Hầm Trữ Đông

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 25 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

4

Ba giờ sau. cái xác đã được cẩn thận dời đi dưới sự hướng dẫn của bác sĩ Webster, công cuộc điều tra gian khổ bên trong hầm trữ đông chẳng thu được gì nhiều, ngoại trừ một đống dương xỉ chết khô ở góc hầm. Cửa được niêm phong, Walsh và McLoughlin đều đã quay lại điền trang Streech. Với vẻ thờ ơ một cách bất thường, Phoebe mời họ vào thư phòng, để mặc họ tự do thảo luận.

Một nhóm cảnh sát được cắt cử để tiến hành rà soát toàn bộ khu vực hầm trữ đông theo những vòng tròn có bán kính lớn dần. Walsh nghĩ việc này chỉ tổ tốn công vô ích. Nếu thời điểm nạn nhân được đưa vào đây và thời điểm phát hiện ra cái xác cách nhau quá lâu, họ sẽ chẳng thể tìm được gì ở khu vực xung quanh nữa. Các bước tiến hành thông thường, trước đó cũng không có nhiều hứa hẹn. Giờ những mẫu vật thu thập được từ hầm trữ đông đang đợi để đưa đến phòng thí nghiệm pháp y, bao gồm vụn gạch, những túm lông, một chút bùn biến màu trên sàn và những gì bác sĩ Webster khẳng định là mảnh xương cừu vỡ còn sót lại - cũng chính là thứ McLoughlin đã tìm thấy giữa những bụi mâm xôi bên ngoài. Chàng cảnh sát trẻ Williams, đến giờ vẫn chưa hay biết chính xác chuyện gì đã xảy ra trong hầm, cũng được triệu tập vào thư phòng. Cậu thấy Walsh và McLoughlin ngồi cạnh nhau bên chiếc bàn gỗ gụ rộng đến phô trương. Trải ra trước mặt họ là một xấp ảnh chụp hiện trường. Căn phòng đang tối đi nhanh chóng. Chiếc đèn bàn cổ màu xanh là nguồn sáng duy nhất. Walsh đã quay đèn sang hướng khác, để ánh sáng chói lóa của nó dịu đi đôi chút. Với Williams, nhìn ảnh ngược trong bóng tối nhập nhoạng thế này là một việc kích thích. Cậu vừa đọc lại ghi chú về những lời khai đã thu thập được, vừa liếc nhìn McLoughlin. Hõm mắt anh ta trũng sâu dưới ánh sáng mờ ảo. Lạy Chúa, tên khốn này trông rệu rã quá. Cậu tự hỏi không biết những lời đồn thổi đã nghe có chính xác không.

“Lời khai của họ về việc phát hiện cái xác đều thống nhất, thưa sếp. Không có gì mâu thuẫn cả.” Khuôn mặt Williams thoáng nét tự mãn. “Nhưng tôi lại vừa phát hiện ra một hướng điều tra mới.”

“Vậy ư?”

“Vâng. Tôi cá rằng ông bà Philips đã ở tù trước khi tới đây làm việc.” Cậu tra cứu lại những dòng ghi chép siêu nhỏ và gọn ghẽ của mình. “Bà Phillips rất kì quặc, không trả lời bất cứ câu hỏi nào của tôi, và liên tục buộc tội tôi đã nạt nộ bà ấy, dù tôi không hề làm thế. Bà ta còn nói: ‘Điều đó tôi đã biết, còn cậu thì phải tìm hiểu.’ Khi nghe tôi bảo sẽ làm việc với cô May Bury thì bà ta nổi xung: ‘Đừng có làm phiền cô ấy. Sau khi ra tù, Fred và tôi đều giữ mình, và đó là tất cả những gì cậu cần biết.’ ” Cậu ngước lên với vẻ đặc thắng.

Walsh ghi chép vào một mảnh giấy. “Được rồi, chúng ta sẽ xem xét.”

Nhận ra vẻ thất vọng của chàng trai trẻ, McLoughlin khẽ cựa mình. “Làm tốt lắm, Williams!”

“Thưa sếp, tôi nghĩ chúng ta nên đặt sandwich. Không ai có gì bỏ bụng từ trưa đến giờ.” Anh nghĩ đến bữa trưa ọe ra chỗ bụi mâm xôi, có cảm giác mình sẵn sàng đổi cánh tay phải để lấy một cốc bia. “Có một quán rượu dưới chân đồi. Gavin có thể xuống đó mua vài thứ cho chúng ta.”

Walsh cáu kỉnh móc túi áo khoác ra hai tờ mười bảng. “Sandwich thôi, đừng lấy thứ gì quá đắt đỏ. Cho chúng tôi một ít và mang những phần còn lại tới hầm trữ đông. Cậu có thể ở luôn ngoài đó trợ giúp việc tìm kiếm bằng chứng.” Ông quay đầu nhìn ra cửa sổ. “Họ đã có đèn huỳnh quang rồi. Dặn họ, miễn còn sức thì cứ tiếp tục làm. Chúng tôi sẽ xuống sau. Và đừng quên tiền thừa của tôi đấy.”

“Vâng.” Williams vội vã bỏ đi trước khi viên chánh thanh tra đổi ý.

“Thằng nhóc sẽ không thiết tha đến thế nếu chứng kiến những gì xảy ra trong đó đâu,” Walsh nhận xét, ngón tay xương xẩu gõ gõ lên đống ảnh. “Tôi hỏi liệu cậu ta có nói đúng về cặp đôi nhà Phillips hay không. Cái tên có gợi cho cậu điều gì không?”

“Không.”

“Tôi cũng thế. Điểm lại những gì ta có xem nào.” Walsh rút tẩu ra và lơ đãng nhồi thuốc, bắt đầu cao giọng phân tích từng đều thu nhặt được, săm soi kĩ càng như vạch lá tìm sâu.

McLoughlin lắng nghe nhưng chẳng có gì lọt vào tai. Đầu anh đau nhức, mạch máu căng tức như sắp vỡ. Máu chảy rần rật khiến anh choáng vang.

Anh nhặt bút chì lên và quay nó, nhưng những ngón tay run run làm anh phải thả bút xuống bàn, buộc mình tập trung tâm trí.

“Chúng ta nên bắt đầu từ đây, Andy?”

“Cái hầm, tất nhiên rồi. Đó là điểm mấu chốt. ” McLoughlin nhặt một tấm ảnh chụp quang cảnh ngoài hầm và run rẩy giơ lên dưới ánh đèn. “Trông như gò đất, người lạ làm sao biết được nó rỗng ruột cơ chứ?”

Walsh ghé răng cắn lấy chiếc tẩu, châm lửa lẳng lặng hút. Ông không trả lời, chỉ cầm tấm ảnh và chăm chú nghiên cứu.

McLoughlin nhìn chằm chằm vào những bức ảnh chụp cái xác, giọng vô cảm. “Liệu có phải Maybury không?”

“Còn quá sớm để kết luận. Webster đã quay về để kiểm tra hồ sơ y tế và nha khoa rồi. Khốn nạn là chúng ta không thể so sánh dấu vân tay. Trước đây, chúng ta không bới nổi dấu vân tay nào từ ngôi nhà vào thời điểm Maybury biến mất. Dù có cũng không để làm gì. Cả hai bàn tay của cái xác đều bị xé tơi tả cả rồi.” Walsh nhồi thuốc bằng đầu ngón tay cái. “Nhưng David Maybury có một đặc điểm.”

Ngưng một lát, ông nói tiếp: “ Hắn khuyết hai ngón cuối bàn tay trái. Vì tai nạn săn bắn.”

McLoughlin bắt đầu hứng thú. “Thế thì đúng rồi.”

“Có thể.”

“Cái xác không thể nằm đó suốt mười năm nay, sếp ạ. Bác sĩ Webster nới nhiều khả năng là vài tháng mà thôi.”

“Có lẽ vậy. Tôi sẽ để dành kết luận cho đến khi thấy báo cáo khám nghiệm tử thi.”

“Maybury là người thế nào? Goode gọi hắn là một tên khốn từ trong ra ngoài.”

“Tôi sẽ nói đó là lời nhận xét công tâm. Cậu cứ đọc thông tin đi. Tất cả đều nằm trong tập hồ sơ. Tôi đã cho mời một bác sĩ tâm lý để rà soát các bằng chứng chúng ta thu gom được từ những người quen biết Maybury. Kết luận không chính thức của vị bác sĩ ấy, hãy nhớ rằng anh ta chưa bao giờ gặp Maybury nhé, là hắn bộc lộ khuynh hướng tâm thần phân liệt khá rõ rệt, đặc biệt khi say xỉn. Hắn có thói quen đánh đập mọi người, bất kể đàn bà hay đàn ông.” Walsh phà ra một luồng khói từ khóe miệng và nhìn cấp dưới. “Maybury cũng lang chạ không à. Có ít nhất ba ả điếm luôn ủ ấm giường cho hắn ở London.”

“Vợ hắn có biết không?” McLoughlin hất đầu về phía sảnh.

Walsh nhún vai. “Cô ta khai là không biết.”

“Hắn có đánh vợ không?”.

“Tôi nghĩ là có, nhưng cô ta không thừa nhận. Cô ta có một vết bầm lớn trên mặt khi báo tin chồng mình mất tích. Chúng tôi còn phát hiện ra, cô ta đã nhập viện hai lần trước đó, một lần vì gãy cổ vì tay, một lần vì rạn xương sườn và gãy xương đòn. Cô ta nói với bác sĩ rằng mình là người dễ gặp tai nạn.” Walsh bật tiếng cười khàn. “Cũng như tôi, họ không tin. Mỗi khi say, Maybury coi cô ả không khác gì bao cát.”

“Thế tại sao cô ta không bỏ đi? Hay cô ta thích nổi tiếng? “

Walsh trầm ngâm một thoáng. ông định nói gì đó, nhưng rồi lại đắc ý. “Điền trang Streech thuộc sở hữu của gia đình cô ta suốt nhiều năm. Maybury sống tự tung tự tác ở đây và dùng vốn của vợ để kinh doanh rượu vang. Nếu cô ta không chè chén hoặc bán đi hết thì có lẽ phần lớn rượu cất trữ vẫn còn ở dưới hầm. Không, cô ta sẽ không bỏ đi. Thực tế, tôi không thể tưởng tượng ra bất cứ hoàn cảnh nào, dù là hỏa hoạn, có thể khiến cô Maybury rời bỏ điền trang quý giá của mình. Một quý bà kiên cường đấy.”

“Tôi cũng nghĩ thế. Còn tên chồng đang sống sung sướng nên chồng tội gì phải bỏ đi.”

“Không sai.”

“Vậy nên cô ta muốn rũ bỏ hắn.”

Walsh gật đầu. “Nhưng cậu không thể chứng minh điều đó.”

“Phải.”

Khuôn mặt ảm đạm của McLoughlin nở một nụ cười nhăn nhở. “Cô ta hẳn đã biên soạn một câu chuyện vô cùng thống khổ.”

“Thực tế thì câu chuyện đó dở tệ. Cô ta kể, một đêm hắn bỏ ra ngoài và không bao giờ quay lại.” Walsh dùng ống tay áo chùi nước bọt lẫn nhựa thuốc khỏi đầu tẩu. “Ba ngày sau, cô ta mới báo chồng mình mất tích, và đi báo chỉ bởi mọi người bắt đầu hỏi thăm về hắn. Lúc đó, cô ta đã đóng gói tất cả quần áo của chồng và gửi đến tổ chức từ thiện nào đó mà cô ta không nhớ nổi tên, còn đốt toàn bộ ảnh chụp rồi dọn dẹp cả ngôi nhà bằng máy hút bụi và giẻ ngâm thuốc tẩy để loại bỏ sạch sẽ mọi dấu vết liên quan đến Maybury. Nói cách khác, cô ta hành xử hệt như một kẻ vừa giết chồng và đang cố xóa mọi bằng chứng. Chúng tôi chỉ thu được vài sợi tóc giật lại trên lược, một quyển hộ chiếu, bức ảnh bỏ quên trong ngăn kéo, và một tấm thẻ hiến máu cũ. Tất cả chỉ có thế. Chúng tôi đã xin lệnh của tòa án để xới tung cả ngôi nhà lẫn khu vườn lên, tìm kiếm từng milimét vuông, nhưng chỉ phí thời gian. Chúng tôi sục sạo khắp nơi để tìm kiếm, mang ảnh hắn tới tất cả các bến tàu và sân bay, phòng trường hợp bằng cách nào đó hắn vượt biên trót lọt mà không dùng đến hộ chiếu thông báo cho Interpol truy tìm hắn trên toàn châu Âu, kiểm tra hồ và sông ngòi, đăng ảnh trên các tờ báo quốc gia. Đều vô ích. Như thể hắn đã tan vào không khí.”

“Thế cô Maybury giải thích ra sao về vết bầm trên mặt?”

Viên chánh thanh tra cười khùng khục. “Va phải cửa. Chứ còn lý do gì nữa? Tôi đã cố giúp cô ta, gợi ý để cô ta thừa nhận đã ngộ sát chồng vì mục đích là tự vệ. Nhưng không, ‘Anh ta chưa bao giờ động vào tôi.’” Walsh lầu đầu khi nhớ lại. “Một phụ nữ lạ lùng. Cô ta không bao giờ chịu để mọi chuyện dễ dàng với bản thân. Đúng ra có thêu dựng lên vô số câu chuyện để thuyết phục cảnh sát rằng anh chồng đã lên kế hoạch trốn đi, vì rắc rối về tiền bạc chẳng hạn. Hắn đã cuỗm hết và không để một xu nào cho vợ. Nhưng cô ta làm ngược lại cứ bám lấy câu chuyện rằng một đêm nọ hắn vô cớ bỏ đi, và không bao giờ quay lại. Chỉ thằng nào chết rồi mới biến mất như thế.”

“Thật thông minh,” McLoughlin miễn cưỡng nói. “Cô ta khiến mọi chuyện trở nên đơn giản, để anh chẳng có gì mà đào sâu cả. Thế vì sao anh không buộc tội cô ta? Trước đây không cần tìm ra xác vẫn khởi tố được mà. ”

Kí ức của mười năm trước ào ạt tràn về thử thách lòng kiên nhẫn của Walsh. “Chúng tôi không thể xâu chuỗi thành một vụ án được,” ông cáu kỉnh. “Chẳng có bằng chứng nào bác bỏ câu chuyện ngu ngốc về người chồng đột nhiên bỏ đi. Chúng tôi cần cái xác. Chúng tôi đã lật tung nửa Hampshire để tìm các xác chết tiệt ấy.” Ông thoáng im lặng, rồi gõ gõ vào tấm ảnh chụp hầm trữ đông đang nằm trên bàn. “Cậu đã đúng về chuyện này.”

“Chuyện gì?”

“Đây chính là mấu chốt. Mười năm trước, chúng tôi đã xới tung cả Streech, nhưng không một ai tìm tới đây. Đời tôi chưa từng thấy hầm trữ đông, thậm chí còn không bao giờ nghe đến khái niệm đó. Đương nhiên, tôi không hề biết công trình trông như gò đất chết tiệt này lại rỗng ruột. Làm sao biết được? Không ai nói với tôi. Tôi nhớ mình còn đứng trên đó để xác định phương hướng. Thậm chí còn dặn đồng nghiệp bới sâu vào những bụi mâm xôi. Mâm xôi mọc dày như rừng.” Ông lại chùi ống tẩu vào tay áo rồi mới nhét vào miệng. Nhựa thuốc dây ra vải tuất như những sọc đen. “Tôi cá là cái xác của Maybury đã nằm trong hầm suốt thời gian đó.”

Tiếng gõ cửa vang lên. Phoebe bước vào, mang theo một khay sandwich. “Hạ sĩ Wlniams nói rằng các ông đang đói. Tôi đã nhờ Molly chuẩn bị bữa nhẹ.”

“Ồ cảm ơn cô Maybury. Đến đây và ngồi xuống đi.”

Phoebe đặt khay bánh xuống rồi ngồi vào một chiếc ghế cạnh bàn. Quầng sáng từ đèn bàn ôm lấy ba con người đang bất đắc dĩ phải tỏ ra thân thiện. Khói thuốc từ chiếc tẩu của Walsh lơ lửng trên đầu họ như những vòng mây xám. Im lặng bao trùm căn phòng suốt một lúc lâu, cho đến khi đồng hồ điểm đúng 9 giờ. Như chỉ đợi có thế, Walsh len nhoài tới trước và hỏi người phụ nữ. “Cách đây mười năm, sao cô không kể chúng tôi về hầm trữ đông, hả cô Maybury?”

Trong một thoáng, ông nghĩ mình đã thấy vẻ ngạc nhiên, thậm chí là nhẹ nhõm trên gương mặt người phụ nữ, nhưng ông không chắc liệu mình có nhìn lầm không nữa.

“Tôi không hiểu,” cô đáp.

Thanh tra Walsh ra hiệu cho McLoughlin bật đèn trên đầu lên. Ánh sáng từ ngọn đèn bàn luôn cố che đậy và đánh lừa ông mỗi khi ông muốn quan sát những sắc thái trên gương mặt bình thản đến lạ thường kia. “Đơn giản thôi,” ông lẩm bẩm khi căn phòng đã ngập tràn ánh sáng trắng. “Khi tìm kiếm chồng cô, chúng tôi đã không tìm trong hầm trữ đông vì chưa biết đến sự tồn tại của nó.” Ông chăm chú nhìn cô. “Và cô không hề nói cho chúng tôi.”

“Tôi không nhớ,” cô đáp. “Nếu tôi không nói với ông, thì đó là bởi tôi quên mất. Tự ông không tìm thấy à?”

“Không.”

Cô khẽ nhún vai. “Sau từng ấy thời gian thì điều đó quan trọng lắm sao? ”

Walsh lờ câu hỏi đi. “Cô có nhớ lần cuối cô sử dụng hầm trữ đông trước khi chồng cô biến mất là khi nào không?”

Phoebe mệt mỏi tựa đầu vào lưng ghế, mái tóc đỏ xõa ra, bao lấy gương mặt nhợt nhạt. Đôi mắt trông to tròn hơn sau tròng kính. Walsh biết cô đã gần bốn mươi, nhưng trông còn trẻ hơn con gái ông nhiều. Ông thấy McLoughlin khẽ cựa mình, như thế bằng cách nào đó vẻ mong manh của Phoebe đã khiến anh cảm động. Quỷ tha ma bắt người phụ nữ này đi, ông cáu tiết khi nhớ lại cảm xúc của chính mình nhiều năm về trước. Vẻ ngoài dễ tổn thương đó, chúng khác nào tấm áo choàng mỏng che đậy trí tuệ sắc bén bên trong.

“Ông đợi một chút, tôi phải nhớ lại đã. Thật lòng, tôi chẳng nhớ nổi liệu chúng tôi có sử dụng hầm trữ đông lần nào suốt thời gian chung sống không nữa. Không có ấn tượng gì.” Phoebe ngừng một lát. “Nhưng trong một kì nghỉ đông tôi về thăm nhà, thì thấy cha dùng hầm làm buồng tối để rửa ảnh, mà cũng chỉ một thời gian thôi.” Cô mỉm cười, kí ức về cha như đong đầy những yên bình hạnh phúc.

“Ông bảo làm việc ở cái nơi lạnh lẽo ấy mới chán làm sao, nên về sau toàn mang phim xuống chỗ thợ rửa ảnh chuyên nghiệp ở Silverborne. Mẹ tôi đùa rằng, đó là tại ông thích đổ lỗi cho người khác khi ảnh ra quá xấu, và tình huống này lại quá thường xuyên. Cha không phải thợ chụp ảnh tài năng cho lắm.” Cô nhìn chằm chằm vào viên chánh thanh tra. “Tôi không nhớ sau đó hầm trữ đông có được sử dụng nữa không, cho đến khi chúng tôi quyết định cất đống gạch vào đấy. Biết đâu bọn trẻ lại biết. Để tôi hỏi xem.”

Walsh nhớ những đứa con của Phoebe. Một thằng bé mười tuổi cao lêu nghêu, rời trường tiểu học tư thục nội trú về nhà giữa cuộc điều tra, đôi mắt xanh trong như mắt mẹ, và một đứa con gái tám tuổi có những lọn tóc xoăn sẫm màu. Chúng bảo vệ mẹ mình, cũng dữ dội như cách hai người bạn của Phoebe đã thể hiện lúc trước ở phòng khách. Walsh nói: “ Jonathan và Jane. Hai đứa vẫn sống ở nhà à?”

“Không hoàn toàn. Jonathan thuê một căn hộ ở London. Thằng bé là sinh viên y khoa ở Guy. Jane đang theo học chính trị và triết học ở Oxford. Chúng chỉ về nhà vào những dịp cuối tuần rảnh rang và kì nghỉ dài. Thế thôi.”

“Giỏi đấy chứ. Hẳn cô rất hài lòng.” Ông chua chát nghĩ về con gái mình: mang thai ở tuổi 16 và giờ đã 25, ly hôn, một mình nuôi bốn đứa trẻ, không có gì để trông đợi ngoài cuộc sống cơ cực ở một căn hộ tồi tàn. Ông đọc lại ảnh ghi chép của mình. “Khác với lần trước, hình như cô đã có công việc mới, cô Maybury. Hạ sĩ Williams nói cô là một chuyên gia làm vườn.”

Phoebe lộ vẻ bối rối trước sự đổi hướng này. “Fred đã giúp tôi xây dựng một vườn ươm nho nhỏ.” Cô thận trọng kể. “Chúng tôi chuyên trồng các loại cây thuộc họ thường xuân.”

“Đầu ra?”

“Chúng tôi có hai khách hàng chính trong nước, một người là chủ hệ thống siêu thị và người kia là tổng đại lý cung ứng các sản phẩm cây trồng ở Devon và Comwall. Chúng tôi cũng có vài đơn đặt hàng số lượng lớn từ Mỹ, thường sử dụng đường hàng không để vận chuyển.” Cô nghi ngờ ra mặt. “Tại sao ông lại muốn biết?”

“Không có gì nghiêm trọng cả,” chánh thanh tra cam đoan với cô rồi rít tẩu thuốc. “Tôi cứ tưởng cô có nhiều khách hàng trong làng chứ

“Không,” cô đáp cụt lủn. “Chúng tôi không bán trực tiếp ra thị trường, và dù có làm thế, họ cũng chẳng đến đây mua đâu.”

“Không phải cô rất nổi tiếng ở Streech sao, cô Maybury?”

“Tôi không nghĩ thế.”

“Mười năm trước cô từng làm lễ tân ở phòng khám của một bác sĩ. Cô không thích công việc đó sao?”

Phoebe khẽ mỉm cười thích thú. “Tôi bị buộc thôi việc. Bệnh nhân cảm thấy không thoải mái với một kẻ giết người.”

“Chồng cô có biết về hầm trữ đông không?” Walsh bất ngờ hỏi, những mong khiến Phoebe mất bình tĩnh.

“Ý ông là có biết cái hầm nằm ở đó không phải không?”

Ông gật đầu.

“Tôi chắc là David biết, nhưng như tôi đã nói, tôi không rõ anh ta vào đó lần nào chưa.”

Walsh ghi chép lại. “Chúng tôi sẽ điều tra theo hướng này. Hi vọng bọn trẻ nhớ ra đôi điều. Cuối tuần này chúng sẽ về nhà chứ, cô Maybury?”

Phoebe chợt lạnh buốt sống lưng. “Nếu chúng không về, ông sẽ cử một cảnh sát đến thẩm vấn chúng chăng?”

“Việc này rất quan trọng.”

Phoebe run giọng. “Thật sao? Chúng tôi có thể khẳng định rằng sáu năm trước không có cái xác nào trong hầm cả. Làm sao lại tồn tại mối liên hệ giữa cái xác với sự biến mất của David được chứ”. Cô tháo kính và lấy ngón tay day day mí mắt. “Tôi không muốn lũ trẻ bị quấy rầy nữa… Kể từ khi David mất tích, chúng đã chịu đựng đủ rồi. Để những sang chấn tâm lý ấy diễn ra lần thứ hai chẳng vì lý do gì là điều không thể chấp nhận được.”

Walsh mỉm cười khoan dung. “Toàn những câu hỏi theo đúng thủ tục thôi cô Maybury ạ. Không gây ra áp lực gì đâu, đúng không?”

Phoebe đeo kính lên, tức giận trước câu trả lời của ông. “Mười năm trước ông đã ngu ngốc đến mức không thể chấp nhận nổi. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao mình lại nghĩ thời gian qua đi sẽ khiến ông sáng suốt hơn nữa. Ông đày chúng tôi xuống địa ngục và ông gọi đó là ‘ không gây ra áp lực gì đâu’. Ông có biết địa ngục là gì không? Địa ngục là tình cảnh của cô bé tám tuổi khi điều tra viên xới tung những khóm hoa và tra hỏi mẹ nó hàng giờ bên trong một căn phòng đóng kín. Địa ngục nằm trong mắt đứa con trai bé bỏng khi cha nó bỏ đi không một lời giải thích và mẹ nó bị gán tội danh giết người. Địa ngục là khi ông phải chứng kiến các con mình bị tổn thương và chẳng thể làm gì để ngăn tình huống khốn kiếp đó lại. Ông hỏi tôi có hài lòng với những thành quả của chúng không à?” Cô nhoài người tới trước gương mặt nhăn nhó. “Ông phải nghĩ ra từ gì đó sáng tạo hơn chứ. Chúng đã sống sót qua tất cả bi ai, cha mất tích, mẹ bị coi là kẻ giết người, nhà chúng trở thành điểm đến hấp dẫn của mấy tên quái dị. Chúng đã trải qua tất cả, vẫn lành lặn vẹn nguyên. Tôi nghĩ từ ngất ngây mới thích hợp để tả cảm xúc của tôi khi nhìn chúng trưởng thành đấy.”

“Bấy giờ chúng tôi có đề nghị cô nên gửi bọn trẻ đi, cô Maybury.”

Walsh cố kiểm soát giọng mình. “Cô đã chọn cách giữ chúng lại mặc lời khuyên của chúng tôi.”

Phoebe bật dậy. Đây là lần thứ hai Walsh thấy cô bộc lộ cảm xúc gay gắt đến thế. “Lạy Chúa, tôi căm ghét ông.” Cô chống hai tay lên bàn và ông thấy những ngón tay cô đang run rẩy. “Tôi biết gửi chúng đi đâu? Cha mẹ tôi đều mất cả rồi, tôi không có anh chị em, Anne và Diana thì không thể chăm sóc chúng. Tôi nên giao chúng cho người lạ trong lúc thế giới quanh chúng đang lộn nhào sao?” Cô nghĩ đến người họ hàng duy nhất của mình, người em gái chưa kết hôn của cha cô, bà ta đã sang thế giới bên kia nhiều năm về trước, sau khi hân hoan đọc tất cả các bài viết về vụ mất tích của David Maybury thậm chí còn độc mồm độc miệng nói rằng, Phoebe đáng phải chịu báo ứng cho những tội lỗi đã gây ra với cha mẹ. Ai cũng đoán được bà ta đang ám chỉ điều gì, nhưng lạ lùng thay, những lời nguyền rủa xấu xa của bà ta về Jonathan và Jane lại giúp Phoebe giải phóng tư tưởng. Đó cũng là lần đầu tiên trong đời, cô hiểu rõ rằng, quá khứ đã chết và bị chôn vùi, hối hận cũng chẳng mang lại điều gì tốt đẹp.

“Sao ông dám nói với tôi về lựa chọn! Lựa chọn duy nhất của tôi là mỉm cười trong khi bị ông hành hạ, không được để lũ trẻ biết mẹ chúng đang hoảng loạn và đơn độc đến nhường nào.” Những ngón tay cô siết chặt mép bàn. “Tôi sẽ không chấp nhận. Tôi không cho phép ông chạm những ngón tay dơ bẩn vào cuộc sống của các con tôi. Ông từng dây bùn ra khắp nơi này. Tốt hơn hết, ông đừng làm điều khốn nạn ấy thêm lần nào nữa.” Cô quay đi và bước về phía cửa.

“Tôi có vài câu hỏi dành cho cô, cô Maybury ạ. Xin đừng đi.”

Cô thoáng quay lại khi mở cửa. “Biến đi, thanh tra.” Cánh cửa đóng sầm lại.

McLoughlin im lặng lắng nghe, lúc này mới lên tiếng. “Chiều nay có biến à? Hay lúc nào cô ta cũng dễ kích động như vậy “

“Trái lại. Mười năm trước, chúng tôi chưa bao giờ khiến cô ta nổi đóa được dù chỉ một lần.” Walsh trầm ngâm hút cái tẩu dơ dáy.

“Là do hai ả kia. Họ đã khiến cô ta quay sang chống đối đàn ông”

Walsh tỏ ra thích thú. “Tôi nghĩ chính David Maybury mới là nguyên nhân. Thử nói chuyện với cô Goode xem sao. Cậu sẽ đi tìm cô ta chứ? “

McLoughlin với tay lấy một miếng sandwich, ăn nhồm nhoàm rồi đứng dậy. “Thế người phụ nữ kia thì sao? Tôi có nên đưa cô ta vào luôn không?”

Chánh thanh tra nghĩ một lúc. “Không. Người đó có vẻ khó đối phó đấy. Cứ để cô ta lo lắng cho đến khi tôi kiểm tra lại đã.”

Từ chỗ mình, McLoughlin trông thấy làn da đầu màu hồng sáng bóng lên qua mái tóc lưa thưa của Walsh. Anh đột nhiên cảm thấy thương mến người đàn ông già nua này, như thể sự thù địch của Phoebe đã xua tan sự thù địch nơi anh và nhắc anh nhớ lòng trung thành của mình nên đặt vào ai. “Cô ta là kẻ tình nghi đáng ngờ nhất, thưa sếp. Cô ta hẳn sẽ rất sung sướng nếu được xẻo bi tên đàn ông khốn nạn đó. Hai người còn lại chắc chẳng thích thú gì.”

“Có thể cậu nói đúng, chàng trai ạ, nhưng tôi cá là khi cô ta làm việc đó thì hắn đã hoàn toàn chết rồi.”

kiếm thứ gì vậy, thưa sếp?” Một người hỏi. Walsh đưa vài tờ đánh máy cho các nhóm. “Đọc các điểm chính, rồi dùng đến trực giác của các cậu. Nếu có ai đó ở đây liên quan đến kẻ giết người, họ sẽ không tự nhiên mà tặng miễn phí bằng chứng về
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.