra được một sự đối ứng tương xứng đáng nể.

Đêm nay anh chẳng nhìn thấy gì ở thế giới bên ngoài; còn những gì anh nhìn thấy trong sâu thẳm tâm hồn lại là một sự mỏi mệt cho thể xác. Thế nhưng đối với một nhà quan sát vô tư lự, những tham vọng của anh với Elfride, dẫu có phần hơi vội vã, lại chẳng hề ngớ ngẩn chút nào so với những cuộc hôn nhân thông thường, trừ phi sự gần gũi ngẫu nhiên về mặt huyết thống với những bậc phụ huynh chân chất nhưng thành thực có thể xem là nguyên nhân khiến nó trở nên như vậy.

Đồng hồ điểm mười một giờ khi anh bước chân vào nhà. Elfride đã đợi chờ hầu như chẳng màng nhúc nhích kể từ lúc anh rời đi. Trước khi anh kịp nói lời nào với cô, cô đã bắt gặp ánh mắt anh khi anh bước vào phòng nghiên cứu cùng cha cô. Cô hiểu rằng bằng cách này hay cách khác, anh đã có được buổi trò chuyện riêng tư mà anh hằng mong ước.

Một cơn đau nửa đầu do căng thẳng thần kinh đã bắt đầu hành hạ cô thiếu nữ dễ xúc động này trong suốt thời gian Stephen vắng mặt, và giờ đây cô chẳng thể làm gì khác ngoài việc quay trở lại phòng ngủ của mình như trước. Thay vì nằm xuống, cô lại ngồi thụp xuống bóng tối chẳng thèm khép cửa lại, tim đập thình thịch lắng nghe mọi âm thanh từ dưới nhà vọng lên. Bọn gia nhân đã đi ngủ hết rồi. Cuối cùng cô nghe tiếng hai người đàn ông bước ra khỏi phòng nghiên cứu và băng qua phòng ăn, nơi bữa tối đã bị bỏ lơ nguội ngắt suốt hơn một tiếng đồng hồ. Cánh cửa được để ngỏ, và cô nhận ra rằng bữa ăn, dẫu có thế nào đi nữa, cũng diễn ra giữa cha cô và người yêu mà chẳng có bất kỳ lời bàn nào, ngoại trừ những câu chuyện xã giao tầm phào về dưa chuột với dưa gang, tính bổ dưỡng và cách canh tác của chúng, được thốt lên bằng một giọng điệu cứng nhắc và hình thức. Nó như một điềm báo trước cho sự thất bại.

Chẳng bao lâu sau, Stephen bước lên lầu về phòng ngủ của mình, và gần như ngay lập tức bị theo sau bởi cha cô, người cũng lui về phòng nghỉ đêm. Không có tâm trạng thắp đèn, cô cởi bớt một phần y phục rồi ngồi thừ trên giường, ngập chìm trong những suy nghĩ đau đớn suốt một khoảng thời gian, có lẽ là một tiếng đồng hồ. Rồi đứng dậy để khép cửa phòng trước khi cởi bỏ hoàn toàn quần áo, cô nhìn thấy một vệt sáng hắt qua khoảng hiên lầu. Cửa phòng cha cô đã đóng, và người ta có thể nghe thấy tiếng ông đang ngáy đều đặn. Ánh sáng phát ra từ phòng của Stephen, và những âm thanh nho nhỏ phát ra từ đó cũng thể hiện rõ mồn một anh đang làm gì. Trong sự tĩnh lặng tuyệt đối, cô có thể nghe tiếng đóng nắp hộp và tiếng lách cách của ổ khóa — anh đang cất chiếc hộp đựng mũ. Rồi tiếng nài da siết chặt và tiếng lách cách của một chiếc khóa khác — anh đang khóa chiếc va-li. Với dự cảm xui xẻo nhân lên gấp bội, cô khẽ khàng mở hé cửa phòng, bước về phía phòng anh. Một cảm giác duy nhất bao trùm lấy cô đến phát điên. Stephen, chàng trai tuấn tú và người yêu dấu của cô, sắp sửa rời đi, và cô có thể sẽ chẳng bao giờ gặp lại anh nữa ngoại trừ trong những cuộc gặp gỡ bí mật và buồn tủi — có lẽ là chẳng bao giờ gặp lại. Dù thế nào đi nữa, cô không thể chờ đến sáng hôm sau để nghe kết quả của cuộc gặp gỡ như dự định ban đầu được nữa. Cô vội vác chiếc áo choàng tắm khoác lên người, khẽ gõ nhẹ lên cửa phòng anh và thì thầm: “Stephen!” Anh lập tức ra mở cửa và bước ra ngoài.

“Nói cho em biết đi; liệu chúng ta còn chút hy vọng nào không?”

Anh đáp lại bằng một giọng thì thầm đầy xáo trộn, và một giọt nước mắt chực trào khóe mi dẫu chẳng rơi xuống.

“Anh không được phép tơ tưởng đến một chuyện hoang đường như thế — đó là những gì ông ấy nói. Và ngày mai anh sẽ đi. Lẽ ra anh đã gọi em dậy để nói lời tạm biệt rồi.”

“Nhưng cha đâu có bảo anh phải đi ngay — Ồ Stephen, cha đâu có nói thế phải không?”

“Không; không nói bằng lời. Nhưng anh không thể ở lại được.”

“Ồ, đừng, đừng đi mà! Hãy ra đây nói chuyện với em đi. Chúng ta xuống phòng khách một lát đi; ở đây cha sẽ nghe thấy mất.”

Cô đi trước anh xuống cầu thang, tay cầm ngọn nến nhỏ, trông cao ngòng ngoèo và gầy đét đến bất thường trong chiếc áo choàng dài màu bồ câu mà cô đang mặc. Cô chẳng màng suy nghĩ xem liệu cuộc gặp gỡ nửa đêm trong hoàn cảnh thế này có phải phép hay không. Cô ngỡ rằng bi kịch cuộc đời mình đang bắt đầu, và lần đầu tiên trong đời, cô cảm thấy sự tồn tại của mình có thể có một khía cạnh u ám, cái bóng của nó bao trùm lên và xóa nhòa đi những lằn ranh tinh tế của lễ giáo cùng phép tắc xã giao. Elfride khẽ khàng đẩy cửa phòng khách và cả hai bước vào. Khi cô đã đặt cây nến lên bàn, anh liền vòng tay ôm lấy cô, lau khô những giọt nước mắt trên mắt cô bằng chiếc khăn tay của mình và đặt nụ hôn lên đôi mi ấy.

“Stephen, mọi chuyện chấm hết rồi — tình yêu hạnh phúc đã chấm hết rồi; và từ nay sẽ chẳng còn ánh nắng mặt trời nào nữa đâu!”

“Anh sẽ kiếm thật nhiều tiền, rồi anh sẽ quay lại tìm em, và cưới em. Nhất định anh sẽ làm thế!”

“Ba sẽ không bao giờ nghe về chuyện đó đâu — không bao giờ — không bao giờ hết! Anh không hiểu ba đâu. Em hiểu rõ lắm. Ông ấy hoặc là cực đoan bênh vực cho một chuyện gì đó, hoặc là thành kiến chống lại nó. Lập luận vốn vô tác dụng trước cả hai thứ cảm xúc đó.”

“Không; anh sẽ không nghĩ về ông ấy theo chiều hướng đó đâu,” Stephen nói. “Nếu một thời gian nữa anh xuất hiện trước mặt ông ấy như một người đàn ông có tên tuổi thành danh, ông ấy sẽ chấp nhận anh — anh biết chắc chắn là như thế. Ông ấy không phải là một kẻ tàn nhẫn.”

“Không, ông ấy không tàn nhẫn. Nhưng anh dùng từ ‘một thời gian nữa’, nghe cứ như thể là một khoảng thời gian ngắn ngủi không bằng. Với anh, giữa chốn nhộn nhịp xô bồ và náo nhiệt, có lẽ thời gian trôi qua sẽ tương đối nhanh; ôi, nhưng với em, nó sẽ dài gấp ba lần thực tế! Mỗi mùa hè sẽ kéo dài như một năm — mùa thu như một năm — mùa đông như một năm! Ôi Stephen! Và rồi anh có thể sẽ quên em!”

Quên lãng: đó đã và đang là nỗi đau đớn nhức nhối thực sự của việc chờ đợi đối với một người phụ nữ có trái tim đa tình. Lời trách móc ấy khơi dậy ở Stephen nỗi sợ hãi ngược lại. “Em cũng vậy, em cũng có thể bị thuyết phục để từ bỏ anh, khi thời gian làm cho hình bóng anh phai mờ dần trong trí nhớ của em. Bởi vì, hãy nhớ lấy, tình yêu của em dành cho anh phải được nuôi dưỡng trong bóng tối; sẽ chẳng có những chuyến thăm viếng dài ngày từ anh để nâng đỡ em đâu. Hoàn cảnh sẽ luôn có xu hướng xóa nhòa anh đi.”

“Stephen,” cô nói, ngập tràn trong những nỗi hoài nghi của chính mình và phớt lờ những lời cuối cùng của anh, “ở nơi anh sống có rất nhiều người phụ nữ đẹp — đương nhiên là em biết điều đó — và họ có thể lôi kéo anh rời xa em.” Những giọt nước mắt trào ra thấy rõ khi cô vẽ nên trong tâm trí một bức tranh về sự bội bạc của anh. “Và đó sẽ không phải lỗi của anh,” cô tiếp tục, đăm đăm nhìn vào cây nến với đôi mắt sầu muộn. “Không! Anh sẽ nghĩ rằng gia đình chúng ta không cần anh, và rồi gom luôn cả em vào chung một giuộc với họ. Và sẽ có một khoảng trống trong trái tim anh, rồi sẽ có những kẻ khác được bước vào.”

“Anh không thể, và anh sẽ không bao giờ làm thế. Elfie, đừng mang đầy những dự cảm xô đẩy bi quan thế chứ.”

“Ồ có chứ, họ sẽ làm thế đấy,” cô đáp lại. “Và anh sẽ nhìn ngắm họ, thoạt đầu thì hờ hững chẳng quan tâm, rồi anh sẽ nhìn và cảm thấy hứng thú, và sau một thời gian anh sẽ nghĩ rằng: ‘À, họ rành rẽ mọi thứ về đời sống thành thị, về các buổi tụ hội, các vòng tròn thượng lưu, và cung cách ứng xử của giới quý tộc, còn con bé Elfie tội nghiệp, dẫu người ta có làm rùm beng lên chuyện nó nhận lời yêu mình, thì chẳng biết cái quái gì ngoài một ngôi nhà nhỏ, vài vách đá và một khoảng biển khơi tít tắp đằng xa cả.’ Và rồi anh sẽ càng thấy hứng thú với họ hơn, và họ sẽ bắt anh phải chọn họ thay vì chọn em, cốt là để trày trật hành hạ em vì cái tội ngốc nghếch của em, trong khi họ thì thông minh và căm ghét em. Và em cũng căm ghét họ nữa; vâng, em căm ghét lắm chứ!”

Những lời nói bốc đồng của cô ít nhất cũng đủ sức khắc sâu vào tâm trí anh sự thừa nhận về tính bấp bênh của mọi thứ chưa thành hiện thực. Và tồi tệ hơn cả cái cảm giác chung chung ấy, hiển nhiên là vẫn còn lại nỗi buồn phát sinh từ những đặc thù riêng biệt trong hoàn cảnh của chính anh. Dẫu cho một kết quả mong đợi có xa vời đến đâu, thì bản thân việc đã bước chân vào cái rãnh trượt dẫn đến cái đích đó cũng phần nào khích lệ tinh thần với một cảm giác về sự thành tựu. Giả sử ông Swancourt đã đồng ý cho một cuộc đính hôn dẫu kéo dài tới mười năm đi nữa, Stephen cũng sẽ cảm thấy tương đối phấn chấn khi chờ đợi; họ sẽ cảm thấy rằng mình đang ở đâu đó trên con đường dẫn tới khu vườn của vị thần tình yêu. Thế nhưng, với một khả năng về một thời gian thử thách ngắn hơn, họ thậm chí còn chẳng có lấy một viễn cảnh nào cho sự khởi đầu; điểm số không của hy vọng vẫn còn phải với tới. Ông Swancourt sẽ phải thu hồi những lời nói đáng sợ của mình trước khi việc chờ đợi kết hôn thậm chí có thể bắt đầu. Và đó chính là sự tuyệt vọng.

“Ước gì chúng ta có thể cưới nhau ngay bây giờ,” Stephen lẩm bẩm, như một ảo tưởng hão huyền.

“Em cũng ước vậy,” cô cũng nói, cứ như đang tơ tưởng đến một giấc mơ hão huyền. “Đó là điều duy nhất có ích cho những kẻ yêu nhau!”

“Làm bí mật chắc là được chứ, phải không Elfie?”

“Vâng, làm bí mật chắc là được; làm bí mật quả thực là cách tốt nhất,” cô nói, rồi trầm ngâm tiếp lời: “Tất cả những gì chúng ta muốn là làm sao để hoàn toàn vô hiệu hóa mọi hoàn cảnh trong tương lai có thể đảo lộn dự định tương lai được sống hạnh phúc bên nhau của chúng ta; chứ không phải là bắt đầu được hạnh phúc ngay lúc này.”

“Chính xác,” anh lẩm bẩm với một giọng điệu và cử chỉ y hệt như cô. “Kết hôn rồi chia tay trong bí mật, và tiếp tục sống như chúng ta đang sống bây giờ; cốt là để tước đoạt quyền năng của bất kỳ kẻ nào muốn cấm cản ép buộc em rời xa anh, em yêu ạ.”

“Hoặc ép buộc anh rời xa em, Stephen.”

“Hoặc anh rời xa em. Người ta có thể tưởng tượng ra một sức mạnh của hoàn cảnh đủ lớn để ép bất kỳ người phụ nữ nào trên thế giới này phải kết hôn trái với ý muốn của nàng: nhưng chẳng có áp lực tưởng tượng nào, cho dù là tra tấn hay bỏ đói đi nữa, có thể biến một người phụ nữ đã kết hôn với người mình yêu thành vợ của bất kỳ kẻ nào khác được nữa.”

Thế là cho đến thời điểm này, ý định về một cuộc hôn nhân bí mật ngay lập tức vẫn được cả hai coi như một giả thuyết không thể đứng vững, dùng chỉ để khuây khỏa một khoảnh khắc khốn cùng. Trong khoảng lặng diễn ra ngay sau lời nói cuối cùng của Stephen, một nhận thức đầy mê hoặc, rồi sau đó là một niềm xác tín đầy cám dỗ, bỗng lóe lên trong tâm trí của cả hai. Nhận thức ấy là việc một cuộc hôn nhân ngay lập tức CÓ THỂ được sắp đặt; còn niềm xác tín là việc hành động đó, bất chấp sự liều lĩnh, những hệ quả sâu không lường hết được, và sự dối trá của nó, sẽ được cả hai ưu tiên lựa chọn hơn là thứ cuộc sống mà họ buộc phải gánh chịu dưới bất kỳ điều kiện nào khác.

Chàng thanh niên lên tiếng trước, và giọng anh run rẩy vì tầm vóc to lớn của ý tưởng mà anh đang ấp ủ. “Chúng ta sẽ cảm thấy kiên cường biết bao, Elfride! cứ tiếp bước trên con đường riêng của mỗi người như trước, mà chẳng còn nỗi sợ hãi về việc cuối cùng sẽ phải chia lìa! Ôi Elfride! hãy nghĩ về điều đó đi; hãy nghĩ về nó xem!”

Quả thực tình yêu của cô thiếu nữ dành cho Stephen đã được sự chống đối của người cha thổi bùng lên một ngọn gió làm cho nó bùng cháy với cường độ gấp mười lần so với khi để mặc nó một mình. Chưa từng có những điều kiện nào thuận lợi hơn thế để biến một cảm xúc cảm mến thoáng qua của một thiếu nữ dành cho một gương mặt trẻ trung tuấn tú — một thứ cảm xúc bắt rễ từ sự thiếu trải đời và được nuôi dưỡng bởi cảnh sống u tịch — thành một thứ đam mê hoang dại thiếu suy nghĩ đủ nồng nhiệt cho bất kỳ chuyện gì. Tất cả các yếu tố của một sự phát triển như thế đều hội tụ ở đó, trong đó yếu tố chính yếu là sự tuyệt vọng — một thành phần luôn luôn cần thiết để hoàn thiện hỗn hợp các cung bậc cảm xúc hợp lại dưới tên gọi yêu đến cuồng dại.

“Chẳng mấy chốc nữa chúng ta sẽ nói cho ba biết phải không anh?” cô rụt rè hỏi. “Sẽ chẳng có ai khác cần phải biết cả. Lúc đó ông ấy sẽ bị thuyết phục rằng trái tim không thể đem ra đùa cợt; tình yêu được khích lệ sẽ sẵn sàng đơm hoa, tình yêu bị cản trở sẽ sẵn sàng lụi tàn, chỉ trong khoảnh khắc. Stephen, chẳng lẽ anh không nghĩ rằng nếu những cuộc hôn nhân đi ngược lại sự chấp thuận của cha mẹ có lúc nào đó là chính đáng, thì đó chính là khi những người trẻ tuổi đã được ưu ái đến một mức độ nào đó, như chúng ta đây, rồi bỗng nhiên sự ưu ái đó bị rút lại một cách phũ phàng hay sao?”

“Đúng vậy. Sự việc không giống như thể từ đầu chúng ta đã hành động ngược lại với mong muốn của ba em. Em hãy nghĩ mà xem, Elfie, mới sáu tiếng đồng hồ trước thôi ông ấy đã tỏ ra dễ dãi với anh biết bao! Ông ấy quý mến anh, ca ngợi anh, chưa từng phản đối việc anh ở một mình với em.”

“Em tin chắc là ba PHẢI quý anh lúc này,” cô kêu lên. “Và nếu ông ấy phát hiện ra rằng anh đã thuộc về em một cách không thể cứu vãn, ông ấy sẽ phải thừa nhận điều đó và giúp đỡ chúng ta. Ôi Stephen, Stephen,” cô lại bật khóc nức nở, khi ký ức về đống hành lý đang đóng gói lại ùa về trong tâm trí cô, “em không thể chịu nổi cảnh anh rời đi thế này đâu! Quá ư là khủng khiếp. Tất cả những gì em hằng mong mỏi trong đau khổ lại bị bóp nghẹt đến chết như thế này đây!”

Stephen đỏ bừng mặt vì một phút bốc đồng. “Anh sẽ không để em phải hoài nghi — và ý nghĩ về em sẽ không bao giờ là một nỗi đau khổ đối với anh!” anh nói. “Chúng ta sẽ là vợ chồng trước khi phải chia tay nhau một thời gian dài!”

Cô giấu khuôn mặt mình vào vai anh. “Làm bất cứ điều gì để CHẮC CHẮN!” cô thì thầm.

“Anh đã không thích đề xuất điều đó ngay lập tức,” Stephen tiếp lời. “Nó có vẻ với anh — bây giờ anh vẫn thấy thế — giống như đang cố giăng bẫy em — một cô gái có gia thế tốt hơn anh.”

“Không phải thế đâu, thật đấy! Và em có gia thế tốt hơn thật sao? Có ích gì khi nhắc đến chuyện ‘đã từng’ nữa chứ? Chúng ta có thể đã từng là gì đó trong quá khứ; còn bây giờ chúng ta chẳng là gì cả.”

Rồi họ thì thầm với nhau dài lâu và đầy khẩn khoản; Stephen ngập ngừng đề xuất kế hoạch này đến kế hoạch nọ, còn Elfride thì chỉnh sửa chúng, với những nhịp thở dồn dập, gò má hừng hực sắc đỏ và đôi mắt sáng rực lên một cách bất thường. Đã hai giờ sáng khi mọi sự sắp xếp cuối cùng mới được định đoạt xong xuôi.

Cô dặn anh rời khỏi mình, đưa cho anh ngọn nến để anh đi lên phòng riêng. Họ chia tay với thỏa thuận sẽ không gặp lại nhau vào buổi sáng hôm sau. Sau khi cửa phòng anh khép lại được một lúc, anh nghe tiếng cô khẽ khàng lướt đi bước vào phòng mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.