Đôi Mắt Biếc

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

“Đó là vào một buổi chiều tối mùa đông.”

Khi thêm hai hoặc ba tiếng đồng hồ nữa trôi qua, biến buổi chiều tàn thành chập choạng tối, người ta có thể thấp thoáng thấy dăm bóng người hiện lên nền trời trên đỉnh một ngọn đồi hoang vu, cô tịch trong vùng. Đó là hai người đàn ông ngồi trên một chiếc xe ngựa kéo nhẹ loại nhỏ, đang chật vật rẽ gió mà đi, nom qua chẳng khác gì những cái bóng cắt trên nền trời. Suốt dọc chặng đường dài quạnh hiu mà họ vừa đi qua, hầu như chẳng bóng người hay ngôi nhà nào lộ diện; và giờ đây khi màn đêm bắt đầu buông xuống, ánh hoàng hôn lờ mờ còn sót lại để họ nhận diện phong cảnh bỗng được tô điểm bởi sự xuất hiện trầm mặc của chòm sao Mộc, lóe sáng rực rỡ một khoảnh khắc ngay trước mặt họ, cùng chòm sao Thiên Lang đang thi thố ánh hào quang từ vị trí phía sau vai họ. Những đốm sáng duy nhất trên mặt đất là dăm vệt đỏ đục, âm ỉ cháy chỗ này chỗ khác trên những ngọn đồi xa xa — mà như người đánh xe tiện miệng bảo với khách thuê xe, đó là những đống lửa đốt than bùn và rễ cây kim tước để phá vỡ đất hoang làm nông nghiệp. Gió vẫn thổi mạnh chẳng kém gì sự náo động ban ngày, với ba bốn đám mây nhỏ, mỏng manh và nhợt nhạt, đang lê lết trôi sát vòm trời về phía nam hướng ra eo biển.

Họ đã đi được mười bốn trên tổng số mười sáu dặm khoảng cách từ ga xe lửa đến điểm cuối của chuyến hành trình, thì bắt đầu đi dọc theo mép một thung lũng rộng tới vài dặm. Nơi đây, những bộ khung mùa đông của một thảm thực vật sum suê hơn hẳn những vùng xung quanh từ trước tới nay đã minh chứng cho độ phì nhiêu tăng lên của đất đai, cho thấy dấu hiệu được rào giắn và chăm sóc kỹ càng hơn nhiều so với bất kỳ sườn đồi nào họ từng đi qua. Đi thêm một chút nữa, một khoảng trống giữa hàng cây du kéo dài từ thung lũng màu mỡ này bất chợt lộ ra một dinh thự.

“Kia là nhà Endelstow, dinh của lãnh chúa Luxellian,” người đánh xe nói.

“Nhà Endelstow, dinh của lãnh chúa Luxellian,” người kia máy móc lặp lại. Đoạn, anh nghiêng người sang một bên, chăm chú dò xét ngôi nhà hầu như không thể nhìn rõ ấy với một mối quan tâm mà bản thân bức tranh mờ ảo kia vốn chẳng đời nào tạo nổi. “Đúng vậy, nhà của lãnh chúa Luxellian,” một lát sau anh lại nói, khi vẫn đăm đăm nhìn về hướng đó.

“Sao thế, chúng ta sắp đến đó à?”

“Không; là nhà xứ Endelstow, như tôi đã nói với anh rồi mà.”

“Tôi cứ tưởng ngài đổi ý rồi chứ, thưa ngài, thấy ngài cứ trân trân nhìn vào khoảng không lâu đến thế.”

“Ồ không; tôi chỉ thấy tò mò về ngôi nhà đó thôi.”

“Hầu như ai cũng thế cả, theo như người ta vẫn nói.”

“Không phải theo nghĩa của tôi.”

“Ơ kìa!... Chà, dòng họ nhà ngài ấy cũng chẳng khá hơn họ nhà tôi là mấy đâu, tôi dám cá đấy.”

“Sao lại thế?”

“Đáng lẽ ra chỉ là thợ làm hàng rào với thợ đào mương thôi. Nhưng thuở xửa thuở xưa, có một ông tổ trong số họ, khi đang làm việc, đã đổi quần áo cho Vua Charles Đệ nhị và cứu mạng nhà vua. Vua Charles tiến lại gần ông ta như một người bình thường và nói thẳng thừng rằng: ‘Này anh thợ mặc áo blouse, ta tên là Charles Đệ nhị, và sự tình là thế đấy. Ngươi có chịu đổi quần áo cho ta không?’ ‘Tôi chẳng ngại gì đâu,’ lão thợ rào Luxellian đáp; thế là họ đổi cho nhau ngay tại trận. ‘Giờ thì hãy nhớ lấy nhé,’ Vua Charles Đệ nhị nói bằng giọng của một người bình thường khi cưỡi ngựa phóng đi, ‘nếu sau này ta lên ngôi vua, ngươi hãy đến hoàng cung, gõ cửa và dõng dạc hỏi rằng: “Vua Charles Đệ nhị có nhà không?” Cứ xưng tên ra, người ta sẽ cho ngươi vào, và ngươi sẽ được phong tước lãnh chúa.’ Này, ngài thấy ngài Charles nhà ta ăn ở có đẹp lòng không cơ chứ?”

“Quả là rất tử tế.”

“Vâng, theo như câu chuyện kể lại, thì nhà vua đã lên ngôi; và mấy năm sau đó, lão thợ rào Luxellian liền lên đường, đến gõ cửa cung điện của vua và hỏi xem Vua Charles Đệ nhị có ở nhà không. ‘Không, ngài ấy không có nhà,’ họ đáp. ‘Thế Vua Charles Đệ tam có ở nhà không?’ lão thợ rào Luxellian lại hỏi. ‘Có,’ một gã thanh niên đứng gần đó đáp y như một kẻ phàm trần, chỉ có điều hắn đội một chiếc vương miện trên đầu, ‘ta là Charles Đệ tam đây.’ Và——”

“Tôi thực sự cho rằng đó hẳn là một sự nhầm lẫn. Tôi chẳng nhớ trong lịch sử nước Anh có vị vua nào tên là Charles Đệ tam cả,” người kia ôn tồn phản bác.

“Ồ, lịch sử thế là đúng lắm rồi đấy chứ, chỉ có điều người ta không in ra sách thôi; ngài ấy là một ông vua tính tình hơi kỳ cục, nếu ngài còn nhớ.”

“Thôi được rồi; anh cứ kể tiếp đi.”

“Và bằng cách này hay cách khác, lão thợ rào Luxellian cuối cùng cũng được phong tước lãnh chúa, mọi chuyện vẫn xuôi chèo mát mái cho đến một thời gian sau, khi lão ta vướng vào một trận lôi đình vô cùng khủng khiếp với Vua Charles Đệ tứ.”

“Tôi không thể chấp nhận nổi chuyện có Charles Đệ tứ được. Thật tình mà nói, thế thì quá thể lắm rồi.”

“Sao lại thế ạ? Chẳng phải có vua George Đệ tứ hay sao?”

“Đương nhiên rồi.”

“Thì đấy, tên Charles cũng phổ biến chẳng kém gì tên George chứ bộ. Thôi, tôi chẳng thèm nói nữa đâu... À mà này! Quả là cái thế giới buồn cười nhất mà tôi từng sống — thưa ngài, đúng là thế đấy. Chà, sao lại có chuyện đời trớ trêu đến thế cơ chứ!”

Trời chập tối đã chuyển thành đêm đen đặc từ lúc nào trong lúc họ trò chuyện, đường nét và bề mặt của dinh thự cứ thế mờ dần rồi biến mất. Những ô cửa sổ vốn trước đó chỉ là những vệt đen sì trên khoảng tường sáng hơn nay đã bừng sáng, biến thành những ô vuông ánh sáng nổi bật trên nền cảnh vật ban đêm tối thẫm đang nuốt chửng lấy hình thù của công trình kiến trúc vào một một sắc xám đơn điệu, ảm đạm.

Không một ai cất lời thêm trong một khoảng thời gian, họ cứ thế leo lên một ngọn đồi, rồi lại một ngọn đồi nữa chồng chất lên đỉnh ngọn đồi trước. Thêm một dặm đường cao nguyên nữa hiện ra, từ đó có thể nhìn thấy hai ngọn hải đăng ở vùng bờ biển họ đang tiến lại gần, đang nằm tựa mình trên đường chân trời với thứ ánh sáng dịu dàng, phúc hậu. Một ốc đảo nữa lại đến; một thung lũng nhỏ nằm gọn lỏn như chiếc tổ chim dưới chân họ, hướng về phía đó, người đánh xe giật mạnh dây cương cho con ngựa rẽ ngoặt một góc hẹp và đi xuống sườn dốc đứng cắm đầu dưới những vòm cây chẳng khác gì cái hang thỏ. Họ cứ thế tụt xuống sâu mãi, sâu mãi.

“Nhà xứ Endelstow nằm ở tít trong này đây,” người giữ dây cương tiếp tục nói. “Khu vực quanh đây là Tây Endelstow; còn dinh của lãnh chúa Luxellian là Đông Endelstow, có hẳn một nhà thờ riêng. Mục sư Swancourt chăn dắt cả hai giáo xứ và cứ đi lại ngược xuôi suốt. Chà, chà! Quả là một thế giới buồn cười. Tôi dám cá là ở chỗ ngôi nhà này đang đứng ngày xưa từng là một mỏ đá. Gã người đã xây nên nó thuở trước đã cạo sạch lớp đất mặt của bãi đất mục sư để đắp xung quanh nhà xứ, rồi bày biện ra cả một thiên đường nhỏ ngập hoa cỏ trên lớp đất mà lão ta gom góp được bằng cách ấy, trong khi những thửa ruộng bị lão cạo trọc thì từ đó đến nay chẳng còn làm ăn gì được nữa.”

“Vị mục sư đương nhiệm về đây đã bao lâu rồi?”

“Chắc độ khoảng một năm, hoặc năm rưỡi gì đấy: chưa được hai năm đâu ạ; vì người ta vẫn chưa đồn thổi tai tiếng gì về ngài ấy mà; mà theo lệ thường, một giáo xứ chỉ bắt đầu bươi móc đời tư để nói xấu mục sư khi đã quen mặt nhau được tròn hai năm. Nhưng ngài ấy là một người rất dễ mến. À này, Mục sư Swancourt biết rõ tôi lắm đấy vì tôi hay đánh xe qua lại mà; và tôi cũng biết Mục sư Swancourt nữa.”

Họ ra khỏi vòm cây, lượn qua một khúc cua, và những chiếc ống khói cùng chóp mái hình tam giác của ngôi nhà xứ hiện lên mờ ảo trong đêm tối. Không một ngọn đèn nào thắp sáng. Họ xuống xe; người đàn ông dò dẫm bước vào hiên nhà và giật chuông.

Sau ba bốn phút kiên nhẫn chờ đợi mà chẳng nghe thấy bất kỳ âm thanh hồi đáp nào, người khách lạ bước lên và giật chuông lại một lần nữa với vẻ dứt khoát hơn. Đoạn, anh tưởng như mình nghe thấy tiếng bước chân trong sảnh lớn và tiếng vặn nắm đấm cửa lạch cạch, nhưng chẳng có ai thò mặt ra cả.

“Có lẽ họ không có nhà rồi,” người đánh xe thở dài. “Trong khi tôi cứ tự hứa hẹn sẽ được làm một bữa ăn nhẹ ở nhà bếp của Mục sư Swancourt cơ chứ. Nào là bánh nhân thịt cừu ngon tuyệt, bánh ngọt nhân vả, rượu táo, cùng dăm giọt rượu mùi hảo hạng mà họ luôn trữ sẵn trong nhà này chứ!”

“Này mấy bác láng giềng ơi! Mấy bác là người giàu hay kẻ nghèo mà giờ này nửa đêm nửa hôm còn phải mò tới tận cùng thế giới thế này hả?” Một giọng nói bỗng vang lên từ khoảnh khắc ấy; và khi quay đầu lại, họ thấy một gã với dáng người xiêu vẹo đang lê lết bước ra từ cửa sau, tay lủng lẳng cầm chiếc đèn lồng làm bằng sừng động vật.

“Nửa đêm nửa hôm cơ đấy! Trong khi đồng hồ mới điểm có bảy giờ đúng. Soi đèn lên và mở cửa cho chúng tôi vào mau, William Worm.”

“Ồ, ra là anh đấy à, Robert Lickpan?”

“Không phải hắn thì là ai nữa, William Worm.”

“Thế vị khách đến thăm đã tới chưa thế?”

“Rồi,” người khách lạ đáp. “Ông Swancourt có nhà không?”

“Có chứ ạ, thưa ngài. Và ngài có phiền đi vòng ra lối cửa sau không ạ? Cửa chính cứ bị ẩm ướt làm cho kẹt cứng ngắc, thỉnh thoảng ngài ấy vẫn thế đấy ạ; và cái đồ Thổ Nhĩ Kỳ ấy chẳng tài nào mở ra được đâu. Tôi biết mình chỉ là một lão khất lợ phí hoài ơn Chúa đã tạo ra tôi thôi, thưa ngài; nhưng tôi có thể dẫn đường ngài vào trong nhà ạ.”

Vị khách mới đến đi theo người dẫn đường qua một cánh cửa nhỏ trên tường, rồi bước qua một căn phòng rửa bát đĩa và một nhà bếp, sải bước với đôi mắt đăm đăm nhìn thẳng về phía trước, bởi sự kinh hoàng cố hữu trước thói tò mò đã ngăn cản anh không được phép liếc nhìn xung quanh những căn phòng vốn đóng vai trò là hậu phương của gia đình. Vừa bước vào sảnh, anh chuẩn bị được dẫn lên phòng của mình thì từ hành lang phía trong của lối cửa chính — nơi cô vừa chạy ra để tìm hiểu nguyên nhân của sự chậm trễ — bóng dáng Elfride đột ngột xuất hiện. Cử chỉ giật mình kinh ngạc của cô khi trông thấy vị khách bước ra từ gầm cầu thang đã chứng minh rằng cô hoàn toàn không hề mong đợi cuộc đánh úp bất ngờ này, vốn xuất phát hoàn toàn từ sự tháo vát của William Worm.

Cô xuất hiện trong bộ dạng nữ tính nhất có thể tưởng tượng được, nghĩa là trong trang phục nửa trang trọng, với mái tóc xoăn xõa bồng bềnh buông lơi quanh đôi vai. Phảng phất trên gương mặt cô là một vẻ lo lắng; và nhìn chung, cô trông hầu như chưa đủ chững chạc để đối phó với tình huống này. Vị khách cởi mũ ra, và những lời đầu tiên được cất lên; Elfride liếc nhìn với rất nhiều sự quan tâm, đan xen cả vẻ ngạc nhiên dành cho người mà cô sắp phải tiếp đón chu đáo.

“Tôi là Mr. Smith,” vị khách trẻ tuổi cất chất giọng du dương lên.

“Tôi là Miss Swancourt,” Elfride đáp.

Sự gượng gạo của cô đã bay biến. Sự tương phản quá lớn giữa thực tế đang sờ sờ trước mắt cô với hình dung vốn có trong trí tưởng tượng — một gã doanh nhân lớn tuổi gầy gò, ít nói, sắc sảo từng lẩn khuất trong tâm trí cô, một gã đàn ông với bộ quần áo sực mùi khói bụi thành phố, làn da ngăm vàng vì thiếu ánh nắng, và cách nói chuyện đượm vẻ châm biếm — khiến cô nhẹ nhõm đến mức suýt phì cười ngay trước mặt người mới đến.

Stephen Smith, người từ nãy đến giờ vẫn bị che khuất bởi bóng tối, vào khoảng thời gian này trong đời trông mới chỉ là một thiếu niên, và số tuổi thì vừa chớm thanh niên. Nhìn vào vẻ ngoài của anh, Luân Đôn chắc chắn là nơi cuối cùng trên đời mà người ta có thể tưởng tượng là bối cảnh cho những hoạt động của anh: một gương mặt như thế chắc chắn không thể lớn lên giữa khói bụi, bùn lầy, sương mù và rác rưởi; một nét mặt cởi mở như thế thủa đời nào lại có thể từng chứng kiến “nỗi muộn phiền, cơn sốt và sự bứt rứt” của thành phố Babylon Thứ hai.

Làn da của anh đẹp chẳng kém gì của Elfride, sắc hồng trên má cũng tinh tế không kém. Miệng anh đẹp hoàn hảo như chiếc cung của thần Cupid, và có màu đỏ thắm như anh đào hệt như cô. Mái tóc xoăn sáng màu; đôi mắt xanh xám sáng ngời, lấp lánh; vẻ thẹn thùng và cung cách của một cậu thiếu niên; chẳng có lấy một sợi râu quai nón hay ria mép, ngoại trừ một nhúm lông tơ màu nâu nhạt trên môi trên họa may mới xứng đáng với cái tên sau: tất cả những điều đó hợp thành vị chuyên gia đến từ Luân Đôn, kẻ mà viễn cảnh xuất hiện của hắn từng khiến Elfride phải bận tâm lo lắng đến thế.

Elfride vội vàng lên tiếng cáo lỗi rằng ông Swancourt không thể tiếp anh tối nay được và đưa ra lý do. Mr. Smith đáp lại bằng một chất giọng tự nhiên mang âm hưởng thiếu niên nhưng lại ra dáng đàn ông nhờ sự luyện tập rằng anh rất tiếc khi nghe tin này; nhưng xét về việc tiếp đón, điều đó hoàn toàn không có gì là quan trọng cả.

Stephen được dẫn lên phòng của mình. Trong lúc anh vắng mặt, Elfride lén lút lẻn vào phòng cha.

“Cha ơi, anh ấy đến rồi. Một doanh nhân mà trẻ thế cơ chứ!”

“Ồ thế à!”

“Gương mặt anh ấy — chà — XINH XẮN lắm; y hệt như con vậy.”

“Hừm! Rồi sao nữa?”

“Không có gì nữa ạ; con mới biết có thế thôi. Khá là hay ho đấy chứ, phải không cha?”

“Ừm, chuyện đó tính sau khi chúng ta hiểu rõ hơn về cậu ta. Xuống dưới đó và cho tội nghiệp thằng bé chút gì ăn uống đi, vì ơn Chúa. Và khi cậu ta ăn xong, hãy bảo rằng cha muốn trao đổi vài lời, nếu cậu ta không phiền bước lên đây.”

Cô tiểu thư lại rón rén bước xuống nhà, và trong lúc cô chờ đợi sự xuất hiện của chàng trai trẻ Smith, tốt hơn hết là chúng ta nên xem qua những bức thư đề cập đến chuyến viếng thăm của anh.

1.—MR. SWANCOURT GỬI MR. HEWBY.

“NHÀ XỨ ENDELSTOW, Ngày 18 tháng 2 năm 18—.

“THƯA ÔNG, — Chúng tôi đang dự tính trùng tu tháp chuông và gian phụ nhà thờ trong giáo xứ này; và lãnh chúa Luxellian, người bảo trợ của giáo xứ, đã nhắc đến tên ông như một kiến trúc sư đáng tin cậy mà chúng tôi nên mời đến để giám sát công việc.

“Tôi hoàn toàn mù tịt về các bước chuẩn bị cần thiết. Tuy nhiên, có lẽ bước đầu tiên là (nếu như, đúng như lãnh chúa Luxellian nói, ông sẵn lòng giúp đỡ chúng tôi) chính ông hoặc một thành viên trong đội ngũ của ông hãy đến tận nơi khảo sát công trình và lập báo cáo nhằm làm yên lòng các giáo dân cùng những người liên quan.

“Địa điểm này rất hẻo lánh: trạm xe lửa cách đây tới mười bốn dặm; và nơi gần nhất có thể trọ lại — dẫu được gọi là thị trấn nhưng thực chất chỉ là một ngôi làng lớn — là Castle Boterel, cách thêm hai dặm nữa; thế nên sẽ thuận tiện nhất nếu ông nghỉ lại tại nhà xứ — nơi tôi rất vinh hạnh được dành sẵn cho ông — thay vì phải cố đi tiếp đến khách sạn ở Castle Boterel rồi lại quay ngược trở lại vào sáng hôm sau.

“Bất kỳ ngày nào trong tuần tới mà ông chọn để ghé thăm, chúng tôi đều sẵn sàng đón tiếp ông. — Thân ái chào ông,

CHRISTOPHER SWANCOURT. 2.—MR. HEWBY GỬI MR. SWANCOURT.

‘PERCY PLACE, CHARING CROSS, Ngày 20 tháng 2 năm 18—.

“THƯA ÔNG KÍNH MẾN, — Theo yêu cầu của ông đề ngày 18 vừa qua, tôi đã sắp xếp để đến khảo sát và vẽ bản thiết kế gian phụ cùng tháp chuông nhà thờ giáo xứ của ông, cũng như đánh giá những hạng mục hư hỏng đã tích tụ theo thời gian, với mục đích tiến hành trùng tu.

“Cộng sự của tôi, Mr. Stephen Smith, sẽ rời Luân Đôn trên chuyến tàu sớm vào sáng mai để thực hiện công việc này. Vô cùng cảm ơn nhã ý sắp xếp chỗ ở của ông dành cho cậu ấy. Cậu ấy sẽ tận dụng sự giúp đỡ của ông và có lẽ sẽ đến nhà ông vào một thời điểm nào đó trong buổi tối. Ông hoàn toàn có thể đặt trọn niềm tin vào cậu ấy, cũng như có thể trông cậy vào sự tinh tường của cậu ấy trong lĩnh vực kiến trúc nhà thờ.

“Hi vọng rằng những bản thiết kế trùng tu mà tôi sẽ chuẩn bị dựa trên các chi tiết từ bản khảo sát của cậu ấy sẽ làm hài lòng ông và lãnh chúa Luxellian, tôi xin kính chào ông,

WALTER HEWBY.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.