Đôi Mắt Biếc

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

❊ ❊ ❊

“Chàng chẳng biết gì thêm về thiếp, hỡi tình nhân!”

Stephen Smith quay lại thăm nhà xứ Endelstow theo đúng lời hứa. Cậu có một lý do hoàn toàn mang tính nghệ thuật cho chuyến đi này, dẫu hình như chẳng ai đòi hỏi lý do ấy. Sáu mươi mốt đoạn ghế cổ, mang nghệ thuật chạm trổ tinh xảo thế kỷ mười lăm, đang mục nát nhanh chóng ở một gianngách của nhà thờ; và việc phác họa lại những đường nét đã bị mọt ăn của chúng trước khi chúng bị tàn phá đến mức không thể nhận ra trong cơn lốc của cái gọi là trùng tu đã trở thành một việc cần thiết.

Cậu bước vào nhà khi mặt trời lặn, và thế giới lại trở nên dễ chịu đối với hai bóng người tóc vàng. Dẫu vậy, một thoáng hụt hẫng vẫn thoáng qua lòng Elfride khi cô tình cờ phát hiện ra rằng cậu không phải phóng xe hỏa tốc từ Luân Đôn đến ngay phút ấy, mà đã tới vùng lân cận từ tối hôm trước. Sự ngạc nhiên hẳn đã đi kèm với cảm giác ấy, nếu cô không nhớ ra rằng có vài khách du lịch đang lảng vảng quanh vùng bờ biển vào mùa này, và Stephen cũng có thể chọn làm điều tương tự.

Tối hôm đó, họ chẳng làm gì ngoài việc trò chuyện, ông Swancourt bắt đầu gặng hỏi vị khách của mình một cách kỹ lưỡng nhưng đầy tình cha con, và với thiện ý, về những hy vọng cũng như viễn cảnh từ nghề nghiệp mà cậu đã chọn. Stephen đáp lại bằng những câu trả lời mơ hồ. Hôm sau trời mưa. Đến tối, khi Elfride đã trải qua hai mươi bốn tiếng hoàn toàn nhen nhóm lại ngọn lửa nhiệt tình của người ngưỡng mộ mình, một ván cờ vua được đề xuất giữa hai người.

Ván cờ có giá trị riêng trong việc thúc đẩy sự phát triển tương lai của họ.

Elfride sớm nhận ra đối thủ của mình chỉ là kẻ mới học chơi. Tiếp đến, cô để ý thấy cậu có một cách cầm quân rất kỳ lạ khi nhập thành hoặc bắt quân. Trước đó, cô hẳn đã cho rằng mọi người chơi đều phải thực hiện thao tác giống hệt nhau; hành động khác biệt của cậu đã dạy cho cô biết rằng tất cả những người chơi thông thường, những người học chơi bằng mắt, đều vô thức chạm vào các quân cờ theo một khuôn mẫu nhất định. Ấn tượng về sự kỳ lạ không thể diễn tả trong cách chạm tay của Stephen lên đến đỉnh điểm bằng lời nói khi cô nhìn thấy cậu, lúc bắt một con tượng của cô, liền đẩy nó sang một bên bằng quân cờ đi bắt thay vì nhấc nó lên như một bước đệm trước khi di chuyển.

“Anh cầm quân cờ lạ làm sao ấy, anh Smith!”

“Vậy sao? Tôi xin lỗi vì điều đó.”

“Ồ không—đừng xin lỗi; đó đâu phải là chuyện to tát gì để mà buồn. Nhưng ai đã dạy anh chơi vậy?”

“Không ai cả, thưa cô Swancourt,” cậu nói. “Tôi tự học từ một cuốn sách do người bạn của tôi là anh Knight mượn cho, người đàn ông cao quý nhất trên đời.”

“Nhưng anh từng thấy người ta chơi chứ?”

“Tôi chưa từng thấy một ván cờ nào được chơi bao giờ. Đây là lần đầu tiên tôi có cơ hội chơi với một đối thủ bằng xương bằng thịt. Tôi đã nghiên cứu nhiều ván cờ qua sách vở, và tìm hiểu lý do của các nước đi khác nhau, nhưng chỉ có vậy thôi.”

Đây là lời giải thích đầy đủ cho thói quen của cậu; nhưng việc một người có mong muốn chơi cờ lại lớn lên mà không thể nhìn thấy hoặc tham gia một ván cờ nào khiến cô ngạc nhiên không ít. Cô trầm ngâm suy nghĩ về hoàn cảnh đó một lúc, nhìn đăm đăm vào khoảng không và làm chậm trễ ván đấu.

Ông Swancourt đang ngồi với đôi mắt dán vào bàn cờ, nhưng bề ngoài có vẻ đang suy nghĩ về những chuyện khác. Nửa như nói một mình, trong lúc chờ nước đi của Elfride, ông lẩm bẩm:

“‘Quae finis aut quod me manet stipendium?’”

Stephen đáp ngay lập tức:

“‘Effare: jussas cum fide poenas luam.’”

“Tuyệt vời—nhanh chóng—thật là thú vị!” ông Swancourt nói với vẻ đầy cảm xúc, đập mạnh tay xuống bàn và làm cho ba con tốt cùng một con mã nhảy tung qua vạch giới hạn vì chấn động. “Ta đang ngẫm nghĩ về những câu thơ ấy như thể áp dụng cho một con đường kỳ lạ mà ta đang dẫn dắt—nhưng thế là đủ rồi. Ta rất hài lòng về cậu, anh Smith, vì hiếm khi ở chốn thâm sơn cùng cốc này ta lại gặp được một người vừa đủ tư cách quý tộc và học thức để tiếp nối một câu trích dẫn, dù nó có sáo rỗng đến đâu đi nữa.”

“Tôi cũng áp dụng những lời ấy cho chính mình,” Stephen điềm tĩnh nói.

“Cậu ư? Người mà ta nghĩ là ít có khả năng làm điều đó nhất trên đời.”

“Nào,” Elfride nũng nịu lẩm bẩm, len lỏi giữa hai người đàn ông, “hãy kể cho tôi nghe tất cả đi nào. Nào, dịch đi, dịch đi chứ!”

Stephen nhìn thẳng vào khuôn mặt cô, chậm rãi cất lời, bằng một giọng chứa đựng tầng ý nghĩa xa xăm dường như có phần già dặn trước tuổi đối với một người còn quá trẻ:

“Quae finis ĐIỀU GÌ SẼ LÀ KẾT THÚC, aut HOẶC, quod stipendium KHOẢN TIỀN PHẠT NÀO, manet me ĐANG CHỜ ĐỢI TÔI? Effare HÃY NÓI RA; luam TÔI SẼ TRẢ, cum fide TRONG SỰ TÍN THÀNH, jussas poenas HÌNH PHẠT ĐƯỢC YÊU CẦU.”

Vị mục sư, người đã lắng nghe với đôi môi mím lại đầy vẻ săm soi trước bài đọc thuộc lòng giống như học sinh này, và vì thính lực kém nên đã bỏ lỡ âm điệu chân thực rõ rệt trong những từ tiếng Anh của Stephen, lúc này mới ngập ngừng nói: “Nhân tiện đây, anh Smith (tôi biết cậu sẽ bỏ qua sự tò mò của tôi), dẫu bản dịch của cậu hoàn toàn chính xác và sát nghĩa, cậu lại có một cách phát âm tiếng Latinh đối với tôi có vẻ vô cùng kỳ lạ. Không phải là phát âm của một ngôn ngữ chết thì rất quan trọng; thế nhưng các trọng âm và trường độ của cậu lại phát ra những âm thanh kỳ cục lợm đối với tai tôi. Ban đầu tôi nghĩ rằng cậu đã tiếp thu cách phát âm các nguyên âm ấy từ một số trường đại học ở miền bắc; nhưng không thể như thế với các trường độ được. Điều tôi định hỏi là, liệu người thầy dạy cổ văn của cậu có thể nào là một người tốt nghiệp Oxford hoặc Cambridge không?”

“Vâng; thầy ấy là người Oxford—là Nghiên cứu sinh của St. Cyprian’s.”

“Thật sao?”

“Ồ vâng; không có gì phải nghi ngờ cả.”

“Đó là điều kỳ lạ nhất mà tôi từng nghe!” ông Swancourt thốt lên, giật mình kinh ngạc. “Rằng học trò của một con người như thế——”

“Người đàn ông xuất sắc và thông minh nhất nước Anh!” Stephen đầy nhiệt huyết kêu lên.

“Rằng học trò của một người như thế lại phát âm tiếng Latinh theo cách mà cậu phát âm thì quả là vượt ngoài mọi điều tôi từng nghe. Thầy ấy đã dạy cậu trong bao lâu?”

“Bốn năm.”

“Bốn năm!”

“Chuyện đó không có gì là lạ khi tôi giải thích,” Stephen vội vã nói. “Mọi việc diễn ra theo cách này—qua thư tín. Tôi gửi cho thầy các bài tập và bài dịch hai lần một tuần, và hai lần một tuần thầy gửi trả lại cho tôi đã được sửa chữa, kèm theo những lời hướng dẫn ghi bên lề. Đó là cách tôi học tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp, dẫu nó chỉ có thế. Thầy không phải chịu trách nhiệm về cách ngắt nhịp của tôi. Thầy chưa từng nghe tôi ngắt nhịp một dòng thơ nào.”

“Một trường hợp mới lạ, và là một tấm gương kiên trì độc nhất vô nhị!” vị mục sư thốt lên.

“Là ở phía thầy, chứ không phải ở tôi. À, Henry Knight là một người hiếm có trong vạn người! Tôi nhớ có lần thầy đã nói chuyện với tôi về chính chủ đề phát âm này. Thầy nói rằng, rất tiếc nuối thay, thầy thấy trước một thời điểm mà mọi người thậm chí sẽ phát âm cả những từ thông thường trong chính ngôn ngữ của mình theo cách mà họ cho là đúng tai họ, và chẳng bị coi là tồi tệ hơn vì điều đó; rằng thời đại của lời nói đang lùi dần, nhường chỗ cho thời đại của chữ viết.”

Cả Elfride lẫn cha cô đều chăm chú chờ đợi Stephen nói tiếp phần có vẻ là thú vị nhất trong câu chuyện, đó là những hoàn cảnh nào đã buộc phải áp dụng một phương pháp giáo dục bất thường như vậy. Nhưng không có lời giải thích nào thêm được đưa ra; và qua cách chàng trai tập trung toàn bộ tâm trí vào bàn cờ, họ thấy rằng cậu rất muốn gác lại chủ đề này.

Ván cờ tiếp tục diễn ra. Elfride chơi theo trí nhớ; Stephen chơi bằng tư duy. Cô cho rằng thật là tàn nhẫn khi chiếu tướng cậu sau từng ấy công sức. Và cô đã làm gì thiếu trung thực vì lòng trắc ẩn của mình? Để mặc cậu chiếu tướng cô. Ván thứ hai nối tiếp; và bản thân hoàn toàn thờ ơ với kết quả (khả năng chơi của cô vượt mức trung bình ở phụ nữ, và cô thừa biết điều đó), cô lại để cho cậu chiếu tướng một lần nữa. Ván cờ cuối cùng, nơi cô chọn ván khai cuộc Muzio gambit, kết thúc bằng chiến thắng thuộc về Elfride ở nước đi thứ mười hai.

Stephen ngước nhìn lên với vẻ ngờ vực. Trái tim cậu đang đập mạnh hơn cả của cô, dẫu tim cô cũng đã đập nhanh hơn khi cô thực sự bắt tay vào ván đấu cuối cùng này. Ông Swancourt đã rời khỏi phòng.

“Nãy giờ em đùa cợt với anh sao!” cậu thốt lên, mặt đỏ bừng. “Em đã không chơi hết sức mình ở hai ván đầu phải không?”

Sự tội lỗi hiện rõ trên khuôn mặt Elfride. Stephen biến thành hiện thân của sự phiền muộn và buồn bã, điều này, dù mang lại cho cô chút thích thú trong khoảnh khắc, nhưng ngay giây sau lại khiến cô hối hận vì sai lầm mình đã mắc phải.

“Anh Smith, xin hãy tha thứ cho em!” cô ngọt ngào nói. “Bây giờ em mới thấy, dù ban đầu không nhận ra, rằng việc em làm trông giống như sự coi thường tài nghệ của anh. Nhưng quả thực, em không hề có ý đó. Đứng trước lương tâm, em không thể giành chiến thắng ở ván thứ nhất và thứ hai trước một người phải chiến đấu trong hoàn cảnh bất lợi và kiên cường đến thế.”

Cậu hít một hơi thật dài, và cay đắng lẩm bẩm, “À, em giỏi giang hơn anh. Em làm được mọi thứ—còn anh chẳng làm được gì cả! Ôi cô Swancourt!” cậu bất chợt thốt lên đầy hoang dại, lồng ngực nghẹn ngào, “Anh phải thổ lộ với em rằng anh yêu em biết bao! Suốt những tháng ngày vắng bóng em, anh đã tôn thờ em.”

Cậu chồm dậy khỏi ghế như một chàng trai bốc đồng vốn dĩ, luồn sang ngồi cạnh cô, và gần như trước khi cô kịp ngờ tới, vòng tay cậu đã ôm lấy eo cô, và hai lọn tóc quấn quýt vào nhau.

Tình yêu đơm hoa kết trái quá đỗi mới lạ đối với Elfride, khiến cô run rẩy cả vì sự mới mẻ của cảm xúc lẫn chính bản thân cảm xúc ấy. Rồi cô đột nhiên lùi lại, đứng thẳng người dậy, bực bội vì đã chịu để cho cái ôm chớp nhoáng của cậu lấn tới mà không kháng cự. Cô tự nhủ phải xem biểu hiện này là quá vội vã.

“Anh không được bắt đầu những chuyện như thế này,” cô nói với vẻ kiêu kỳ đầy giả trôi nhưng quá đỗi ngây ngô. “Và—anh không được làm thế nữa—và bố sắp đến rồi.”

“Hãy để anh hôn em—chỉ một cái thật khẽ thôi,” cậu nói bằng sự tinh tế thường lệ, và hoàn toàn không nhận ra vẻ giả vờ trong thái độ của cô.

“Không; một cái cũng không.”

“Chỉ lên má em thôi nhé?”

“Không.”

“Trán thì sao?”

“Chắc chắn là không.”

“Vậy là em đã để ý ai khác rồi ư? À, anh biết ngay mà!”

“Em chắc chắn là không.”

“Cũng chẳng màng đến anh sao?”

“Làm sao em biết được chứ?” cô ngây thơ đáp, sự ngây thơ nằm ngay ở những nét phác thảo chung trong thái độ và lời nói của cô. Có âm hưởng nửa cung trong giọng nói và biểu cảm nửa kín nửa hở trong ánh mắt cho những ai rành rẽ thấy rằng lớp băng phòng thủ mỏng manh đến nhường nào trong những thời điểm thế này.

Tiếng bước chân vang lên. Ông Swancourt lúc đó bước vào phòng, và cuộc trò chuyện riêng tư của họ chấm dứt.

Ngày hôm sau màn thổ lộ nửa vời này, ông Swancourt đề xuất một chuyến đi dạo bằng xe ngựa đến các vách đá phía bên kia vịnh Targan, cách đó chừng ba bốn dặm.

Nửa tiếng trước giờ khởi hành, một tiếng động lớn vang lên ở sân sau, và chẳng mấy chốc Worm bước vào, miệng lẩm bẩm nửa là với đời, nửa là với chính mình, và đôi chút với những người nghe:

“Ấy đấy, chắc chắn rồi! Cái vụ rán cá ấy rồi sẽ là dấu chấm hết cho William Worm thôi. Sáng nay chúng lại giở trò nữa rồi—y hệt như mọi khi—xèo, xèo, xèo!”

“Đầu óc anh lại dở chứng nữa à, Worm?” ông Swancourt nói. “Tiếng động gì chúng ta vừa nghe ngoài sân thế?”

“Vâng thưa ngài, tôi là một kẻ ốm yếu rệu rã; và tiếng rán cá cứ vang lên trong cái đầu tội nghiệp của tôi suốt cả đêm dài lẫn sáng nay như mọi khi; và tôi mụ mẫm đến mức làm rơi một khúc củi bắc ngang trục chiếc xe ngựa pony, làm nó gãy vụn ra. ‘Ừ,’ tôi tự nhủ, ‘tôi cảm thấy nó như thể chính là chiếc xe của mình vậy; và dẫu tôi đã gây ra chuyện đó, và tiền trợ cấp xứ đạo là số phận của tôi nếu tôi rời khỏi đây, có lẽ tôi cũng độc lập như bất kỳ ai ở đây và ở đó.’”

“Trời ạ, trục xe ngựa bị gãy rồi!” Elfride kêu lên. Cô thất vọng: còn Stephen thì thất vọng gấp đôi. Vị mục sư tỏ ra bực bội hơn mức cần thiết đối với một tai nạn, khiến Stephen vừa ngạc nhiên vừa không khỏi bất an. Cậu không ngờ sự cứng rắn tiềm ẩn ấy lại có thể tồn tại song hành cùng tính thẳng thắn và tốt bụng của ông Swancourt.

“Cậu sẽ không phải thất vọng đâu,” cuối cùng vị mục sư lên tiếng. “Quãng đường ấy quá dài để các cậu đi bộ. Elfride có thể phi ngựa pony xuống, và cậu, Smith, hãy cưỡi con ngựa già của ta.”

Elfride thốt lên đầy đắc thắng, “Anh chưa từng thấy em cưỡi ngựa bao giờ—Ồ, anh phải xem đấy!” Cô nhìn Stephen và đọc được suy nghĩ của cậu ngay lập tức. “À, anh không biết cưỡi ngựa phải không, anh Smith?”

“Tiếc là tôi không biết.”

“Tưởng tượng xem một người đàn ông lại không biết cưỡi ngựa!” cô nói có phần xấc xược.

Vị mục sư ra tay giải cứu cậu. “Chuyện đó phổ biến lắm; nó còn phải học những bài học khác nữa. Giờ ta đề xuất thế này: để Elfride cưỡi ngựa, còn cậu, anh Smith, hãy đi bộ bên cạnh con bé.”

Sắp xếp này được Stephen đón nhận với niềm vui thầm kín. Nó dường như hội tụ tất cả những lợi thế của một buổi tản bộ chậm rãi và dài hơi cùng Elfride, mà không lo sợ khả năng cuộc vui bị phá hỏng do cô cảm thấy mệt mỏi. Con ngựa pony được yên cương và dắt ra.

“Nào, anh Smith,” nữ chủ nhân ra lệnh, bước xuống lầu và xuất hiện trong bộ đồ cưỡi ngựa, lúc nào cũng vậy, mỗi khi thay trang phục cô trông như một phiên bản mới của một cuốn sách tuyệt vời, “anh có một nhiệm vụ phải hoàn thành hôm nay. Đôi khuyên tai này là món cưng yêu nhất của tôi; nhưng ngặt một nỗi là móc của chúng ngắn quá nên rất dễ rơi nếu tôi lắc đầu mạnh, và khi cưỡi ngựa tôi không thể dồn tâm trí vào chúng được. Thật là ơn huệ lớn lao nếu anh dán mắt vào chúng, nhớ đến chúng từng phút trong ngày, và báo cho tôi ngay lập tức nếu tôi đánh rơi cái nào. Chúng đã thoát chết trong gang tấc biết bao lần rồi phải không, Unity?” cô tiếp tục hỏi cô hầu phòng đang đứng ở cửa.

“Vâng thưa cô, đúng thế ạ!” Unity đáp với đôi mắt tròn xoe đầy thương cảm.

“Có bận ở ngoài ngõ là tôi tìm thấy một chiếc,” Elfride hồi tưởng kể tiếp.

“Và rồi ở cạnh cái cổng dẫn vào khoảnh Tám Mươi Mẫu,” Unity hùa theo.

“Và rồi trên tấm thảm trong phòng tôi,” Elfride vui vẻ tiếp lời.

“Và rồi nó tòng teng trên đường thêu váy của cô đấy thưa cô; rồi nó lọt xuống tận sau lưng cô nữa cơ mà, thưa cô, phải không ạ? Ồ, lúc ấy cô hoảng hốt làm sao ấy, thưa cô! cho đến khi tìm thấy nó!”

Stephen đỡ lấy bàn chân nhỏ nhắn của Elfride trên lòng bàn tay: “Một, hai, ba, lên nào!” cô nói.

Đáng tiếc là mọi chuyện không suôn sẻ như vậy. Cậu chao đảo và nhấc bổng lên, con ngựa lùi sang một bên; và cuối cùng Elfride bị hạ xuống đất mạnh hơn mức dễ chịu một chút. Smith tỏ vẻ ăn năn hối lỗi.

“Không sao đâu,” vị mục sư khích lệ; “thử lại đi! Đó là một kỹ năng nhỏ đòi hỏi chút ít luyện tập, mặc dù trông có vẻ dễ dàng. Đứng sát vào đầu con ngựa hơn nữa đi, anh Smith.”

“Thật tình, tôi sẽ không để anh ấy thử lại lần nữa đâu,” cô nói với một chút phẫn nộ thoáng qua vô cùng nhỏ nhặt. “Worm, lại đây giúp tôi lên yên.” Worm bước tới, và chớp mắt cô đã ngồi vững trên yên ngựa.

Rồi họ khởi hành, đi một quãng đường trong im lặng, bầu không khí oi bức của thung lũng thỉnh thoảng được quét qua bởi ngọn gió mát thổi luồn lách dọc theo những khe núi dẫn từ biển lên.

“Tôi đoán rằng,” Stephen nói, “một người đàn ông vừa không thể tự ngồi trên yên ngựa vừa chẳng giúp nổi người khác lên yên thì có vẻ là một gánh nặng vô dụng; nhưng, cô Swancourt, tôi sẽ học làm tất cả những điều đó vì cô; tôi sẽ học thật đấy.”

“Điều kỳ lạ ở anh,” cô nói, với giọng điệu giáo điều thích hợp của một nữ kỵ mã dành cho một kẻ đi bộ tối tăm muộn màng, “đó là sự hiểu biết của anh về một số thứ lại kết hợp với sự thiếu hiểu biết của anh về những thứ khác.”

Stephen ngước đôi mắt đầy khẩn khoản nhìn cô.

“Cô biết đấy,” cậu nói, “chỉ đơn giản là vì có quá nhiều thứ khác phải học trong thế giới rộng lớn này nên tôi không bận tâm đến mảng kiến thức cụ thể đó. Tôi nghĩ nó sẽ vô ích với tôi; nhưng giờ thì tôi không nghĩ vậy nữa. Tôi sẽ học cưỡi ngựa, và mọi thứ liên quan đến nó, bởi vì khi đó cô sẽ quý mến tôi hơn. Cô có bớt quý tôi chút nào vì chuyện này không?”

Cô liếc ngang nhìn cậu với sự suy ngẫm đầy săm soi nhưng mang sắc thái dịu dàng.

“Mình trông có giống LA BELLE DAME SANS MERCI không nhỉ?” cô bỗng dưng cất lời, chưa vội trả lời câu hỏi của cậu. “Hãy tưởng tượng chính anh đang nói thế này, anh Smith:

‘Ta đặt nàng lên con tuấn mã nhịp nhàng,

Và suốt ngày chẳng ngó ngàng chi khác,

Nàng cứ nghiêng đầu sang một bên và hát,

Khúc ca của loài tiên,

Nàng tìm cho ta những rễ cây ngọt lịm hồn nhiên,

Cùng mật rừng và sương mai tựa man-na;’”

và cô ấy chỉ làm có bấy nhiêu thôi.”

“Không, không,” chàng trai khẽ khàng đáp, gương mặt ửng đỏ.

“‘Và chắc chắn bằng ngôn từ kỳ lạ nàng thưa,

Rằng thiếp yêu chàng tha thiết.’”

“Không phải thế đâu,” cô nhanh chóng đáp lại. “Nhìn tôi phi nước đại đây này. Nào, Pansy, đi thôi!” Và Elfride phóng đi; còn Stephen ngắm nhìn vóc dáng mảnh mai của cô thu nhỏ lại bằng kích thước một chú chim khi cô chìm khuất vào khoảng không xa xăm—mái tóc tung bay trong gió.

Cậu tiếp tục bước đi theo hướng đó, và trong một khoảng thời gian khá lâu chẳng thấy bóng dáng cô quay về đâu. Chẳng khác nào một đóa hoa thiếu vắng ánh mặt trời, cậu ngồi phịch xuống một phiến đá, và suốt mười lăm phút chẳng có lấy một âm thanh tiếng ngựa hay tiếng người nào vang lên. Rồi Elfride và Pansy xuất hiện trên ngọn đồi trong một nhịp kiệu tròn đều.

“Thật là một chuyến phi nước đại sảng khoái làm sao!” cô nói, gương mặt ửng hồng và đôi mắt ánh lên rạng rỡ. Cô quay đầu ngựa lại, Stephen đứng dậy, và họ lại tiếp tục hành trình.

“Nào, anh Smith, anh có điều gì muốn nói với tôi sau quãng thời gian vắng bóng dài đằng đẵng vừa rồi không?”

“Em có nhớ câu hỏi mà tối qua em chưa thể trả lời chính xác—rằng anh có ý nghĩa với em hơn bất kỳ ai khác không?” cậu nói.

“Bây giờ em cũng chưa thể trả lời chính xác được.”

“Tại sao em lại không thể?”

“Vì em không biết liệu anh có ý nghĩa với em hơn bất kỳ ai khác hay không.”

“Có chứ, thực sự là có đấy!” cậu thốt lên bằng một giọng đầy trân trọng tột cùng, đồng thời lướt sang bên cạnh và nhìn vào mắt cô.

“Mắt đối mắt,” cậu đầy chơi vơi lẩm bẩm; và cô e thẹn tuân theo, nhìn đăm đăm trở lại vào đôi mắt cậu.

“Và tại sao môi lại không chạm môi nhỉ?” Stephen táo bạo tiếp lời.

“Không, dứt khoát là không. Ai đó có thể nhìn thấy; và thế thì có mà chết mất. Anh có thể hôn tay em nếu muốn đấy.”

Cậu bày tỏ qua ánh mắt rằng việc hôn một bàn tay qua lớp găng, lại còn là găng tay cưỡi ngựa, thì chẳng có gì gọi là thú vị lớn trong hoàn cảnh này.

“Thế thì thôi vậy; em sẽ tháo găng tay ra. Không phải một bàn tay trắng đẹp sao? À, anh lại chẳng muốn hôn nữa rồi, và bây giờ thì anh đừng hòng được hôn nhé!”

“Nếu anh không làm thế, nguyện cầu cho anh chẳng bao giờ được hôn thêm lần nào nữa, hỡi nàng Elfride khắc nghiệt! Em biết là anh nghĩ về em nhiều hơn những gì anh có thể nói; rằng em là nữ hoàng của lòng anh. Anh sẵn sàng chết vì em, Elfride ạ!”

Sắc đỏ rực lại tràn ngập đôi má cô, và cô đăm đăm nhìn cậu đầy suy tư. Khoảnh khắc ấy đối với Elfride mới kiêu hãnh làm sao! Lần đầu tiên trong đời, cô đang thống trị một trái tim bằng thứ quyền lực chuyên chế tuyệt đối.

Stephen lén lút chộp lấy bàn tay cô.

“Không; em không chịu đâu, không chịu đâu!” cô ngoan cố nói; “và anh không được đánh úp em như thế chứ.”

Một cuộc giằng co nhè nhẹ diễn ra để tranh giành quyền sở hữu hoàn toàn bàn tay hằng ao ước, trong đó sự bồng bột của tuổi thiếu niên nổi bật hơn hẳn vẻ trang nghiêm của người trưởng thành. Rồi Pansyâm ỉ chuyển động. Elfride lấy lại tư thế và sực nhớ ra chính mình.

“Anh cứ làm em cư xử chẳng ra sao cả!” cô kêu lên, với một giọng điệu vừa không hẳn là vui vẻ cũng chẳng phải giận dữ, mà mang cả hai tâm trạng. “Em không nên cho phép một trò đùa nghịch ngợm như thế! Bây giờ chúng ta lớn cả rồi, đâu còn hợp với mấy chuyện đó nữa.”

“Hy vọng em không nghĩ anh là kiểu—kiểu đàn ông thích sấn sổ bám riết lấy người khác,” cậu nói với giọng ăn năn, nhận thức được rằng bản thân mình cũng vừa đánh mất chút ít phong độ qua hành động vừa rồi.

“Anh quá ư suồng sã; và em không thể chấp nhận điều đó được! Xét đến khoảng thời gian ngắn ngủi chúng ta quen biết nhau, anh Smith, anh tỏ ra quá lố bịch rồi đấy. Anh nghĩ em chỉ là một cô gái nhà quê, nên đối xử với em thế nào cũng được chứ gì!”

“Anh xin lỗi cô Swancourt, anh tuyệt đối không có ý định cợt nhả nào trong đầu. Anh chỉ muốn đặt một nụ hôn ngọt ngào—trang nghiêm lên tay em; chỉ có vậy thôi.”

“Đấy, lại bắt đầu giở trò sấn sổ nữa rồi kìa! Và anh không được nhìn thẳng vào mắt em như thế,” cô nói, lắc đầu với cậu, rồi phi kiệu tiến lên trước vài bước. Cứ thế cô dẫn đường đi ra khỏi con hẻm và băng qua mấy cánh đồng theo hướng về phía những vách đá. Tại ranh giới của những cánh đồng giáp biển, cô bày tỏ mong muốn xuống ngựa. Con ngựa được buộc vào một cái cọc, và cả hai cùng đi theo một lối mòn ngoằn ngoèo, cuối cùng dẫn đến một mỏm đá phẳng chạy vòng qua mặt vách đá xanh đen khổng lồ ở độ cao lưng chừng giữa mặt biển và đỉnh chót vót. Ở đó, trải dài tít tắp ngay phía dưới và trước mặt họ là đại dương vô tận; ở đó, trên những mỏm đá tách biệt, là những con mòng biển trắng đang la hét, dường như lúc nào cũng chực đậu xuống, nhưng rồi lại cứ bay vút qua. Bên phải và bên trái là dãy những đỉnh núi lởm chởm zic-zac bị bão táp xé rách, tạo nên một chuỗi kéo dài đến đỉnh núi ngay dưới chân họ.

Phía sau chàng trai và thiếu nữ là một hốc đá và chỗ ngồi đầy mời gọi, được hình thành một cách tự nhiên trong khối đá nhô ra, đủ rộng cho hai hoặc ba người ngồi. Elfride ngồi xuống, và Stephen ngồi bên cạnh cô.

“Em e rằng chúng ta đến đây thế này là không đúng mực cho lắm thì phải,” cô nửa như thắc mắc hỏi. “Chúng ta đâu đã quen nhau đủ lâu cho những chuyện kiểu này, phải không nào!”

“Ồ có chứ,” cậu ra dáng phán đoán trả lời; “đủ lâu lắm chứ.”

“Sao anh biết?”

“Không phải khoảng thời gian dài ngắn, mà chính nhịp đập trong từng phút giây của chúng ta mới tạo nên sự đủ hay không đủ trong mối quan hệ quen biết này.”

“Vâng, em hiểu điều đó. Nhưng em ước gì bố nghi ngờ hoặc biết được em đang làm MỘT VIỆC MỚI MẺ ĐẾN THẾ nào. Bố chẳng mảy may nghĩ đến điều đó đâu.”

“Hỡi Elfie dấu yêu, anh ước gì chúng ta có thể kết hôn! Thật sai lầm khi anh nói điều đó—anh biết là sai—trước khi em hiểu thêm về anh; nhưng dẫu sao anh vẫn ước gì chúng ta có thể cưới nhau. Em có yêu anh sâu sắc, sâu sắc lắm không?”

“Không!” cô cuống quýt đáp.

Trước câu phủ nhận thẳng thừng này, Stephen kiên quyết quay mặt đi, giữ một sự im lặng đầy điềm gở; những đối tượng duy nhất trên trái đất thu hút sự quan tâm của cậu lúc này dường như là ba bốn chục con chim biển đang lượn lờ tận phía xa trên không trung.

“Em không có ý chặn họng anh hẳn đâu,” cô ngập ngừng với chút hoảng hốt; và thấy cậu vẫn im lặng, cô càng lo lắng nói thêm, “Nếu anh nói lại điều đó lần nữa, có lẽ, em sẽ không còn—không còn bướng bỉnh thế nữa đâu—nếu—nếu anh không thích em như thế.”

“Ồ, nàng Elfride của anh!” cậu thốt lên và hôn cô.

Đó là nụ hôn đầu đời của Elfride. Và cô mới lóng ngóng và bỡ ngỡ làm sao; đầy rẫy sự giãy giụa—chẳng mảy may dịu dàng. Chẳng hề có những sự chống cự bề ngoài nhằm thoát khỏi cái bẫy mà rốt cuộc chỉ càng lún sâu hơn: chẳng có tư thế đón nhận cuối cùng nào cả: chẳng có sự nép sát vai vào vai, tay trong tay, mặt áp mặt đầy tự nhiên, và bất chấp vẻ thẹn thùng, đôi môi vẫn ở đúng chỗ vào khoảnh khắc tối quan trọng ấy. Cái dáng vẻ duyên dáng dẫu trông có vẻ ngẫu nhiên rơi vào đúng vị trí ấy, điều mà nhiều người nhận thấy là yếu tố thúc đẩy hồi kết và làm cho tình nhân càng thêm ngọt ngào, đã không hề xuất hiện ở đây. Tại sao vậy? Bởi vì thiếu đi kinh nghiệm. Một người phụ nữ phải trải qua nhiều nụ hôn thì mới biết cách hôn cho thục nghệ.

Trên thực tế, nghệ thuật dâng hiến đôi môi cho những cái hôn âu yếm ấy tuân theo các nguyên tắc được đúc kết trong các sách chuyên khảo về ảo thuật để thực hiện trò bịp mang tên Ép Chọn Lá Bài (Forcing a Card). Lá bài phải được luồn lách nhanh nhẹn, rút ra, lách cạnh vào, và hơn thế nữa là không được đưa ra cho đến đúng khoảnh khắc tay của người không ngờ tới chạm vào cấp bài; việc ép buộc này phải được thực hiện vừa kín đáo lại vừa nịnh nọt đến mức kẻ bị xỏ mũi cứ ngỡ rằng mình thực chất đang tự lựa chọn thứ vốn dĩ được nhét vào tay hắn.

Chà, lúc đó chẳng có những sự thuận lợi ấy; và Stephen ý thức được điều đó—thoạt đầu với một chút tiếc nuối thoảng qua rằng nụ hôn của cậu đã bị làm hỏng bởi sự đón nhận bối rối của cô, rồi sau đó là sự cảm nhận đầy dễ chịu rằng sự lóng ngóng ấy chính là nét quyến rũ của cô.

“Và em thực sự quan tâm và yêu anh chứ?” cậu nói.

“Vâng.”

“Nhiều lắm không?”

“Vâng.”

“Và anh không được hỏi em xem em có chịu chờ đợi anh, và mai sau làm vợ anh không ư?”

“Sao lại không chứ?” cô ngây thơ hỏi.

“Có một lý do đấy, hỡi Elfride của anh ạ.”

“Chẳng có lý do nào mà em biết được cả.”

“Giả sử có điều gì đó gắn liền với anh khiến cho việc em đồng ý làm vợ anh, hay việc bố em chấp thuận ý định đó trở thành điều gần như bất khả thi thì sao?”

“Sẽ chẳng có gì khiến em ngừng yêu anh cả: chẳng tìm thấy tỳ vết nào trong nhân cách của anh đâu. Em biết nó trong sáng và cao thượng; và có được điều đó rồi, sao em có thể lạnh lùng với anh được chứ?”

“Và sẽ không có gì khác ảnh hưởng đến chúng ta ư—sẽ không có gì ngoài bản chất của anh trở thành một phần phẩm chất của anh trong mắt em sao, Elfie?”

“Bất cứ điều gì cũng không,” cô thở phào nói. “Có thế thôi ư? Một vài hoàn cảnh bên ngoài á? Em thèm vào mà bận tâm!”

“Em khó lòng mà phán đoán được đâu, em yêu, cho đến khi em biết rõ những gì cần phải phán đoán. Về chuyện đó, chúng ta hãy gác lại cho đến khi về nhà. Anh tin tưởng ở em, nhưng lòng anh không tài nào thấy nhẹ nhõm nổi.”

“Tình yêu thật mới mẻ và tươi mát đối với chúng ta tựa sương mai; và chúng ta đang ở bên nhau. Theo thế giới của những kẻ đang yêu, đây đã là một điều lớn lao lắm rồi. Stephen, em tưởng chừng như mình nhìn thấy sự khác biệt giữa em và anh—giữa đàn ông và phụ nữ nói chung thì phải. Em bằng lòng xây dựng hạnh phúc trên bất kỳ cơ sở tình cờ nào sẵn có quanh mình; còn anh lại muốn tạo ra cả một thế giới phù hợp với hạnh phúc của mình.”

“Elfride, đôi khi em nói những câu khiến em bỗng chừng trông già dặn hơn tuổi thật của mình đến năm tuổi, hoặc già hơn cả anh; và nhận xét vừa rồi chính là một câu như thế. Anh có cố gắng thế nào đi nữa cũng không tài nào suy nghĩ GIÀ DẶN đến thế được....Và chưa từng có kẻ si tình nào hôn em trước đây ư?”

“Chưa bao giờ.”

“Anh biết điều đó chứ; em rất ngượng ngùng. Em cưỡi ngựa giỏi đấy, nhưng hôn thì chẳng khéo chút nào cả; và người bạn Knight của anh từng bảo anh rằng đó là một khuyết điểm tuyệt vời ở phụ nữ.”

“Nào, đi thôi; em phải lên yên ngựa lần nữa, kẻo chúng ta không về kịp giờ ăn tối.” Và họ quay trở lại nơi con Pansy đang bị buộc đứng chờ. “Thay vì phó thác trọng lượng cơ thể mình cho lòng bàn tay không vững vàng của một chàng trai trẻ,” cô vui vẻ tiếp lời, “em thích dùng một chiếc ‘bước đệm’ chắc chắn hơn (như cách gọi của dân làng), đó chính là cái cổng. Đấy—giờ thì em lại là chính mình rồi.”

Họ tiến về nhà với tốc độ đi bộ như cũ.

Sự phơi phới của cô đã kéo Stephen ra khỏi dòng suy tư, và mỗi người đều quên sạch mọi thứ trừ bầu không khí của khoảnh khắc hiện tại.

“Vì sao anh lại yêu em?” cô cất lời, sau một hồi đăm đăm nhìn theo một chú chim đang bay.

“Anh không biết,” cậu thẩn thơ đáp.

“Ồ có chứ, anh biết mà,” Elfride nài nỉ.

“Có lẽ, vì đôi mắt của em.”

“Mắt em thì sao?—nào, đừng có làm em bực mình bằng một câu trả lời hời hợt nhé. Đôi mắt em thì làm sao?”

“Ồ, chẳng có gì đáng kể cả. Chúng đẹp ở mức bình thường.”

“Thôi đi Stephen, em không chịu thế đâu. Rốt cuộc vì sao anh lại yêu em?”

“Có thể là vì cái miệng của em chăng?”

“Được rồi, cái miệng của em thì thế nào nào?”

“Anh nghĩ đó là một cái miệng đủ coi là tạm ổn——”

“Nghe chẳng an ủi tẹo nào cả.”

“Với cái bĩu môi xinh xắn và đôi môi ngọt ngào; nhưng thực ra, chẳng có gì hơn ngoài những gì mà ai nấy đều có.”

“Đừng có tự bịa ra mấy thứ trong đầu khi đang nói chuyện chứ, anh Stephen thân mến. Nào—rốt—cuộc—anh—yêu—em—vì—điều—gì?”

“Có lẽ, là vì chiếc cổ và mái tóc của em; dẫu anh không chắc chắn lắm: hay vì dòng máu lãng đãng chẳng màng chi chỉ biết trôi đi trôi về đôi má em; nhưng anh cũng chẳng chắc. Hoặc vì đôi bàn tay và cánh tay của em, rằng chúng làm lu mờ mọi đôi bàn tay và cánh tay khác; hoặc vì đôi bàn chân của em, rằng chúng thoắt ẩn thoắt hiện dưới lớp váy như những chú chuột nhắt; hay vì chiếc lưỡi của em, rằng nó cất lên một âm điệu dịu dàng đáng yêu. Nhưng anh cũng không hoàn toàn chắc chắn nữa.”

“À, nói thế thì nghe hay đấy; nhưng em chẳng màng đến tình yêu của anh đâu, nếu nó vẽ nên về phía em một bức tranh tẻ nhạt phẳng lì theo kiểu ấy, với sự không chắc chắn và những lý lẽ lạnh lùng như thế; mà là những gì anh CẢM NHẬN được về em cơ, anh Stephen” (ngay lúc này là một tràng cười lén lút cùng ánh nhìn tinh nghịch hướng vào mặt cậu), “khi anh tự nhủ với lòng mình rằng, ‘Mình nhất định sẽ yêu tiểu thư đó.’”

“Anh chưa từng nói thế.”

“Vậy khi anh tự nhủ với lòng mình rằng, ‘Mình sẽ chẳng bao giờ yêu tiểu thư đó.’”

“Anh cũng chẳng nói thế nốt.”

“Vậy có phải là, ‘Chắc là mình phải yêu tiểu thư đó thôi’?”

“Không.”

“Thế thì là gì nào?”

“Nó dao động nhiều hơn thế—không hề rạch ròi chút nào.”

“Kể cho em nghe đi; nói đi mà, nói đi.”

“Đó là việc anh không nên nghĩ về em nếu anh thực lòng yêu em.”

“À, cái đó thì em không hiểu nổi. Chẳng tài nào cạy ra được từ anh điều gì cả. Và em sẽ không bao giờ hỏi anh nữa đâu—không bao giờ nữa—để bắt anh nói ra từ tận sâu thẳm chân thực trong trái tim mình lý do anh yêu em là gì.”

“Nàng tiểu thư hay trêu ngươi ngọt ngào ơi, hỏi để làm gì chứ? Nó quy về một điều đơn giản duy nhất thế này: Rằng có lúc anh chưa từng gặp em, và anh không yêu em; rồi sau đó anh gặp em, và anh đã yêu em. Thế đã đủ chưa?”

“Rồi; em sẽ chấp nhận như thế....Em biết, em nghĩ, lý do anh yêu em là vì điều gì. Đương nhiên là trông em ưa nhìn; nhưng ý em không phải vì thế. Mà là vì em rất ngoan ngoãn và dịu dàng.”

“Đó không hẳn là những phẩm chất chính xác để một người đàn ông được yêu,” Stephen nói với giọng điệu tự chỉ trích đầy bất mãn. “Thôi, không sao cả. Anh phải xin phép bố em cho phép chúng ta đính hôn ngay khi vừa bước chân vào nhà. Sẽ phải chờ đợi trong một thời gian dài đấy.”

“Em lại càng thích thế hơn....Stephen, đừng nhắc đến chuyện đó cho đến ngày mai nhé.”

“Tại sao chứ?”

“Bởi vì, nhỡ bố phản đối—em không nghĩ bố sẽ phản đối đâu; nhưng nhỡ bố phản đối—thì chúng ta sẽ có thêm một ngày hạnh phúc nữa xuất phát từ sự vô tư của mình....Thôi nào, anh đang trầm ngâm suy nghĩ điều gì mà sâu sắc thế?”

“Anh đang nghĩ không biết người bạn thân thiết Knight của anh sẽ tận hưởng khung cảnh này đến nhường nào. Ước gì anh ấy có thể đến đây.”

“Anh có vẻ bận tâm đến anh ta quá nhỉ,” cô đáp lại với một cái hất đầu đầy ghen tuông nho nhỏ. “Anh ta hẳn phải là một người thú vị lắm mới chiếm trọn sự chú ý của anh đến thế.”

“Thú vị chứ!” Stephen nói, gương mặt bừng sáng lên vì nhiệt huyết; “cô phải gọi là cao thượng mới đúng.”

“Ồ vâng, vâng; em quên mất,” cô nửa mỉa mai đáp. “Người đàn ông cao thượng nhất nước Anh, như anh đã bảo với chúng ta tối qua mà.”

“Anh ấy là một chàng trai tuyệt vời đấy, mặc sức mà cười cợt đi, cô Elfie ạ.”

“Em biết anh ta là thần tượng của anh rồi. Nhưng anh ta làm nghề gì? Có viết lách gì không?”

“Anh ấy viết văn.”

“Anh ta viết cái gì cơ? Em chưa từng nghe thấy tên anh ta bao giờ.”

“Bởi vì cá tính của anh ấy, và của một số người khác giống anh ấy, đã hòa tan vào một đại danh từ CHÚNG TA to lớn, cụ thể là một thực thể vô hình mang tên HIỆN TẠI—một Tạp chí xã hội và văn học.”

“Anh ta chỉ là một nhà phê bình thôi sao?”

“CHỈ LÀ THÔI ư, Elfie! Này nhé, anh có thể nói cho em biết được vinh dự thế nào khi được đứng trong ban biên tập của tờ HIỆN TẠI đấy. Hơn hẳn việc làm một tiểu thuyết gia rất nhiều.”

“Đó là một câu nói đá xoáy em và tác phẩm TÒA ÁN KELLYON CASTLE tội nghiệp của em đấy à.”

“Không, Elfride,” cậu thì thầm; “anh không có ý đó. Ý anh là anh ấy thực sự là một nhà văn có tên tuổi, chứ không hẳn chỉ là một nhà phê bình. Anh ấy viết những tác phẩm ở đẳng cấp cao hơn các bài phê bình, dẫu thỉnh thoảng anh ấy vẫn phê bình sách. Những sáng tác thông thường của anh ấy là các bài tiểu luận xã hội và đạo đức—tất cả những gì tờ HIỆN TẠI có mà không phải là bài bình luận văn học.”

“Em công nhận là anh ta hẳn phải có tài năng nếu viết cho tờ HIỆN TẠI. Chúng ta có đặt mua định kỳ tờ đó đâu. Em muốn bố đăng ký đặt mua lắm, nhưng bố bảo thủ quá. Giờ đến điểm tiếp theo về nhân vật anh Knight này—em đoán anh ta hẳn là một người rất tốt.”

“Một người xuất sắc. Sớm muộn gì anh cũng sẽ cố gắng trở thành bạn thân thiết của anh ấy.”

“Nhưng hiện giờ hai người không thân nhau ư?”

“Không; chưa đến mức đó,” Stephen đáp, cứ như thể giả thiết đó là điều quá sức hoang đường. “Em thấy đấy, mọi chuyện là thế này—anh ấy vốn xuất thân từ cùng một nơi với anh, và đã dạy cho anh nhiều điều; nhưng anh không thân thiết với anh ấy. Sẽ vui biết bao khi anh giàu có hơn và được nhiều người biết đến hơn, rồi có thể đường hoàng sánh bước cùng anh ấy!” Đôi mắt Stephen ánh lên rạng rỡ.

Một cái bĩu môi bắt đầu hình thành trên đôi môi mềm mại của Elfride. “Lúc nào anh cũng nghĩ đến anh ta, và thích anh ta hơn cả em!”

“Không hề có chuyện đó, Elfride. Cảm xúc hoàn toàn khác nhau mà. Nhưng anh thực sự thích anh ấy, và anh ấy xứng đáng nhận được nhiều tình cảm hơn từ anh so với những gì anh đang dành cho.”

“Bây giờ anh chẳng dễ thương tẹo nào cả, và anh đang làm cho em ghen lừng ghen lẫy lên đây này!” cô bướng bỉnh kêu lên. “Em biết là anh sẽ chẳng bao giờ nói về em với bất kỳ người thứ ba nào nồng nhiệt như cách anh nói về anh ta với em đâu.”

“Nhưng em không hiểu đâu, Elfride,” cậu vừa cử động người đầy lo lắng vừa nói. “Rồi có ngày em sẽ biết anh ấy. Anh ấy vô cùng xuất chúng—không, không hẳn là xuất chúng; rất uyên bác—từ uyên bác cũng chưa diễn tả hết con người anh ấy—đến mức em sẽ bị cuốn hút khi nói chuyện với anh ấy. Anh ấy là một người bạn tuyệt vời nhất, và bấy nhiêu thôi vẫn chưa nói lên được một nửa những gì anh có thể ca ngợi.”

“Em chẳng thèm quan tâm anh ta tốt đến thế nào; em chẳng muốn quen biết anh ta, bởi vì anh ta đang đứng chen giữa em và anh. Anh nghĩ về anh ta suốt ngày đêm, nhiều hơn bất kỳ ai khác gấp vạn lần; và khi anh đang bận nghĩ về anh ta, em bị gạt ra khỏi tâm trí anh mất rồi.”

“Không đâu, Elfride yêu dấu; anh yêu em rất nhiều.”

“Và em không thích việc anh kể về anh ta một cách nồng nhiệt như thế khi anh đang ở giữa lúc yêu em đâu. Stephen, giả sử em và cái tay Knight này của anh cùng bị đuối nước, và anh chỉ có thể cứu được một trong hai chúng ta——”

“Ừm—lại cái câu hỏi cũ rích ngớ ngẩn đó—anh sẽ cứu ai nào?”

“Thế rốt cuộc là ai? Đừng có chọn em nhé.”

“Cả hai em chứ,” cậu nói, siết nhẹ bàn tay đang buông thõng của cô.

“Không, thế thì không được; chỉ một trong hai chúng ta thôi.”

“Anh không thể nói được; anh không biết. Thật là khó chịu—một ý tưởng hoàn toàn kinh khủng khi phải xử lý đấy.”

“A-ha, em biết mà. Anh sẽ cứu anh ta, và để mặc em chìm nghỉm, chìm nghỉm, chìm nghỉm luôn; và em chẳng thèm cần tình yêu của anh nữa!”

Cô đã cố gắng pha chút giọng điệu đùa cợt vào lời nói của mình, nhưng câu nói sau có vẻ gượng gạo trong sự vui vẻ giả tạo.

Đến đoạn này của cuộc tranh luận, cô liền phóng ngựa đi để rẽ qua một khúc cua bị đường mòn né tránh, đoạn đường cái và lối mòn sẽ hội tụ lại ở một điểm phía xa hơn một chút. Khi xuất hiện trở lại, cô liên tục tìm cách nhìn về hướng ngược lại với cậu, để mặc cậu đứng trong bóng râm lạnh lẽo của sự giận hờn từ cô. Stephen nhanh chóng chịu thua trong trò chơi thờ ơ này. Cậu vòng ra và lọt vào tầm mắt của cô.

“Em đang giận đấy à, Elfie? Sao em không nói gì thế?”

“Cứu em đi, rồi mặc kệ cái gã thông thái kia chìm nghỉm đi. Em ghét anh ta lắm. Nào, anh chọn ai nào?”

“Thật tình đấy Elfride, em không nên gặng hỏi một câu hỏi khó nhằn như thế chứ. Thật là nực cười.”

“Thế thì em sẽ không ở riêng với anh nữa đâu. Quá tàn nhẫn khi làm tổn thương em như thế!” Cô tự cười trước sự vô lý của chính mình nhưng vẫn kiên quyết bám trụ đến cùng.

“Nào, Elfie, chúng ta làm hòa và trở thành bạn đi thôi.”

“Nói là anh sẽ cứu em đi, rồi mặc kệ anh ta chìm nghỉm đi.”

“Anh sẽ cứu em—và cả anh ta nữa.”

“Và mặc kệ anh ta chìm nghỉm. Nào, nếu không là anh không yêu em!” cô trêu chọc tiếp lời.

“Và mặc kệ anh ta chìm nghỉm vậy,” cậu tuyệt vọng thốt lên.

“Đấy; giờ thì em thuộc về anh rồi đấy!” cô nói, và ánh hào quang chiến thắng của người phụ nữ bừng sáng trong đôi mắt cô.

“Chỉ còn một chiếc khuyên tai thôi thưa cô, nếu tôi còn sống,” Unity lên tiếng khi họ vừa bước vào tiền sảnh.

Với khuôn mặt lộ rõ vẻ hoang mang tột độ, bàn tay Elfride phóng nhanh như tên bắn lên tai mình.

“Đấy thấy chưa!” cô thốt lên với Stephen, nhìn cậu bằng đôi mắt tràn ngập trách móc.

“Anh hoàn toàn quên mất thật đấy. Phải chi anh nhớ ra!” cậu đáp lại với gương mặt đầy dằn vặt của kẻ có tội.

Cô quay ngoắt người lại, bước thẳng vào khu vườn cây bụi. Stephen lẽo đẽo bước theo.

“Nếu anh đã được dặn dò phải để mắt đến thứ gì đó, anh Stephen ạ, em đã thực hiện nó một cách tôn nghiêm rồi,” cô giở chứng cáu kỉnh tiếp lời, ngay khi nghe tiếng bước chân cậu phía sau.

“Quên lãng là chuyện có thể tha thứ được mà.”

“Được rồi, anh sẽ tìm lại nó, nếu anh muốn em tôn trọng và đính hôn với anh sau khi chúng ta xin phép bố.” Cô trầm ngâm giây lát, rồi nghiêm túc nói thêm, “Bây giờ em nhớ ra mình đánh rơi nó ở đâu rồi, Stephen. Chính là ở vách đá. Em nhớ có cảm giác mờ hồ về sự thay đổi nào đó trên người, nhưng lúc đó mải nghĩ vơ vẩn nên em chẳng để tâm. Và nó đang nằm ở đó đấy, anh phải quay lại tìm đi.”

“Anh đi ngay đây.”

Và cậu sải bước đi thẳng lên thung lũng, dưới ánh nắng như thiêu như đốt và giữa bầu không khí tĩnh mịch tựa cõi chết của buổi đầu giờ chiều. Cậu nhanh chân trèo lên dãy đá lộng gió với tốc độ chóng mặt cho đến nơi họ từng ngồi, rờ rẫm và dòm ngó quanh những hòn đá cùng kẽ nứt, nhưng món trang sức đi lạc của Elfride hoàn toàn bặt tăm. Tiếp đến Stephen chậm rãi quay gót bước về, và khi dừng chân ở một ngã tư để suy ngẫm một lúc, cậu rời khỏi cao nguyên và rẽ xuống băng qua mấy cánh đồng, hướng về phía Endelstow House.

Cậu rảo bước dọc theo con đường mòn ven sông mà chẳng mảy nào do dự về hướng đi, có vẻ như đã quá đỗi quen thuộc với từng tấc đất nơi đây. Khi những bóng râm bắt đầu dài ra và ánh nắng dịu lại, cậu đi qua hai cánh cổng chấn song, và tiến đến gần khu vực ngoại vi của Công viên Endelstow. Lúc này con sông chảy uốn lượn bên dưới hàng rào công viên, trước khi chảy vào chính khu rừng ở đoạn xa hơn một chút.

Nơi đây có một ngôi nhà nhỏ nằm lọt thỏm giữa hàng rào và dòng suối, tọa lạc trên một khoảng đất hơi cao mà dòng sông uốn khúc ôm trọn. Điểm đặc trưng của chốn dung thân ấm cúng này là chiếc ống khói đơn độc nằm ở đầu hồi nhà, với hình khối vuông vức được ngụy trang bằng một chiếc áo choàng khổng lồ bằng dây thường xuân, loài cây đã mọc tươi tốt và vươn ra xa khỏi phần gốc đến mức làm tăng thể tích bề ngoài của ống khói lên ngang bằng kích thước của một cái tháp. Cách phía sau ngôi nhà không xa là ranh giới công viên, và qua đó có thể nhìn thấy những tán cây sycamore trong rừng đang khẽ khàng ngả nghiêng theo làn gió vừa chớm thức giấc.

Stephen băng qua chiếc cầu gỗ nhỏ ở phía trước, tiến đến cửa ngôi nhà nhỏ và đẩy cửa bước vào mà không hề gõ cửa hay ra hiệu bất kỳ điều gì.

Những tiếng kêu chào mừng thốt lên từ một hoặc vài người khi cánh cửa vừa hé mở, tiếp theo là tiếng ghế cọ xát trên sàn đá, tựa như thể bị đẩy lùi lại bởi những người ngồi khi họ đứng dậy khỏi bàn ăn. Cánh cửa lại khép kín, và giờ đây chẳng còn âm thanh nào lọt ra từ bên trong nữa, ngoại trừ tiếng trò chuyện rôm rả cùng tiếng bát đĩa va vào nhau lách cách.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.