Hầm Trữ Đông

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19

❊ ❊ ❊

19

Điện thoại réo vang trên bàn làm việc của McLoughlin vào sáng hôm sau.

“Đồ khốn nhà cậu, Andy. Tôi đã có manh mối về lão già lang thang cho cậu rồi,” bạn anh ở Southampton nói. “Một trong các trung sĩ tuần tra đã nhận ra lão theo mô tả đó. Có vẻ anh ta đã đón lão già vào khoảng một tuần trước và đưa lão đến một trung tâm bảo trợ ở đường Shirley. Không đảm bảo lão vẫn còn ở đấy nhưng tôi sẽ cho cậu địa chỉ. Cậu có thể tự mình kiểm tra. Lão tên là Wally Ferris và thường xuyên xuất hiện ở đây suốt mùa hè. Trung sĩ Jordan biết lão nhiều năm rồi.” McLoughlin viết địa chỉ: Trung tâm bảo trợ Cổng Thiên Đường, và cảm ơn bạn. “Cậu nợ tôi một lần đấy,” người ở đầu dây bên kia vui vẻ nói và cúp máy.

Cổng Thiên Đường là một ngôi nhà kiểu Victoria to lớn và biệt lập, rõ ràng rất được ưa chuộng trong thời kì trước, khi các loại xe gắn máy chưa ra đời, nhưng giờ có vẻ không còn phổ biến bởi đường phố đông người nhộn nhạo trước mặt tiền.

Wally Ferris chẳng có gì giống với mô tả McLoughlin gửi đi, ngoại trừ độ tuổi và chiều cao. Lão trông rất sạch sẽ. Hai má được kì cọ đến đỏ hồng, ăn mặc là lượt chỉnh tề với chiếc áo trắng, quần đen và đôi giày lịch sự. Lão ta trông giống một nam sinh lớn tuổi vào ngày đầu tiên đến lớp thì đúng hơn. Họ gặp mặt trong phòng khách và Wally ra hiệu về phía một chiếc ghế.

“Ngồi xuống đi,” lão nói.

McLoughlin tỏ rõ vẻ thất vọng. “Thôi khỏi cần,” anh đáp. “Nói thật, tôi không nghĩ ông là người tôi cần tìm.”

Wally cũng nhanh chóng đổi ý và lao bước về phía cửa. “Càng nhàn cho tôi, con giai ạ. Tôi không thoải mái với đám nhặng xanh các cậu, và đó nà sự thật.”

“Khoan đã,” McLoughlin nói. “Ít nhất hãy xác minh đã.”

Wally quay lại và trừng mắt nhìn anh. “Thế thì nghĩ cho kĩ đi nhé. Tôi chỉ ở đây vì bà giám đốc yêu cầu thôi. Gọi nà có qua có nại thôi. Cậu muốn gì?”

McLoughlin ngồi xuống. “Ngồi xuống đi,” anh lặp lại lời của Wally.

“Giời, cậu đúng nà kẻ nừng khừng, không nẫn đi đâu được. Không thể quyết định được thứ gì.” Lão ghé mông lên chiếc ghế mãi tận phía xa.

“Lúc đến đây ông mặc gì?” McLoughlin hỏi.

“Đếch thấy niên quan gì đến cậu.”

“Tôi có thể hỏi bà giám đốc,” McLoughlin nói.

“Cơ mà cậu hỏi nàm gì?”

“Chi cần trả lời thôi. Ông sớm trả lời, thì tôi càng sớm để ông yên.”

Wally nghiến răng ken két. “Áo khoác xanh, mũ nâu, giày đen, áo ni xanh biển và quần hồng,” lão thuật lại một cách trơn tru.

“Ông mặc chúng lâu chưa?”

“Đủ nâu.”

“Bao lâu?”

“Thời gian khác nhau. Có mũ và áo khoác gần năm năm, có thể nói vậy.”

“Còn quần.”

“Mười hai tháng gì đó. Hơi rách, nhưng vẫn vừa vặn. Này, cậu không nghĩ tôi thó chúng đấy chứ? Tôi được cho đấy.” Trông lão có vẻ phẫn nộ.

“Không, không,” McLoughlin nhẹ nhàng nói. “Không phải vậy đâu. Sự thực là, Wally ạ, chúng tôi đang cố lần theo một người đàn ông mất tích và chúng tôi nghĩ ông có thể giúp chúng tôi.”

Wally đặt chân xuống sàn, một chân trước một chân sau, ra chiều định bỏ chạy. “Tôi chả biết cái quái gì hết,” lão nói với vẻ quả quyết.

McLoughlin giơ tay lên tỏ ý hoà giải. “Bình tĩnh nào, Wally. Như đến giờ chúng tôi được biết, thì không dính dáng gì đến việc phạm tội ở đây cả. Vợ người đàn ông yêu cầu chúng tôi tìm ông ta. Bà ta nói ông đã đến nhà ấy vào cái ngày chồng bà ta mất tích. Chúng tôi chỉ đang thắc mắc, không biết ông có nhớ đã từng tới đó không, và liệu ông có nhìn hay nghe thấy điều gì có thể giúp chúng tôi tìm ra lý do người đàn ông kia bỏ đi hay không thôi.”

Đôi mắt nhoè nhoẹt của Wally có vẻ ngờ vực. “Tôi đến nhiều nhà nắm.”

“Đôi vợ chồng cho ông một đôi giày nâu ấy.”

Gương mặt nhăn nheo như giãn ra vì nhẹ nhõm. “Nếu bà vợ ở đó, thì sao bà ta không thể nói ní do chồng mình bỏ đi?” Lão hỏi.

“Bà ấy gặp vấn đề về sức khoẻ kể từ lúc ông chồng bỏ đi,” McLoughlin chỉ nói một phần sự thật. “Bà ấy không kể với chúng tôi nhiều lắm.”

“Tên đó đã nàm gì vậy?”

“Không có gì, trừ việc làm ăn thua lỗ và bỏ trốn.”

Câu nói như gãi đúng chỗ ngứa của Wally. “Tội nghiệp hắn. Nhưng hắn có muốn ai tìm ra mình không ấy chứ?”

“Tôi không biết. Ông nghĩ sao? Bà vợ thì rõ ràng muốn ông ta trở về.”

Wally suy nghĩ vài phút. “Chả ai buồn đi tìm tôi,” cuối cùng lão nói. “Đôi núc tôi ước sao họ nàm thế. Họ thấy vui khi không còn dính dáng gì tới tôi nữa, vậy đấy. Tiếp tục đi. Hỏi tiếp đi.”

Mất hơn một tiếng đồng hồ, nhưng cuối cùng McLoughlin đã hình dung được những hoạt động của Wally trong suốt tuần cuối cùng của tháng Năm một cách rõ ràng, hoặc chí ít cũng đủ rõ ràng như người đàn ông già có thể miêu tả, vì lão say bí tỉ suốt ngày. “Tôi được cho năm bảng,” lão giải thích. “Một quý ông ở Winchester đã thảy vào tay tôi. Quá nhiều với một não già nang thang, phải không. Nhiều năm rồi tôi mới được cầm nhiều tiền mặt đến thế. Giúp tôi say sưa thoải mái trong mấy tuần niền ấy chứ.”

Lão đã loanh quanh ở Winchester gần ba tuần, đến khi chỉ còn vài đồng bạc lẻ cuối cùng. Lão liền men theo con đường dẫn về phía Southampton xem có kiếm chác được gì không. “Tôi thích những ngôi nàng,” lão nói. “Nàm tôi nhớ đến những ngày nghỉ đạp xe dạo chơi hồi còn trẻ.” Lão nhớ đã ghé vào quán rượu ở Streech. “Núc đó trời đang mưa,” lão giải thích. “Chủ quán cũng tử tế, không bực mình gì với tôi cả.” Ngược lại, vợ của Paddy chẳng khác nào một con bò cái già to béo. Không rõ vì sao, Wally không kể cụ thể, nhưng vài lần lão đã trừng mắt hung tợn mỗi khi nhắc đến bà ta. Vào lúc 3 giờ, họ đuổi lão ra ngoài khi trời đang mưa. “Chẳng vui chút nào khi trời mưa,” lão nói vẻ sầu thảm. “nên tôi tự chui vào một chỗ trú nho nhỏ mà tôi tìm thấy và ở đó đến tận sáng hôm sau.”

“Ở đâu?” McLoughlin hỏi khi lão già đột ngột im lặng.

“Chẳng hại gì đâu nhá,” Wally rào trước. “Không thấy ai phàn nàn gì hết.”

“Chúng tôi không nhận được lời phàn nàn nào cả,” McLoughlin khích lệ. “Tôi sẽ không tố cáo ông đâu, Wally. Theo quan điểm của tôi thì miễn là ông cư xử đúng mực, ông vẫn có thể đến đó như bình thường.”

Wally bặm môi làm nó đỏ bầm lên. “Có một căn nhà nớn ở đó. Chỉ cần nhón chân nà nhảy qua được tường. Tôi ở trong khu vườn vài nần, chưa bao giờ thấy ai cả.”

Lão ta săm soi McLoughlin xem anh có hứng thú hay không.

Quả đúng là anh rất quan tâm đến chuyện này. “Có một chỗ như kiểu hang nhân tạo gần khu rừng,” lão ta nói tiếp. “Chịu không biết để nàm gì, nhưng có gạch cất trong ấy. Cửa khuất sau một bụi cây to nhưng nẻn vào dễ như bỡn. Tôi nuôn mang dương xỉ theo người để ngủ cho ngon. Này, sao cậu nhìn tôi như thế?”

McLoughlin lắc đầu. “Không có gì. Tôi chỉ thấy tò mò thôi. Ông có nhớ đó là ngày nào không, Wally?”

“Giời biết, con giai ạ.”

“Và ông không thấy bất cứ ai lúc ở trong vườn à?”

“Không một bóng người.”

“Cái hang đó tối om à?”

“Hừm, chả có điện đóm gì hết, nếu ý cậu nà thế, nhưng ban ngày thì vẫn nhìn được. Nếu cửa mở, đương nhiên rồi,” lão bổ sung.

McLoughlin băn khoăn không biết nên hỏi câu kế tiếp thế nào. “Và ở đó trống không, chỉ có chồng gạch mà ông vừa nhắc đến thôi đúng không?”

“Cậu muốn ám chỉ điều gì?”

“Không có gì. Tôi chỉ muốn hình dung rõ ràng thôi.”

“À ừ. Trống không, chẳng có gì cả.”

“Vậy sáng hôm sau thì sao?”

“Đi noanh quanh cho đến giờ ăn trưa, phải không nhỉ?”

“Ở trong hang à?”

“Không. Trong rừng. Đẹp và yên tĩnh. Rồi tôi đói cồn cào, niên nhảy qua tường và tìm xem có thứ gì ăn không.” Lão đã gõ cửa vài nhà, nhưng không thành công lắm.

“Sao ông không lấy tiền mua gì đó?” McLoughlin hỏi, như bị thôi miên.

Wally tỏ vẻ khinh miệt. “Tha cho tôi đi. Sao phải trả tiền cho thứ được mời miễn phí chứ. Chỉ có rượu nà họ không cho thôi. Dù gì, tôi cũng chẳng còn nại nhiều tiền, thật đấy.”

Lão tìm thấy một khu nhà ở ngoại ô Streech nơi “một con dơi già” đã cho lão một cái sandwich. Khu cư xá, McLoughlin thầm nghĩ. “Ông có thử hỏi ai khác không?” Anh hỏi.

“Một cô gái trẻ đuổi tôi đi. Giời biết, tôi cũng thông cảm cho cô ả. Có cả tá nhãi con kêu gào trong phòng khách.” Thế là lão rời Streech như một kẻ thất bại và bắt đầu đi men theo con đường. Sau khoảng một giờ, lão đến một ngôi làng khác. “Chịu không nhớ tên, con giai ạ, nhưng có đến một nhà cha sở. Núc nào tiếp xúc với cha sở cũng dễ chịu cả.” Lão gợi lòng thương cảm nơi người vợ và thuyết phục bà ta cho mình một tách trà cùng vài cái bánh. “Người phụ nữ bé nhỏ tốt bụng, nhưng mộ đạo quá đáng. Các gia đình cha sở bao giờ cũng thế đấy. Cậu nuôn có đồ để ăn, nhưng đổi nại, cậu phải nghe một bài giảng đạo nê thê. Tôi chạy nuôn.” Trời lại đổ mưa. “Thời tiết thật kì cục. Nóng như thiêu đốt, nhưng thi thoảng nại có dông. Cậu biết kiểu đó mà. Mưa to nắm, tôi nhớ thế. Chớp giật và sấm ì ùng.” Lão phải ngó quanh để tìm chỗ trú. “Chẳng có chỗ nào cả. Chỉ toàn những ngôi nhà hộp bé tí và ga ra chật chội. Chẳng giúp được gì cho tôi. Thế nà tôi đến một căn nhà to hơn, và tấp vào đó. Tôi cố gắng thăm dò phía sau, xem có cái nhà kho nhỏ nào không. Tôi nẻn vào từ bên ngách cửa và ngó thấy đúng thứ mình cần tìm, một cái kho nhỏ xinh xắn không có ai ở ngay trong tầm mắt. Tôi mở cửa và nhảy vào trong.” Lão ta ngừng lại.

“Và?” McLoughlin thúc giục.

Tia xảo quyệt hiện lên trong mắt lão già. “Có vẻ tôi cung cấp cho cậu nhiều thông tin như thế mà chẳng được cái gì cả, con giai ạ. Có gì cho tôi không?”

“Năm bảng,” McLoughlin nói. “Nếu điều ông kể thực sự đáng giá.”

“Mười,” Wally mặc cả. Lão liếc về phía cánh cửa đóng chặt sau lưng rồi lén lút nhoài tới trước. “Nói thật với cậu, con giai ạ, chỗ này chẳng khác gì tù giam nỏng. Bà giám đốc cũng cố gắng hết sức rồi, nhưng chẳng vui vẻ gì. Biết ý tôi rồi đấy. Phải mười bảng, tôi mới trốn đi được. Tôi đã ở đây một tuần rồi, nạy giời. Có khi trong tù còn sướng hơn.”

McLoughlin cân nhắc về vấn đề đạo đức khi đưa cho Wally số tiền đủ để lão quay lưng lại với Cổng Thiên Đường và kết luận, dù thế nào đi chăng nữa, Wally vẫn bỏ chạy mà thôi. Người ta khó mà dạy trò mới cho một con chó già được. Mười bảng ít nhất cũng giúp lão ta được bước đầu. “Thôi được,” anh nói. “Chuyện gì đã xảy ra khi ông vào cái kho đó?”

“Nhìn quanh tìm một chỗ để ngồi, đúng không nhỉ, nghỉ ngơi thư thái một núc. Phát hiện tên kia núp sau đống hộp. Núc nhận ra tôi đang nhìn mình, não hất hàm và ra nệnh cho tôi rời khỏi đất nhà não. Tôi hỏi một câu hết sức hợp ní rằng nàm sao tôi biết não nà chủ khi não cũng ẩn núp trong cái kho này như tôi. Não phát điên nên và gọi tôi bằng đủ từ tục tĩu. Rồi một người phụ nữ ra khỏi bếp để xem có chuyện gì mà ồn ào thế. Tôi giải thích mọi chuyện và bà ta bảo não già đó nà chồng bà ta và não đang tìm chổi sơn.” Wally nhăn nhó. “Họ nghĩ tôi nà đứa trẻ sơ sinh không biết gì chắc. Đám chổi sơn được đặt gọn gàng và ngăn nắp ngay trên bàn dụng cụ bên cạnh. Não già thì trốn trốn tránh tránh, không nẫn đi đâu được. Dù sao thì, tôi cũng chộp ngay nấy cơ hội của mình. Họ muốn tống cổ tôi thì phải trả cái giá nào đó chứ. Tôi nấy một chai whisky, một đôi giày tươm tất và hai mươi bảng. Tôi đã cố đòi thêm nhưng họ trở nên cáu tiết và tôi nghĩ đã đến núc bỏ chạy. Đấy có phải kẻ cậu đang tìm không?”

McLoughlin gật đâu. “Nghe có vẻ giống. Ông có thể miêu tả ông ta được không?”

Wally nhăn trán. “Tầm năm mươi tuổi, béo, tóc xám, có đôi chân quá ẻo nả so với một người đàn ông. Đôi giày họ đưa tôi thì chật ních.”

“Người phụ nữ trông thế nào?”

“Nhỏ thó như chuột, mắt buồn bã, nhưng giời biết, bà ta cáu kỉnh nắm. Quật vào cả người tôi nẫn não chồng vì dám gây ồn ĩ.” Lão đột nhiên trở nên suy tư, lắc đầu. “Mà có phải vậy đâu. Chúng tôi thì thào với nhau thôi mà. Đúng nà hai kẻ khùng.”

McLoughlin hớn hở. Tóm được bà rồi, bà Thompson, anh thầm nghĩ. “Rồi sau đó ông đi đâu?”

Wally lộ vẻ nghĩ ngợi. “Có câu châm ngôn này, con giai. Con chim trong tay ta đáng giá gấp đôi con chim trong bụi rậm. Trời ngừng mưa nhưng tôi có cảm giác rồi sẽ có một cơn bão nữa. Tôi đã cố kiết để đòi một chai whisky nhưng nại chẳng có chỗ nào thoải mái để uống cả. Nếu đi tiếp, chưa chắc đã tìm được nơi khô ráo để qua đêm. Nên tôi quay nại cái hang hôm trước và qua đêm ở đó.” Lão dò xét McLoughlin qua khoé mắt. “Ngày hôm sau, tôi nghĩ mình có vài đồng trong túi rồi và đã chả có gì bỏ bụng nhiều ngày giời, nên tôi đi thẳng đến Sinverborne. Trên đường ghé một quán cà phê cũng được…”

“Ông có bỏ lại thứ gì không?” McLoughlin chen ngang.

“Ví dụ?” Lão già the thé hỏi.

“Đôi giày chẳng hạn?”

“Đá chúng vào rừng,” Wally khinh khinh nói. “Thứ chết tiệt đó nằm chân tôi đau nhức. Đó chính nà bài học kinh nghiệm đấy. Một tên trai trẻ hẳn sẽ ném đôi giày cũ trước cả khi có giày mới. Rồi gã sẽ phải chịu đau đớn khổ sở rất nâu cho đến khi tìm được đôi giày mới đó.”

McLoughlin nhét cuốn sổ vào túi áo. “Thông tin ông cung cấp rất hữu ích, Wally ạ.”

“Vậy ư?”

McLoughlin gật đầu.

“Tiền của tôi đâu?”

McLoughlin rút tờ mười bảng khỏi ví và kẹp nó giữa những ngón tay. “Nghe tôi này, Wally. Bây giờ, tôi sẽ giữ lời và đưa ông mười bảng, nhưng tôi muốn ông ở lại đây thêm một đêm. Nếu ông chịu làm thế, tôi sẽ trở lại vào sáng mai với mười bảng nữa, tổng cộng là hai mươi bảng.” Anh giơ tờ tiền ra. “Đồng ý không?”

Wally đứng dậy và vồ lấy, cẩn thận giấu tờ tiền sâu trong áo. “Có tin được cậu không thể, con giai?”

“Tôi sẽ viết giấy ghi nợ cho, nếu ông muốn.”

Wally định khạc nhổ ra thảm nhưng rồi suy nghĩ lại. “Cũng chả mấy tác dụng với tôi,” lão nói. “Thôi được, con giai, thoả thuận thế nhé. Nhưng nếu cậu không trở nại, tôi chuồn đấy.” Mắt lão nhíu lại. “Nhớ đừng kể với bà giám đốc. Tôi đã hoàn thành hết mọi việc của tuần này rồi. Chả biết khi nào họ mới chịu để tôi yên nữa.”

McLoughlin cười khùng khục. “Yên tâm, tôi sẽ không tiết lộ bí mật của ông đâu, Wally ạ.”

“Tôi đã lần ra được mối liên hệ đó rồi,” McLoughlin nói với Walsh, và thấy mắt ông loé lên nét mỉa mai. “Khi đánh dấu các hộ gia đình báo cáo đã nhìn thấy lão già lang thang.” Anh chỉ vào những dấu cộng màu đỏ trên tấm bản đồ trước mặt họ. “Nếu anh còn nhớ, Nick Robinson nhận được hai báo cáo. Một là từ người phụ nữ ở nhà Clementine, bảo rằng lão già lang thang đi ngang qua nhà bà ta và đến chỗ quán rượu, đồng nghĩa với việc lão ta phải đi từ hướng Winchester đến đây. Kế tiếp là từ chủ quán rượu, nói rằng lão đã ở lại quán cho đến lúc đóng cửa rồi thong thả men theo mạn khuất gió của bức tường vòng quanh điền trang, nói cách khác là hướng thẳng về phía East Deller.” Anh vạch ngón tay theo con đường. “Những báo cáo tiếp theo mà chúng ta nhận được là từ Williams. Cậu ta báo lại rằng, có một phụ nữ lớn tuổi đã cho lão già lang thang một cái sandwich và người phụ nữ trẻ đã đuổi lão đi vì hôm đó là sinh nhật con trai cô ta. Cả hai đều sống trong khu cư xá ở phía Tây Streech và trên đường East Deller. Ngày tháng người phụ nữ trẻ cung cấp là 27 tháng Năm. Nhưng khi chúng ta nói chuyện với bà Thompson, bà ta bảo lão già lang thang đến chỗ họ trên đường East Deller vào ngày 24. Nếu đúng là như vậy thì vì lý do nào đó, lão đã lộn trở về Streech ba ngày sau chặng Winchester tới East Deller.”

Walsh tập hợp những uy quyền còn sót lại và tỏ ra nghiêm nghị nhất có thể. “Chính tôi cũng kết luận như thế,” ông nói dối. “Việc tìm được đôi giày ở điền trang đã chứng minh điều đó.”

“Tôi đồng ý, vậy nên chúng ta cần thêm nhân chứng mới ở East Deller, với ngày tháng cụ thể nếu được. Jones đã đến đó để xem có điều tra được gì không. Cậu ta trao đổi với cha sở, và được biết khi lão già lang thang ghé qua nhà, cha sở đang viết bài giảng kinh, dù không nhớ chính xác ngày tháng nhưng cha sở nói luôn viết các bài giảng kinh vào thứ Bảy. Được rồi, giờ chỉ có hai người đã cung cấp mốc thời gian cụ thể, thứ Tư 24 tháng Năm (bà Thompson), và thứ Bảy 27 tháng Năm, chính là ngày tổ chức tiệc sinh nhật. Wally khẳng định ông ta đã đi từ khu cư xá ở Streech đến nhà cha sở và nhà Thompson ở East Deller nên ông ta ở đó vào thứ Bảy 27 tháng Năm. Vậy vì sao bà Thompson lại nói dối về ngày tháng?”

“Tiếp tục đi,” Walsh tỏ ra mất kiên nhẫn.

“Bởi vì, mặc dù bà ta nói dối trắng trợn, nhưng chúng ta đã chứng minh được đôi giày thuộc về ông Thompson và bà ta phải giải thích vì sao chúng không còn ở trong nhà của bà ta nữa. Lần này, bà ta chọn cách nói thật, hoặc đúng hơn là nói gần hết sự thật, và khiến chúng ta tin vào câu chuyện đó bằng cách kể về lão già lang thang. Hãy nhớ rằng, chúng ta chưa bao giờ nói với bà ta về địa điểm tìm thấy đôi giày. Bởi vậy, tất cả những gì bà ta biết là chúng ta có được chúng từ lão già lang thang.” Anh tập hợp lại suy nghĩ. “Lúc này bà ta chắc chắn rằng, nếu chúng ta gặp được lão già lang thang, lão sẽ nói đã nhìn thấy chồng bà ta. Nên nếu cho chúng ta ngày tháng chính xác thì chẳng khác nào bảo chúng ta rằng chồng bà ta vẫn sống khoẻ re và vui vẻ ở East Deller sau khi bà ta đã thông báo ông ta mất tích. Làm thế sẽ đi tong chứng cớ ngoại phạm của bà ta. Nên bà ta khai gian thời điểm lão già lang thang đến nhà mình lên trước đó ba ngày. Cũng khá mạo hiểm, nhưng suýt chút nữa đã giúp bà ta thoát nạn. Wally không nhớ chính xác ông ta ghé qua nhà Thompson vào ngày nào, và nếu không có sinh nhật của đứa trẻ, chúng ta cũng không biết nốt. Chẳng còn ai khác có thể nhớ về ngày tháng.” Anh ngừng một lúc. “Hẳn bà Thompson sẽ sốc lắm nếu chúng ta cho biết nơi Wally đã đá đôi giày đi. Có nằm mơ bà ta cũng chẳng thể ngờ chúng được tìm thấy tại chính hiện trường vụ án liên quan đến mình.”

Walsh đứng dậy. “Công lý bao giờ cũng thắng. Nhưng tôi muốn biết làm sao bà ta thuyết phục được ông chồng ở yên trong nhà và làm sao mang ông ta vào được hầm trữ đông.”

“Hãy dùng nam nhân kế của anh đi và chắc chắn bà ta sẽ kể cho ta nghe,” McLoughlin nói.

kiếm thứ gì vậy, thưa sếp?” Một người hỏi. Walsh đưa vài tờ đánh máy cho các nhóm. “Đọc các điểm chính, rồi dùng đến trực giác của các cậu. Nếu có ai đó ở đây liên quan đến kẻ giết người, họ sẽ không tự nhiên mà tặng miễn phí bằng chứng về
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.