10
Được triệu tập bằng những cuộc gọi khẩn, Jonathan Maybury và Elizabeth Goode trở về vào đầu giờ chiều hôm đó trong chiếc Mini đỏ cũ mèm của Jonathan. Khi cậu lái xe qua cổng và băng qua điểm canh, Elizabeth quay sang nhìn cậu, lo lắng chau mày. “Anh sẽ không nói cho ai, đúng không?”
“Nói cho ai cái gì?”
“Anh thừa biết còn gì. Hứa với em đi, Jon.”
Cậu nhún vai. “Ừ, nhưng anh nghĩ em điên rồi. Tốt hơn hết là giờ nên thành thật.”
“Không,” cô gái cương quyết. “Em biết em đang làm gì.”
Jonathan liếc ra cửa sổ, nhìn những khóm đỗ quyên đang độ rực rỡ dọc đường xe chạy. “Anh không chắc em biết rõ mình đang làm gì. Theo anh thấy thì mức độ hoang tưởng giữa mẹ em và em cũng chẳng khác nhau là mấy. Sớm muộn gì em cũng phải can đảm nói ra thôi, Lizzie ạ.”
“Đừng có ngốc thế,” cô gái nạt nộ.
Jonathan lái chậm lại khi đường vòng cung trải sỏi phía trước ngôi nhà dân mở ra trước mắt. Đã có sẵn hai chiếc xe đỗ ở đấy. “Hai xe của cảnh sát mặc thường phục,” cậu nói với vẻ hài hước châm biếm khi lái chiếc Mini đỗ sát cạnh một trong hai chiếc xe kia. “Anh hi vọng em đã sẵn sàng cho những dụng cụ kẹp tay.”
“Ôi, vì Chúa, anh làm ơn trưởng thành đi được không.” Elizabeth nổi xung, nỗi âu lo và tính khí thất thường đang dần thắng thế. “Rồi sẽ có lúc em sẵn lòng giết chết anh, Jon ạ.”
“Chúng tôi tìm thấy một đôi giày, thưa sếp.” Jones đặt chiếc túi nhựa trong suốt xuống đất, cạnh chân Walsh.
Chánh thanh tra vẫn đang ngồi dưới một gốc cây, bên rìa khu rừng bao quanh hầm trữ đông. Ông nhoài người ra để kiểm tra thứ đựng bên trong túi. Đôi giày da màu nâu, chất lượng tốt với những đốm bẩn lờ mờ không đều trên bề mặt, do vệt bùn khô để lại. Một bên thắt dây giày màu nâu, bên kia lại thắt dây màu đen. Walsh lật cái túi lại và nhìn phần đế.
“Thú vị đấy,” ông nói. “Gót mới với đinh tán kim loại. Khó mà tìm được dấu vết gì. Cỡ giày bao nhiêu?”
“Cỡ 8, thưa sếp.” Jones chỉ về phía chiếc giày buộc dây nâu. “Ta có thể xác minh từ cái này.”
Walsh gật đầu. “Bảo người của cậu lên nhà họ tìm hiểu cỡ giày của Fred Phillips và Jonathan Maybury, rồi xuống làng xem Robinson và quân của cậu ta tiến hành đến đâu rồi. Nếu tất cả đã xong xuôi, tôi muốn họ trở về đây.”
“Vâng thưa sếp,” Jones trả lời với vẻ không mấy hào hứng.
Walsh đứng dậy. “Tôi sẽ ở lại hầm trữ đông cùng trung sĩ McLoughlin.”
Robinson quay lại quán rượu khi khách hàng cuối cùng vừa rời đi.
“Xin lỗi, anh bạn,” chủ quán nhã nhặn nói, chợt nhớ ra anh chàng kia đã mua một vại bia trước đó. “Quá muộn rồi, giờ không thể phục vụ cậu được nữa.”
Robinson giơ thẻ ngành ra. “Trung sĩ Robinson, thưa ông Clarke. Tôi đang lấy lời khai quanh làng. Ông là người cuối cùng tôi ghé thăm.”
Paddy Clarke chống hai khuỷu tay lên quầy bar và cười khùng khục. “Cái xác ở điền trang, tôi cho là vậy. Mọi người đồn ầm lên về chuyện đó vào giờ ăn trưa. Tôi chẳng thể cung cấp thông tin gì cho cậu được đâu.”
Nick Robinson ngồi ghé lên chiếc ghế ở quầy và mời thuốc Paddy trước khi lấy một điếu cho mình. “Ông hẳn sẽ ngạc nhiên đấy. Mọi người thường biết nhiều hơn họ tưởng.”
Anh đánh giá nhanh người đàn ông đối diện và quyết định quán rượu là một nơi mà cách tiếp cận thảng thắn sẽ ăn điểm. Paddy to lớn, chất phác với nụ cười luôn thường trực trên môi cùng đôi mắt sắc sảo. Không phải người dễ qua mặt, Robinson thầm nghĩ. Đôi bàn tay ông ta to như tảng thịt lớn.
“Chúng tôi quan tâm đến những người lạ đi ngang qua Streech trong vài tháng qua, ông Clarke ạ.”
Paddy cười ha hả. “Cho tôi cắt ngang một chút. Tôi gặp người lạ ở đây mỗi ngày, những người chọn đường này để trở về phía Tây, và dừng lại ăn trưa. Không giúp được cậu rồi.”
“Tôi hiểu, nhưng có người đã nhìn thấy một lão già lang thang, và nghĩ rằng lão ta có thể từng vào đây. Ông nhớ ra chút nào không?”
Paddy liếc nhìn anh qua làn khói thuốc. “Buồn cười thật. Chính tôi cũng suýt quên mất lão ta, nhưng giờ cậu đề cập đến, thì đúng là tôi từng gặp một ông lão lang thang thật. Lão ta nói mình đi bộ từ Winchester đến. Nhìn như thể một đống giẻ rách, ngồi ở góc kia kìa.” Ông hất hàm về cái góc cạnh lò sưởi. “Vợ tôi muốn đuổi lão đi, nhưng tôi chẳng có lý do gì để làm thế. Lão ta có tiền và cư xử lễ độ, uống một vài vại bia đến tận giờ đóng cửa rồi thất thểu đi dọc theo bức tường của điền trang. Cậu nghĩ lão ta liên quan à?”
“Không hẳn. Chúng tôi mới chỉ đang dò tìm các manh mối thôi. Lúc đó là khi nào? Ông có nhớ không?”
Người đàn ông to lớn nghĩ ngợi trong thoáng chốc. “Bấy giờ bên ngoài đang mưa rả rích. Hẳn lão ta vào đây đế hong người. Vợ tôi có thể nhớ thời điểm chính xác. Tôi sẽ hỏi bà ấy và gọi lại cho cậu.”
“Bà ấy không có ở đây sao?”
“Đi lấy hàng ở đại lý rồi. Bà ấy sẽ sớm về thôi.”
Nick Robinson kiểm tra cuốn sổ ghi chép. “Tôi được biết ông cũng từng giúp đỡ vài đoàn khách bị mắc kẹt.”
“Khoảng hai lần một năm, khi lũ ngốc đó thích đi đường tắt. Kể cũng tốt cho việc kinh doanh. Họ thường cảm thấy biết ơn nên ghé qua đây và ăn uống.” Ông ra hiệu về phía cửa sổ. “Đó là lỗi của hội đồng. Họ cắm cái biển hiệu chết tiệt cho khu cắm trại East Deller trên đỉnh đồi. Tôi đã phàn nàn nhưng chẳng ai chịu để ý cả.”
“Thế ông có ấn tượng gì về những người được cứu hộ không? Bất cứ điểm bất thường nào?”
“Một gã lùn người Đức cụt một chân đi với bà vợ nhìn như Raquel Welch*. Như thế là bất thường với tôi rồi.”
Nick Robinson mỉm cười ghi chép. “Không hề bất thường.”
“Cậu cũng không hỏi gì nhiều nữa đúng không?”
“Tuỳ thuộc vào ông.” Bất giác, viên cảnh sát hạ thấp giọng. “Còn ai khác ở đây không?”
Đôi mắt Paddy hơi nheo lại. “Không. Để làm gì vậy?”
“Một cuộc trò chuyện riêng tư, thưa ông, tốt hơn hết là không nên có người nghe trộm,” Robinson liếc đôi bàn tay to lớn.
Paddy gí đầu thuốc đang cháy vào gạt tàn bằng những ngón tay to như chiếc xúc xích. “Tiếp đi.” Tông giọng của ông có vẻ không chào đón lắm.
“Cái xác được tìm thấy trong hầm trữ đông ở điền trang. Ông có biết cái hầm đó không?”
“Tôi biết có một cái hầm. Nhưng không rõ vị trí cụ thể.”
“Ai nói cho ông?”
“Có thể là kẻ cho tôi biết có một cây sồi hai trăm tuổi trong rừng,” Paddy nhún vai. “Từ tờ rơi của David Maybury. Tôi không chắc lắm.”
“Tờ rơi nào vậy?”
“Tôi có một bản in ở đâu đó. David nảy ra ý tưởng lừa lọc đám khách du lịch, muốn biến điền trang thành một Stourhead* khác. Hắn vẽ bản đồ của khu đất với đoạn giới thiệu ngắn gọn về lịch sử của ngôi nhà và in ra hàng trăm bản. Phí công vô ích. Hắn đâu chịu bỏ tiền quảng bá, nên chẳng có thằng điên nào biết đến điền trang Streech cả.” Paddy khịt mũi nhạo báng. “Thằng khốn đần độn. Hắn là một tên bần tiện, lúc nào cũng mong nhận về miễn phí.”
Đôi mắt Robinson sáng lên hứng thú. “Ông có biết người nào khác còn giữ tờ rơi đó không?”
“Chúng ta đang nói đến chuyện từ mười hai hay mười ba năm trước, trung sĩ ạ. Theo tôi còn nhớ, David phát cho bất cứ ai có thể đưa chúng cho khách du lịch. Phải thử những cách mới mẻ, hắn bảo thế. Tôi chẳng biết liệu còn ai giữ không nữa.”
“Ông có thể tìm bản của ông không?”
Người đàn ông lộ vẻ lưỡng lự. “Chúa mới biết giờ nó đang ở đâu, để tôi tìm xem. Có thể vợ tôi biết.”
“Cảm ơn. Có vẻ ông biết Maybury khá rõ.”
“Cũng chỉ đến vậy thôi.”
“Maybury là kiểu người thế nào? Xuất thân của anh ta ra sao?”
Paddy nhìn chăm chăm lên trần nhà, như đang góp nhặt lại kí ức. “Tầng lớp trung lưu khá giả, có thể nói như vậy. Hắn là con trai một thiếu tá quân đội đã hi sinh trong chiến tranh. Tôi nghĩ David cũng chẳng biết nhiều về cha mình, nhưng đại tá Gallagher thì hiểu rõ. Hẳn đó chính là lý do khiến ông ấy chấp thuận cuộc hôn nhân của Phoebe, ông ấy tưởng thằng con cũng giống cha nó.” Môi ông cong lên thành một nụ cười mỉa mai. “Khó lắm. David là một thằng khốn từ trong ra ngoài. Người ta đồn rằng, khi mẹ hắn chết và hắn phải lựa chọn hoặc là đi tới đám tang, hoặc là tới giải đua ngựa Derby, hắn đã chọn Derby chỉ bởi sẽ có cơ hội cưỡi con ngựa yêu thích.”
“Ông có vẻ không thích Maybury?”
Paddy nhận thêm một điếu thuốc khác. “Hắn là đồ cặn bã, thích thú với cảm giác được dìm người khác xuống, nhưng hắn cung cấp rượu giá rẻ cho tôi và là một trong những khách sộp của tôi nữa. Chỉ mua bia chỗ tôi và hầu như tối nào cũng uống ở đây.” Ông rít một hơi thuốc dài. “Chẳng có ai nuối tiếc trước sự biến mất của hắn, trừ tôi. Hắn bỏ đi mà còn nợ tôi hơn trăm bảng. Tôi cũng chẳng quan tâm lắm nếu không phải đã trót kí hợp đồng mua bán rượu với công ty chết tiệt của hắn.”
“Ông vừa bảo ‘hắn bỏ đi’. Ông không nghĩ anh ta bị giết sao?”
“Tôi chẳng thấy có gì khác biệt. Bỏ đi hay bị giết cũng như nhau. Qua một đêm, việc kinh doanh đã tăng gấp đôi. Nhờ truyền thông, Streech trở nên khá nổi tiếng. Bọn người có sở thích quái dị dừng lại ở đây để thưởng thức đặc sản địa phương trước khi trèo lên đồi và trố mắt nhìn qua cổng điền trang.” Ông thoáng thấy cái nhìn chán ghét trên gương mặt của người cảnh sát và nhún vai. “Tôi là dân kinh doanh. Và giờ chuyện tương tự cũng sẽ xảy ra thôi. Đây chính là lý do khiến vợ tôi lại phải đến đại lý. Tin tôi đi, rồi sẽ có một đám nhà báo tới đây vào tối nay. Tôi thấy thương cho những phụ nữ khốn khổ đó. Họ sẽ chẳng thể đặt chân ra khỏi cổng mà không bị cánh săn tin bám riết.”
“Ông biết rõ về họ không?”
Ông ta đột nhiên cảnh giác. “Cũng tương đối.”
“Ông có biết gì về chuyện họ đồng tính không?”
Paddy Clarke cười khùng khục. “Ai đã nói chuyện này với cậu thế?” Ông hỏi.
“Vài người có đề cập,” Robinson nhã nhặn đáp. “Vậy chuyện này là bịa đặt sao?”
“Đúng là thứ tâm tưởng thối hoắc chẳng khác nào nước cống,” Paddy nói với vẻ ghê tởm. “Ba người phụ nữ ấy chỉ sống cùng nhau, bảo vệ nhau, tự lo chuyện của họ, nhưng những kẻ rảnh nợ toàn thêu dệt.” Ông lại khịt mũi phỉ báng. “Hai trong số họ có con. Khó mà đồng tính được.”
“Anne Cattrell không có con, và đã thừa nhận với một đồng nghiệp của tôi rằng cô ta đồng tính.”
Paddy cười rú lên, đến mức sặc cả khói thuốc. “Cho cậu biết thêm một thông tin nhé,” đôi mắt ông nhoè nhoẹt nước. “Anne có thể dạy Flona Richmond* vài bài học về chuyện làm tình đấy. Trời ạ, người tình của cô ta có khi còn nhiều hơn số bữa tối cậu được ăn nóng sốt. Đồng nghiệp của cậu là người thế nào? Một thằng ngốc hợm hĩnh, tôi đoán thế. Anne rất thích biến những kẻ như vậy thành trò hề.”
Robinson không muốn đi sâu vào chủ đề liên quan đến Andy McLoughlin. “Tại sao lại chẳng có ai đề cập đến điều đó nhỉ? Chắc chân người dân ở đây cũng kì thị chuyện lang chạ ngang với đồng tính nữ chứ.”
“Bởi cô ta kín đáo, chứ không làm um lên. Cậu có bao giờ đi bậy lên cửa nhà mình không? Dù sao đi nữa, cũng chẳng có ai ở đống rác này được cô ta cho vào phòng đâu.” Ông cay nghiệt nói. “Cô ta thích đàn ông vừa phải có trí tuệ vừa phải có cơ bắp.”
“Làm sao ông biết tất cả những chuyện này, ông Clarke?”
Paddy chăm chăm nhìn anh. “Không cần quan tâm làm sao tôi biết. Bí mật, cậu đã nói thế còn gì, và đây là bí mật. Tôi đang giúp cậu hiểu đúng mọi chuyện đấy. Đã có đủ chuyện thối tha thêu dệt về những phụ nữ đó rồi. Cậu sẽ bảo tôi họ là một hội phù thuỷ cũng nên. Mô típ này cũng được nhiều người ưa thích, và Fred già tội nghiệp bị ví như con ngựa đen của quỷ dữ vì quá khứ tù tội của ông ấy.”
“Tôi sẽ giữ bí mật,” Robinson nói sau một thoáng ngập ngừng. “Tôi được nghe từ một số nguồn tin rằng ông biết ít nhiều về mấy cái bao cao su dùng rồi mà chúng tôi tìm thấy gần hầm trữ đông.”
Clarke trông như muốn giết người. “Những nguồn nào?”
“Một số người,” Robinson nói chắc nịch. “Nhưng tôi sẽ không tiết lộ về họ, cũng như không tiết lộ bất cứ điều gì ông vừa nói khi chưa được ông cho phép. Chúng tôi tiến hành trong bí mật tuyệt đối. Chúng tôi cần thông tin.”
“Quỷ tha ma bắt mớ thông tin ấy đi,” Paddy hằm hằm gí sát mặt vào Robinson. “Tôi là chủ quán rượu, chứ không phải lũ cảnh sát chết giẫm. Cậu mới là người được trả lương. Cậu tự đi mà lo công việc bẩn thỉu của cậu.”
Mười năm trong lực lượng đã tôi luyện cho Nick Robinson chút gian xảo nhất định. Anh nhét bút vào áo khoác và đứng dậy. “Đó là quyền của ông, thưa ông. Nhưng lúc này, dư luận đang chĩa mũi dùi về phía cô Maybury và các bạn. Họ có vẻ là những người duy nhất đủ am hiểu về khu đất để giấu một xác chết trong hầm trữ đông. Tôi dám chắc, nếu chúng tôi không thu thập được thêm thông tin, ba người họ sẽ bị buộc tội âm mưu dàn xếp án mạng này.”
Một khoảng lặng kéo dài khi người chủ quán đăm đăm nhìn viên cảnh sát. Robinson thấy đúng ra mình nên chê trách Clarke - nếu Amy Ledbetter nói đúng, rằng người đàn ông này là một tên đực rựa có nhu cầu tình dục quá cao - nhưng thay vào đó, anh lại thấy quý mến ông ta. Dù lối sống có thế nào đi chăng nữa, Clarke vẫn nhìn thẳng vào mắt người đối diện khi nói chuyện với họ.
“Chết tiệt!” Paddy đột nhiên thốt lên, đấm nắm tay chắc nịch lên bàn. “Ngồi xuống, tôi sẽ lấy cho cậu một vại bia, nhưng nếu cậu dám hé răng dù chỉ nửa lời với vợ tôi thì tôi sẽ treo dái cậu lên cho mà xem.”
Walsh đến hầm trữ đông cùng túi nhựa đựng đôi giày, McLoughlin đã đứng chờ ông ở lối vào. “Tôi được báo rằng ông muốn gặp tôi, thưa sếp.”
Walsh cởi áo khoác, ngồi bệt xuống mặt đất hun nóng dưới nắng, gập gọn chiếc áo và đặt ngay ngắn bên cạnh. “Ngồi xuống đi, Andy. Tôi cần nói vài lời kín đáo, không muốn để ai trong nhà nghe thấy. Sự việc chết giẫm này ngày càng trở nên phức tạp và tôi không muốn bất cứ thông tin nào lọt ra ngoài.” Ông săm soi gương mặt rúm ró của McLoughlin và đột nhiên cáu kỉnh. “Có chuyện gì với cậu vậy? Trông cậu kinh khủng quá.”
McLoughlin lấy ví và đám tiền lẻ ra khỏi túi sau rồi ngồi xuống, cách sếp mình một quãng ngắn, cố tìm tư thế thoải mái cho đôi chân nhưng bất lực. “Không có gì.” Anh nhìn Walsh qua hai mắt khép hờ. McLoughlin chưa bao giờ xác định được là mình thích hay ghét ông sếp. Vì một lẽ, dù bản tính cáu bẳn nhưng đôi khi, ông ta lại tử tế đến bất ngờ. Tuy nhiên, không phải hôm nay.
Anh chăm chú nhìn Walsh và chỉ thấy một người đàn ông bình thường, gầy gò, đang tỏ vẻ ngoan cố bởi chế độ phân quyền ủng hộ điều đó. Anh bỗng thèm được lôi câu chuyện về cuộc tấn công Anne Cattrell của mình sáng nay làm mồi nhử chỉ để đón đợi phản ứng của Walsh. Liệu ông ta có sủa không? Hay sẽ cắn? Hẳn là sủa, McLoughlin thích thú dè bỉu. Hiện giờ, khả năng đối mặt với sự khó chịu của Walsh cũng chẳng khá hơn anh đâu. Mọi chuyện sẽ khác, nếu cô ta viết đơn kiện. Và công lý được thực thi, việc gì phải đến sẽ đến. Anh tin chắc là thế, và chuyện ấy khiến anh thấy nhẹ nhõm hơn là lo lắng. Vấn đề được giải quyết triệt để và dứt khoát, triệt để và dứt khoát hơn nhiều nếu để anh tự đứng ra dàn xếp. Anh thậm chí còn tức giận khi cô ta không tát mình.
Walsh tóm tắt xong bản báo cáo của bác sĩ pháp y và hỏi. “Thấy sao?”
Cánh cửa chớp cứ lách cách đóng mở điên cuồng trong đầu McLoughlin. Anh nhìn Walsh bằng đôi mắt trống rỗng một lúc, rồi lắc đầu. “Bác sĩ bảo có khả năng nạn nhân đã bị cắt ngón tay à? Ông ta chắc chắn chứ?”
Walsh gầm gừ mỉa mai. “Ông ta chẳng dám chắc gì hết. Bảo là chưa đủ kinh nghiệm tiếp xúc với các tử thi bị thú vật ăn thịt. Có điều, con chuột quái thai nào đó đã chọn nhai đúng vị trí hai ngón cụt của Maybury.”
“Anh sẽ phải buộc bằng được Webster khẳng định chuyện đó.” McLoughlin trầm ngâm đáp. “Vụ cắt ngón tay kia sẽ tạo nên khác biệt lớn đấy.” Cảnh quay đen trắng đầy khiếp đảm về thi thể của Mussolini*, với đôi chân treo ngược vào cột đèn sau khi đám đông cuồng nộ lao vào cấu xé bỗng hiện ra trong tâm trí anh. Những gương mặt căm phẫn, giận dữ, hung tợn, hả hê vì được trả thù. “Khác biệt rất lớn,” anh khẽ nói.
“Tại sao?”
“Đó có vẻ không phải là Maybury.”
“Cậu cũng tệ hệt như Webster,” Walsh gầm gừ. “Chưa chi đã nhảy bổ vào kết luận. Để tôi nói cho cậu nghe nhé, Andy, cái xác đó giống xác của Maybury hơn bất kì ai khác. Không thể nào có chuyện ngôi nhà này lại tình cờ trở thành trung tâm của hai cuộc điều tra riêng rẽ trong vòng mười năm qua, mà chắc chắn phải là, như tôi đã nói ngay từ ban đầu, chính người vợ đã sát hại chồng mình.”
“Ngay cả cô ta cũng không thể giết hắn hai lần được, sếp ạ. Nếu cô ta làm việc đó mười năm trước, thì nạn nhân trong hầm trữ đông không phải là hắn. Còn nếu hắn là kẻ nằm trong hầm trữ đông thì lạy Chúa, cô ta thật dã man.”
“Tự làm tự chịu thôi,” Walsh lạnh lùng nói.
“Có lẽ thế, nhưng anh đã để những suy nghĩ về Maybury lớn dần thành nỗi ám ảnh rồi. Anh đâu thể trông chờ cả đám chúng tôi lần theo những manh mối sai lầm chỉ để chứng minh rằng mình đúng.”
Walsh thọc tay vào áo khoác để tìm ống tẩu rồi trầm ngâm nhồi thuốc. “Tôi có linh cảm, Andy ạ.” Châm lửa và rít một hơi xong, ông tiếp. “Ngay khi nhìn thấy đống bầy nhầy đó vào ngày hôm qua, tôi đã biết. Tìm ra mày rồi, thằng khốn. Tôi đã tự nhủ với bản thân thế đấy.” Ông ngẩng lên và nhìn thẳng vào mắt McLoughlin. “Được rồi, được rồi, chàng trai, tôi không phải thằng ngốc. Tôi không định lôi kéo cậu bằng được chỉ vì linh cảm của tôi đâu, nhưng đến giờ, sự thật là cái xác chết tiệt đó vẫn chưa được nhận dạng. Ai đã lấy mớ quần áo? Bộ răng giả đi đâu? Vì sao không có dấu vân tay nào? Ồ, chúng bị xoá sạch rồi, và có lẽ chúng bị xoá sạch vì đó là Maybury hoặc vì đó không phải Maybury.”
“Thế chúng ta bắt đầu từ đâu đây? Những người được thông báo mất tích à?”
“Đã kiểm tra. Dù sao, cứ tập trung vào nội hạt đã. Chúng ta sẽ tiến hành điều tra rộng thêm nếu cần thiết, nhưng dựa vào các bằng chứng có được đến thời điểm hiện tại, nhiều khả năng chỉ là người quanh vùng. Dường như chúng ta đã có một ứng viên. Tên Daniel Thompson nào đó ở East Deller. Mô tả khá khớp và ông ta cũng mất tích trong khoảng thời gian Webster nghĩ nạn nhân bị giết.” Ông hất hàm về phía đôi giày trong túi nhựa. “Khi biến mất, ông ta đi một đôi giày buộc dây màu nâu. Jones tìm thấy thứ này trong rừng cây giáp điền trang.”
McLoughlin rít qua kẽ răng. “Nếu đúng là của ông ta, vậy có người nào nhận dạng được chúng không?”
“Bà vợ.” Walsh nhìn McLoughlin lóng ngóng tìm cách đứng dậy. “Chưa hết,” ông cáu kỉnh quát. “Nói nghe xem, cậu tiến triển đến đâu rồi. Đã nói chuyện với cô nàng Cattrell chưa? Biết được gì không?”
McLoughlin bứt mấy ngọn cỏ bên cạnh. “Vợ chồng Phillips có họ thật là Jefferson. Cả hai đều bị kết án năm năm tù vì tội giết người thuê nhà là lan Donaghue. Tên này đã cưỡng bức và giết chết con trai họ. Thằng bé vẫn còn là một đứa trẻ, 12 tuổi, được sinh ra khi bà mẹ đã bốn mươi. Cattrell thu xếp công việc cho họ ở đây.” Anh ngước lên. “Họ có khả năng đấy, sếp ạ. Việc gì đã từng làm một lần, thì cũng có thể làm thêm lần nữa.”
“Khác nhiều chứ. Như tôi nhớ, họ chẳng giấu giếm gì chuyện hành quyết Donaghue, thậm chí còn tự mở phiên toà giả định trước mặt bạn gái hắn và treo cổ hắn lên khi hắn thú nhận. Cô ta đã trở thành nhân chứng biện hộ cho họ, đúng không? Làm sao so được với vụ này.”
“Có lẽ thế,” McLoughlin nói. “Nhưng họ cũng đã chứng minh rằng mình có khả năng giết người để trả thù và họ khá gắn bó với cô Maybury. Chúng ta không thể bỏ qua chuyện đó.”
“Cậu đã lấy lời khai của họ chưa?”
McLoughlin nhăn nhó. “Một chút. Tôi có hỏi bà ta sau cô Cattrell. Như bắt hắn mở miệng. Mụ già cau có.” Anh rút cuốn sổ ghi chép từ túi sơ mi ra và lật giở. “Bà ta đã để lộ một điều tôi cho là khá thú vị. Tôi đã hỏi bà ta có thấy hạnh phúc khi ở đây không. Bà ta bảo, ‘Điều khác biệt duy nhất giữa một pháo đài và một nhà tù là những cánh cửa của pháo đài được khoá từ bên trong.’”
“Thế thì có gì thú vị?”
“Anh có miêu tả nhà mình như một pháo đài không?”
“Thì tuổi già lẩn thẩn mà.” Walsh sốt ruột phẩy tay. “Còn gì nữa không?”
“Diana Goode có một cô con gái tên Elizabeth. Cô bé cũng thường tới đây nghỉ cuối tuần mỗi khi rảnh rỗi. 19 tuổi, sở hữu một căn hộ ở London do người cha mua tặng, làm nhân viên ở một trong số những sòng bạc lớn nhất mạn Tây London*. Cô bé có chút ngông cuồng, hoặc đó là ấn tượng của mẹ cô bé.”
Walsh lẩm bẩm.
“Phoebe Maybury có giấy phép sử dụng súng săn,” McLoughlin đọc tiếp những ghi chú của mình. “Cô ta có thể giải thích về mấy vỏ đạn. Theo Fred, có một đàn mèo hoang quanh quẩn bên trong và xung quanh điền trang, vẫn thường coi vườn rau như toilet nhà chúng. Cô Maybury đã dùng đến khẩu súng để doạ chúng. Nhưng Fred nói, sau đó, cô ta sa đà vào sở thích ấy, giống như cách để xả cơn nóng giận vậy.”
“Thế có ai biết gì về mấy cái bao cao su không?”
McLoughlin nhướng một bên lông mày với vẻ chua chát. “Không,” anh cố kìm nén. “Nhưng tất cả đều thích thú trong việc làm tôi bẽ mặt. Fred bảo, trước đây ông ta cũng từng cào ra được vài cái. Tôi có hỏi lại về quá trình phát hiện cái xác. Lời khai của ông ta vẫn vậy, không có gì khác biệt.” Anh tóm tắt lại mọi việc cho Walsh nghe.
Khi Fred đến hầm trữ đông, cánh cửa đã bị đám mâm xôi che lấp hoàn toàn. Ông ta trở về tìm đèn pin cùng lưỡi hái để phát rạp bụi cây. Ông ta định lấy xe đẩy chở đống gạch đi và muốn dọn quang con đường. Khi dọn xong, ông ta thấy cánh cửa đã hé mở phân nửa. Không dấu hiệu nào cho thấy mới có người đi qua lối đó. Tiếp theo, ông ta phát hiện cái xác, và chỉ dám ngừng lại trong thoáng chốc, đủ để hất văng cánh cửa rồi bỏ chạy.
“Cậu có hỏi kĩ ông ta không?”
“Tôi hỏi đi hỏi lại đến ba bốn lần, nhưng Fred cũng hệt như mụ vợ. Ông ta trả lời nhất quán, không tự nguyện cung cấp thông tin. Ông ta chỉ nói có thế và cứ nhai đi nhai lại. Nếu Fred có phạt bụi mâm xôi sau khi tìm thấy cái xác, ông ta cũng không chịu thừa nhận đâu.”
“Cậu phán đoán thế nào, Andy?”
“Cũng giống anh. Rất có khả năng ông ta đã phát hiện ra vô số bằng chứng cho thấy có sự đi lại qua lối đó và cố gắng xoá sạch mọi thứ ngay sau khi thấy cái xác.” McLoughlin liếc nhìn đống cành lá te tua nằm hai bên cửa vào. “Ông ta đã làm rất tốt. Giờ thì chẳng thể biết đã có bao nhiêu người đi qua đây và vào thời điểm nào nữa rồi.”
Elizabeth và Jonathan gặp được hai bà mẹ và Anne giữa lúc họ uống cà phê trong phòng khách. Benson cùng Hedges tỉnh dậy, ngóc đầu khỏi tấm thảm, chào đón những người mới đến, đánh hơi bàn tay, cọ khẽ lên chân họ và hân hoan lăn qua lăn lại. Ngược lại, ba người phụ nữ có vẻ e dè. Phoebe chìa một tay cho con trai. Diana vỗ nhẹ xuống chỗ bên cạnh ra hiệu ngồi xuống. Còn Anne gật đầu.
Phoebe lên tiếng trước. “Chào cưng. Chuyến đi ổn cả chứ?”
Jonathan ngồi ghé lên tay vịn chiếc ghế của Phoebe và cúi xuống hôn nhẹ vào má mẹ. “Ổn ạ. Lizzie đã thuyết phục ông chủ cho em ấy nghỉ một buổi tối và đến gặp con ở bệnh viện. Con bỏ một tiết học chiều. Đến trưa thì tới cao tốc M3. Chúng con vẫn chưa ăn gì,” cậu thêm vào như thể chợt nhớ ra.
Diana đứng dậy. “Để dì lấy gì đó cho mấy đứa.”
“Chưa cần đâu ạ,” Elizabeth tóm lấy tay mẹ và kéo cô ngồi xuống sofa. “Chậm vài phút cũng có sao đâu. Kể cho chúng con nghe xem có chuyện gì đi. Con có hỏi Molly vài câu trong bếp nhưng dường như bà ấy không muốn kể chi tiết. Cảnh sát đã biết cái xác là của ai chưa? Có thông tin gì về diễn biến vụ án không?” Cô gái buột miệng hỏi với đôi mắt sáng rực mà chẳng buồn quan tâm đến cảm xúc của những người xung quanh.
Những câu hỏi của cô vấp phải sự im lặng đến bất ngờ. Trong vòng hai mươi tư giờ qua, ba người phụ nữ này đã vô thức thiết lập trạng thái cảnh giác cao độ. Câu hỏi nào hẳn cũng có chủ đích và cần thận trọng cân nhắc câu trả lời.
Không mấy ngạc nhiên, Anne là người lên tiếng. “Quả thật đáng sợ nhỉ? Óc phán đoán của mấy đứa càng lúc càng kém đi rồi đấy.” Cô búng tàn thuốc vào lò sưởi. “Cứ hình dung xem ở những nước có chế độ cảnh sát chuyên chế thì sao. Mấy đứa sẽ chẳng dám tin ai nữa cả.”
Diana nhìn bạn với ánh mắt biết ơn. “Cậu nói với chúng đi. Mình không biết phải nói thế nào trong những tình huống kiểu này. Sở trường của mình là mấy giai thoại thú vị, nhấn nhá câu chữ thôi. Khi toàn bộ sự việc qua đi, mình sẽ trau chuốt lại, phóng đại cho hài hước để tặng mọi người một câu chuyện mua vui trong bữa tối.” Cô lắc đầu. “Nhưng không phải bây giờ. Hiện tại, nó chẳng buồn cười gì hết.”
“Ôi, mình không biết đấy,” Phoebe ngạc nhiên nói. “Sáng nay, mình đã cười thoả thuê khi Molly tóm được trung sĩ McLoughlin cạnh tủ búp phê tầng dưới. Bà ấy đã dùng chổi xua anh ta ra. Tên đàn ông tội nghiệp trông vô cùng hoảng loạn. Có vẻ anh ta đang cố tìm nhà vệ sinh.”
Thoáng chút bồn chồn lẫn trong tiếng cười khúc khích của Elizabeth. “Trông anh ta thế nào ạ?”
“Bối rối,” Anne lạnh lùng nói, tóm lấy hai bên cổ áo và kéo sát lại. “Nào, Lizzie, con muốn hỏi điều gì nhỉ? Họ có biết cái xác đó của ai không à? Không. Họ có nói gì đến diễn biến vụ án không ư? Không.” Cô nhoài người tới trước và giơ những ngón tay lên đế chỉ ra từng điểm. “Theo như tất cả chúng ta đều biết, tình huống hiện tại là thế này.” Một cách từ tốn và rõ ràng, cô thuật lại chi tiết về việc tìm ra cái xác và quá trình di dời nó, khám nghiệm hầm trữ đông và lùng sục cả khu đất cùng những câu hỏi điều tra của cảnh sát. “Dì nghĩ, tiếp theo đây sẽ là một lệnh khám xét.” Cô quay sang Phoebe. “Cũng hợp lý thôi. Họ sẽ muốn dùng lược chải chấy để cào qua cả ngôi nhà chứ chẳng đùa. Mà, mình không hiểu sao tối qua họ không làm như thế luôn. Mình cứ thắc mắc mãi, nhưng mình đoán, họ đang đợi kết quả khám nghiệm tử thi. Cảnh sát muốn biết rõ họ cần tìm kiếm thứ gì. Xét một vài khía cạnh thì như thế còn khiến mọi việc tồi tệ thêm.”
Jonathan quay sang mẹ. “Mẹ nói trên điện thoại là họ muốn hỏi chúng con, về cái gì thế ạ?”
Phoebe gỡ kính xuống và dùng vạt áo lau mắt kính. “Họ muốn lấy tên của bất cứ người nào đã được các con chỉ cho vị trí hầm trữ đông.” Cô ngước nhìn con trai. Cậu tự hỏi, như bao lần trước đó, rằng vì sao mẹ mình lại đeo kính, trong khi nó làm mẹ cậu xấu đi. Không có kính, Phoebe trông thật xinh đẹp. Hồi còn nhỏ, có lần cậu đã thử nhìn qua cặp kính. Khi phát hiện đó là tròng không độ, cậu cảm thấy tức tưởi như bị phản bội vậy.
“Thế còn Jane?” Cậu hỏi ngay. “Họ cũng sẽ hỏi em ấy ạ?”
“Ừ.”
“Mẹ không được để họ làm thế,” Jonathan vội nói.
Phoebe nắm lấy bàn tay con trai, ấp trong đôi tay mình. “Mẹ và hai dì nghĩ, chúng ta không thể ngăn nổi họ, cưng ạ, và nếu chúng ta cứ cố làm thế thì chỉ càng khiến mọi chuyện tồi tệ hơn thôi. Em con sẽ có mặt ở nhà vào ngày mai. Anne bảo chúng ta nên tin tưởng con bé.”
Jonathan giận dữ đứng bật dậy. “Dì điên rồi, dì Anne. Em ấy sẽ huỷ hoại bản thân và cả mẹ con mất.”
Anne nhún vai. “Chúng ta có rất ít lựa chọn, Jonny à.” Cô cố tình dùng cái tên hồi nhỏ của cậu. “Dì nghĩ, con nên tin tưởng em gái mình hơn và cầu nguyện đi. Thành thật mà nói, đó là tất cả những điều chúng ta có thể làm được vào lúc này.”