12
Walsh tập hợp cảnh sát về trước cửa điền trang và chia thành bốn nhóm. Ba nhóm tìm kiếm bên trong dinh thự, nhóm thứ tư lùng sục những chái nhà phụ sau bếp, nhà để xe, các nhà kính và tầng hầm. Robinson bước ra và nhập bọn với họ.
“Chúng ta phải tìm kiếm thứ gì vậy, thưa sếp?” Một người hỏi. Walsh đưa vài tờ đánh máy cho các nhóm.
“Đọc các điểm chính, rồi dùng đến trực giác của các cậu. Nếu có ai đó ở đây liên quan đến kẻ giết người, họ sẽ không tự nhiên mà tặng miễn phí bằng chứng về việc ấy cho mấy cậu đâu, nên hãy luôn giữ cái đầu tinh táo và đôi mắt tinh tường. Điểm lại một lượt nhé: Một, nạn nhân của chúng ta chết khoảng mười tuần trước. Hai, ông ta bị đâm. Ba, quần áo và bộ răng giả đều bị gỡ bỏ. Bốn, cũng là điểm quan trọng nhất, và có thể sẽ giúp chúng ta tìm ra kẻ xấu số này là ai, khả năng lớn nhất là David Maybury và Daniel Thompson, trong đây có mô tả vắn tắt về cả hai.” Ông ngừng lại đế những người khác đọc mô tả. “Tài liệu cung cấp chiều cao, màu tóc, và cỡ giày, cả hai đều không mấy khác biệt, nhưng hãy nhớ rằng, Maybury đã già thêm mười tuổi so với lúc được mô tả trong này. Tôi sẽ dẫn đầu nhóm tìm kiếm trong nhà Maybury, McLoughlin lo chỗ cô Cattrell, Jones chịu trách nhiệm chỗ cô Goode, và Robinson chỉ đạo nhóm ở khu vực nhà phụ phía sau. Nếu ai tìm thấy gì, thông báo cho tôi ngay lập tức.”
Khá miễn cưỡng, McLoughlin và hai người khác tới chái nhà của Anne và nhấn chuông. Tràng huyên thuyên của Nick Robinson về cuộc nói chuyện với cô ả chẳng khác nào cọc khoan vào đầu anh. “Chắc chắn cậu đã hiểu sai về cô ả rồi đấy, bạn thân mến ạ.” Nick thì thào vào tai anh. “Dẫu chỉ có nửa cơ hội với nàng, tôi cũng sẽ thử. Người ta vẫn bảo liều ăn nhiều còn gì.”
Đang thèm chất cồn, McLoughlin xia những ngón tay cứng đơ vào cái bụng bia của tên đàn ông béo tốt và nghe tiếng Nick thoả mãn ợ hơi. “Rồi để họ thọc dao vào sườn cậu khi thấy cậu làm tình dở tệ ấy hả?” Anh khẽ rít lên.
Robinson ghi điểm nhờ một cú đánh trực tiếp, vừa thở sâu vừa cười khùng khục. “Làm sao tôi biết được. Tôi có bao giờ gặp rắc rối đó đâu.”
McLoughlin cố nhớ xem có lúc nào đầu anh không đau, tâm trí thông suốt, và không có cảm giác muốn bệnh không. Dòng suy nghĩ của anh cứ chao đảo dữ dội giữa việc căm ghét Anne khủng khiếp vì ý nghĩ chắc chắn cô ta chính là người đứng sau cái xác nham nhở trong hầm trữ đông, và nỗi xấu hổ dai dẳng khiến mồ hôi chảy tràn dưới hai cánh tay bất cứ khi nào anh nhớ đến hành động sáng nay của mình. Anh siết chặt nắm tay cho đến khi phần khớp trở nên trắng bệch. “Thế vì sao cô ta lại nói mình đồng tính?”
Nhìn nắm tay người đồng nghiệp với ánh mắt dè chừng, Nick Robinson lùi lại một hai bước. “Cô ta nói mình không hề tự nhận thế. Chấp nhận sự thật đi, Andy, cô ta xem cậu là một thẳng ngốc tự cao tự đại nên mới bày trò như vậy.” Và bày trò quá giỏi, Nick thầm nghĩ. Anh quý McLoughlin, và chẳng có lý do gì để không quý cậu ta cả, nhưng tên này cứ tự cho mình khác biệt với đám đông. Cũng chính vì thế, việc bị vợ bỏ mới trở nên khó khăn với cậu ta như vậy. Buồn cười ở chỗ, cả sở cảnh sát đã biết chuyện đó từ lâu, khi Jack Booth kể với Bob Rogers, nhưng họ đều lịch sự chờ McLoughlin tự thổ lộ. Có điều, cậu ta chẳng bao giờ làm thế. Trong hai tuần trời, sáng nào cậu ta cũng đến chỗ làm với mùi rượu nồng nặc cùng mấy câu chuyện dông dài về những điều Kelly đã nói hoặc làm đêm hôm trước. Tất cả đều biết, lòng tự tôn của cậu ta đã bị tổn thương, và điều đó cũng chẳng ngăn được mấy nàng cảnh sát xếp hàng nhảy vào đệm giường của cậu ta. Giờ mọi người đều đặt cược vào cô Brownlow. Và với một anh chàng béo tròn, hói trước tuổi và bản thân cũng rất thích Brownlow như Nick, sự lãnh đạm của Anne với McLoughlin chẳng khác nào một loại tinh dầu thư giãn.
Anne mở cửa và ra dấu cho họ vào trong. McLoughlin lấy lệnh khám từ cặp táp ra và đưa cho cô. Cô đọc cẩn thận, nhún vai rồi trả lại anh. Lối cư xử của cô vẫn vậy, như thể chuyện ban sáng chưa từng xảy ra.
“Xin mời,” cô hất đầu về phía cầu thang nhỏ dẫn lên mấy căn phòng của mình. “Nếu cần gì thì tìm tôi trong phòng khách nhé.” Cô trở lại chiếc bàn trong căn phòng lớn ngập tràn ánh nắng. Bài hát I Can’t Get No Satisfaction* vang lên rộn ràng.
Phòng dành cho khách của cô chẳng tiết lộ điều gì. McLoughlin nghĩ, hẳn phòng này đã bị bỏ không nhiều tháng, thậm chí nhiều năm nay. Có vết lõm trên một trong hai chiếc giường đơn, nhưng dường như là Benson hoặc Hedges đã tìm thấy một nơi trú ẩn thoải mái ở đây chứ không phải có ai hay nằm cả. Họ tiến vào phòng ngủ.
“Không tệ,” một viên cảnh sát tán thưởng. “Vợ tôi tốn cả gia tài cho các loại đăng ten hồng, chất lau trắng gỗ và đủ thứ gương. Giờ chẳng vào nổi cái phòng ngủ chết tiệt ấy nữa rồi. Tôi đánh cược rằng, chỉ với nửa số tiền đó cũng đủ trang trí được căn phòng như thế này.” Anh ta vuốt tay dọc theo mặt trước của chiếc tủ thấp bằng gỗ sồi.
Căn phòng tạo cảm giác rộng rãi vì có ít đồ đạc: chỉ một chiếc tủ, một chiếc ghế bằng liễu gai thanh mảnh, và một chiếc giường đôi thấp với chồng gối cùng chiếc chăn lông vịt màu lục sẫm. Tít trong góc phòng là tủ âm đựng quần áo. Một tấm thảm trắng lớn trải rộng như vô tận, tới nỗi khó lòng phân biệt nổi đâu là điểm kết thúc của tấm thảm và điểm bắt đầu của ván ốp màu trắng. Màu sắc của bức tranh lớn chụp cận cảnh những đoá hoa trên nền tối tương phản một cách hài hoà với mấy mảng tường trắng. Căn phòng như vừa thách thức lại vừa xoa dịu mắt nhìn.
“Hai cậu tìm trong tủ đứng và tủ quần áo,” McLoughlin nói. “Tôi sẽ tìm trong phòng tắm.” Anh vui mừng khi thấy phòng tắm màu hồng nhạt thiết kế bình thường. Chẳng có gì đặc biệt, ngoại trừ hai lọ bọt cạo râu, một hộp lớn lưỡi dao cạo một lần và ba cái bàn chải đánh răng. Có thể coi đó là những vật bất thường trong phòng tắm của một người phụ nữ độc thân. Khi quay ra cửa, anh thoáng thấy một cử động qua khoé mắt. Anh quay phắt lại, tim đập rộn lên như có con gì đó đang giãy giụa và muốn nhảy ra khỏi miệng. Anh gần như chẳng nhận ra nổi bản thân khi nhìn vào người đàn ông giận dữ và rúm ró trong gương. Anh mở vòi nước, vã lên khắp mặt, rồi lau khô bằng một chiếc khăn có hương hoa hồng. Đầu anh đau nhức khủng khiếp. Anh đang phải đấu tranh với chính bản thân và kiệt sức trước nỗ lực hoà hợp những phần nội tâm xung khắc. Chuyện với Kelly chẳng thể vãn hồi được nữa. Ý nghĩ ấy khiến anh ngạc nhiên. Đó chính là nguồn gốc của cơn thịnh nộ sục sôi anh chẳng thể kiểm soát, cũng chẳng thể trút ra ngoài. Nó đã ở sẵn trong lòng anh từ lâu rồi. Khi Kelly bỏ đi, nó bộc phát.
“Ở đây có gì này, trung sĩ,” hạ sĩ Friar nói. Cậu ta đang nằm trên giường, tựa đầu lên đống gối trong tư thế lố bịch gợi nhớ đến bức Olympia của Manet, tay cầm một cuốn sổ nhỏ bìa da và cười khùng khục. “Chúa ơi, thật tục tĩu.”
“Xuống đi,” McLoughlin hất cảm. Anh nhìn cậu ta miễn cưỡng trượt xuống sàn. “Cái gì vậy?”
“Nhật kí của cô ta. Nghe nhé. ‘Mình không nhịn được cười khi nhìn dương vật cương cứng trước khi phóng tinh trong bao cao su. Nó làm mình nhớ về thời thơ ấu và cái lần cha bị nhiễm trùng. Ông làm băng tay bằng túi nilon để tiện quan sát bên trong và đã gọi cả mình lẫn mẹ đến chứng kiến một cảnh kích thích cực độ lúc ngón tay đứt lìa sau khi bị bóp chặt quá lâu. Một dịp hay ho.’ Chúa ơi, bệnh hoạn quá!” Cậu ta đưa cuốn sổ ra khỏi tầm với của McLoughlin. “Và cái này nữa, nghe đây…” Cậu giở một trang. “‘Hôm nay Phoebe và Diana khoả thân tắm nắng trên sân. Mình có thể ngắm cả hai hàng giờ liền, họ thật đẹp.’” Friar cười nhăn nhở. “Cô ta đúng là bệnh hoạn, nhỉ? Tôi tự hỏi không rõ hai người kia có biết cô ta rình mò hay không.” Cậu ta ngước lên và bất ngờ trước biểu cảm chán ghét trên gương mặt McLoughlin. Friar nghĩ trung sĩ chỉ đang giả vờ đứng đắn. “Tôi đang đọc đoạn cuối tháng Năm, đầu tháng Sáu,” cậu ta nói. “Anh đọc xem ngày mùng 2 và mùng 3 tháng Sáu viết gì.”
McLoughlin lật giở mấy trang giấy. Những dòng chữ viết tay bằng mực đen, rắn rỏi và không phải lúc nào cũng dễ đọc.
Anh tìm thấy ngày thứ Bảy, mùng 2 tháng Sáu. Anne viết. “Mình nhìn vào nấm mồ ấy và nó sẽ mãi mãi khiến mình khiếp sợ. Mình mơ rằng sau khi chết vẫn nhận thức được mọi thứ. Mình lơ lửng đơn độc trong bóng tối bao la, không thể nào nói chuyện hay cử động, nhưng vẫn nhận thức được,” (từ này được gạch chân đến ba lần,) “rằng mình đã bị ruồng bỏ, phải tồn tại mãi mãi như thế này mà thiếu vắng tình yêu và niềm hi vọng. Mình chỉ có thể khao khát, và những đau đớn từ nỗi khao khát ấy mới khủng khiếp làm sao. Đêm nay, mình sẽ để đèn sáng. Giờ đây, bóng tối khiến mình sợ hãi.”
Mùng 3 tháng Sáu. “Tội nghiệp Di. ‘Chính những vướng mắc của tâm tư khiến chúng ta hèn mạt.’* Mình có nên nói với cậu ấy không?”
Mùng 4 tháng Sáu. “P. thực sự là một bí ẩn. Anh kể rằng anh ăn nằm với năm mươi ả đàn bà một năm, và mình tin điều đó. Thế nhưng, anh vẫn là người tình ân cần chu đáo nhất. Tại sao lại thế, khi anh có thể chẳng coi phụ nữ ra gì?”
McLoughlin đóng sầm cuốn nhật kí lại. “Còn gì khác không? Quần áo cô ta thì sao?” Hai người đàn ông lắc đầu. “Chúng ta sẽ khám xét phòng khách.”
Anne ngước lên khi họ bước vào. Cô nhìn thấy cuốn nhật kí trong tay McLoughlin và má cô ửng hồng. Mẹ kiếp, tại sao cô lại quên béng mất cơ chứ? “Có cần thiết không?” Cô hỏi anh.
“Tôi e là có, cô Cattrell ạ.” Ban nhạc The Rolling Stones đang chơi những âm điệu cuối cùng. Chúng vang lên và lặng dần vào thinh không.
“Chẳng có gì trong đó cả,” cô nói. “Hoặc ít nhất là chẳng có gì trong đó có ích cho các anh.”
Friar thì thầm vào tai đồng nghiệp, đủ lớn để McLoughlin nghe thấy. “Còn lâu mới không có! Trong đó chứa đủ thứ hổ lốn ấy chứ!”
Friar không ngờ McLoughlin lại đột ngột bóp chặt cẳng tay cậu ta. Những ngón tay của anh cắm vào phần thịt mềm, chẳng khác gì chiếc mũi cứng như sắt của loài cá kiếm, để thoả thuê đâm, chọc, ngoáy cho xứng với sự hung bạo của chúng. Cậu ta đã vô tình khiến McLoughlin nhớ về Jack Booth.
Cao hơn Friar một cái đầu, McLoughlin mỉm cười nhẹ nhàng nhìn xuống cấp dưới. Anh khe khẽ rì rầm bằng giọng Scotland đặc trưng.
“‘Này cái ngữ sinh vật xấu xí đáng nguyền rủa kia. Cả thánh thần và tội đồ đều ghê tởm, khinh khi. Sao ngươi dám giẫm chân lên nàng, thiếu phụ cao quý! Mau cuốn xéo và kiếm ăn trên kẻ hèn khác đi.’” Không có chút cảm xúc nào trên khuôn mặt tăm tối của anh, nhưng những khớp ngón tay trở nên trắng bệch. “Có nhận ra không, Friar?”
Viên hạ sĩ cố gắng giãy ra và xoa bóp cánh tay. Trông cậu ta hoang mang tột độ. “Chịu, trung sĩ ạ,” cậu ta lẩm bẩm vẻ khó chịu. “Tôi không hiểu một từ chết tiệt nào hết.” Cậu ta quay sang người kia để cầu cứu, nhưng Jansen chỉ nhìn chằm chằm xuống chân. Cậu ta mới về Silverborne và Andy McLoughlin khiến cậu ta sợ phát khiếp.
McLoughlin đặt cặp táp lên góc bàn của Anne và mở nó ra. “Trích đoạn từ một bài thơ của Robert Burns,” anh lịch sự nói với Friar. “Tên là ‘Gửi con rận’. Nào, cô Cattrell,” anh tiếp tục, hướng sự chú ý sang cô. “Đây là một cuộc điều tra án mạng. Cuốn nhật kí này sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ về cuộc sống của cô trong vài tháng qua.” Anh xé một tờ giấy và đưa cho cô. Mắt anh thoáng nhìn thẳng vào mắt cô và nhận ra nét cười trong đó. Một cơn sóng ấm áp chợt nổi lên, vỗ về trái tim giá lạnh vì đơn côi của anh. Cô cúi xuống xem xét tờ giấy. Ánh mắt anh bị hút về phía những lọn tóc quăn quăn mềm mại quanh gáy cô, hệt như mấy dấu hỏi đảo ngược cô đặt ra cho anh và chính bản thân mình. Anh muốn chạm vào chúng.
Một lát sau, Anne nói. “Tôi không ghi nhật kí về các hoạt động của bản thân. Chỉ toàn suy tưởng thôi.” Cô ngước lên và nét cười vẫn còn trong đáy mắt. “Cũng chẳng nhiều đâu, chỉ những điều tôi nghĩ là quan trọng. ‘Ta sợ ngươi ăn tằn tiện ở chỗ đấy thôi.’”
Anh mỉm cười. Burns đã viết bài thơ này sau khi nhìn thấy một con rận trên mũ của một quý cô trong nhà thờ. “Cô không bắt chước được giọng đó đâu, cô Cattrell. Cô làm tôi nổi cả da gà với thứ âm điệu khó nghe của cô đó*.” Anne cười lớn. McLoughlin ngoắc chân mình vào một chiếc ghế và kéo nó tới để ngồi xuống. Quả là một gương mặt nhỏ nhắn, và đây biểu cảm. Quá nhiều biểu cảm chăng? Có phải nỗi đau khổ cũng đến dễ dàng như tiếng cười không? “Cô đã ghi lại vài suy nghĩ thú vị trong nhật kí của mình vào ngày mùng 2 tháng Sáu. Cô viết…” Anh mường tượng lại trang giấy trong đầu mình “‘Mình đã nhìn nấm mồ và nó sẽ mãi mãi khiến mình khiếp sợ.’” Anh quan sát cô thật kĩ. “Vì sao cô lại viết như thế, cô Cattrell, và vì sao cô lại viết vào lúc đó?”
“Chẳng có lý do nào cả. Tôi thường viết về cái chết.”
“Cô từng nhìn vào bên trong một nấm mồ rồi à?”
“Không.”
“Cái chết khiến cô khiếp sợ sao?”
“Không hề. Nó chỉ khiến tôi khó chịu.”
“Như thế nào?”
Đôi mắt cô tỏ ra thích thú. Đôi mắt luôn phản bội cô ta, anh thầm nghĩ. “Bởi tôi sẽ chẳng bao giờ biết được điều gì diễn ra tiếp theo. Tôi muốn đọc toàn bộ cuốn sách, chứ không phải chỉ chương đầu. Anh không nghĩ vậy sao?”
Phải, anh nghĩ, tôi cũng thế. “Ấy vậy mà hồi đầu tháng Sáu cô lại sợ hãi cái chết. Vì sao?”
“Tôi không nhớ.”
“‘Mình mơ rằng sau khi chết vẫn nhận thức được mọi thứ.’” Anh nhắc nhở. “Cô tiếp tục nói về việc sẽ để đèn sáng đêm đó vì bóng tối khiến cô hoảng sợ.”
Cô nghĩ lại. “Tôi đã có một giấc mơ và nó vô cùng chân thật. Vô cùng sống động. Tôi thức dậy sớm, khi trời vẫn còn tối đen, và tôi không nhớ nổi mình đang ở đâu. Tôi tưởng giấc mơ ấy mới là thực tại.” Cô nhún vai. “Và điều đó khiến tôi hoảng sợ.”
“Cô có nói về cô Goode, điều gì đó vào mùng 3 tháng Sáu khiến cô ấy dằn vặt lương tâm. Đó là gì?”
“Tôi có nói sao?”
McLoughlin mở cuốn nhật kí và đọc đoạn trích. Anne lắc đầu. “Chắc là một điều không mấy quan trọng. Tâm hồn Di vốn nhạy cảm.”
“Phải chăng cô quyết định nói với cô ấy về cái xác cô tìm thấy trong hầm trữ đông?” anh gợi ý.
“Không, chắc chắn không phải.” Đôi mắt cô long lanh vẻ gian xảo. “Nếu không, hẳn tôi đã nhớ.”
Anh im lặng một thoáng. “Nói tôi nghe xem, vì sao cô không cảm thấy thương xót người đàn ông khốn khổ nằm ngoài đó, cô Cattrell.”
Cô quay đi để tìm thuốc lá. “Tôi có thấy thương xót ông ta mà.”
“Vậy sao?” Anh cầm bật lửa của cô lên và châm thuốc cho cô. “Cô chưa bao giờ nói thế. Cả cô Maybury và cô Goode cũng vậy. Không được bình thường cho lắm. Hầu hết mọi người đều bày tỏ một chút thương xót. Tối thiểu thì cũng nói ‘Tội nghiệp ông ta’. Còn thứ cảm xúc duy nhất mà cô từng thể hiện là vẻ khó chịu.”
Đúng thế đấy, cô nghĩ. Họ mới ngu ngốc làm sao. “Chúng tôi giữ lại nỗi thương cảm cho riêng mình,” cô lạnh lùng nói. “Lòng trắc ẩn mong manh. Nó chết ngay khi chạm vào băng giá. Anh phải sống ở điền trang Streech thì mới hiểu được điều đó.”
“Cô khiến tôi thất vọng đấy. Tôi cứ tưởng lòng trắc ẩn là một trong những nguồn cảm hứng của cô.” Anh chống hai tay lên bàn, rồi đứng dậy. “Tôi nghĩ với một người lạ, chắc hẳn cô sẽ thấy thương cảm. Nhưng cô biết và rất ghét nạn nhân, đúng không?” Chiếc ghế của anh bị đẩy ràn rạt ra sau. “Thôi được rồi, Friar, Jansen, bắt đầu đi. Chúng tôi sẽ cố gắng tiến hành hết sức nhanh chóng, cô Cattrell ạ. Cuối buổi, tôi sẽ yêu cầu cô lên tầng để một nữ cảnh sát lục soát, phòng trường hợp cô giấu bất cứ thứ gì trong người. Cô có thể ở lại trong lúc chúng tôi tiến hành công việc, còn nếu cô thích đợi ở ngoài hơn, một trong các cảnh sát sẽ đợi với cô.”
Anne chọc đâu điếu thuốc vào giữa vòng khói mình vừa nhả ra. “Ồ, tôi sẽ ở lại, trung sĩ ạ. Việc lục soát của cảnh sát với tôi cũng giống như rượu thịt ấy mà. Sẽ giúp tuôn ra vài nghìn chữ dành đăng trên tạp chí phụ nữ nào đó. Tôi khá thích nhan đề kiểu ‘Thương mại hoá đồ tịch biên’ hoặc ‘Cấp giấy phép để rình mò’. Anh nghĩ sao?”
Đồ quỷ cái mặt vàng ệch, anh thầm nghĩ khi dõi theo làn khói phả ra từ miệng cô. Căn phòng hôi rình mùi thuốc. “Xin cứ tự nhiên, cô Cattrell.” Anh quay đi. Máu nóng dồn lên và ứ lại trong đầu. Anh ước mình có thể hét lên để giải phóng sức ép ấy.
Với lòng kiên nhẫn tưởng như vô hạn, họ soi xét từng milimét vuông trong căn phòng. Trong những cuốn sách, đằng sau các bức ảnh, bên dưới ghế, trong ngăn kéo. Họ chọc những chiếc kim dài vào phần đất trong chậu cây, dò tìm chỗ gồ trên tấm thảm, dựng sofa lên và khéo léo chọc vào phần đệm ghế mềm mại. Xong xuôi, căn phòng vẫn hệt như cũ. Anne cũng đã lịch sự ngồi sang chỗ khác. Cô thấy vô cùng ấn tượng.
“Rất chuyên nghiệp,” cô nói. “Làm tốt lắm. Chỉ thế thôi đúng không?”
“Chưa đâu,” McLoughlin nói. “Cô sẽ vui lòng mở khoá két cho tôi chứ?”
Cô giật mình nhìn anh. “Sao anh lại nghĩ tôi có một cái két?”
Anh bước đến bên chiếc lò sưởi ốp gỗ sồi, ấn lên phần cạnh của tấm ốp trung tâm và trượt nó ra sau. Mảng kim loại xanh xỉn của một chiếc két âm tường với tay cầm và phần khoá bằng crôm lộ ra. Anh liếc về phía Friar và Jansen. “Tôi tìm thấy thứ này trong thư phòng sáng nay,” anh nói. “Rất gọn nhỉ?” Anh không thể không nhìn cô và cảm thấy choáng váng trước nỗi hoảng sợ của cô, dù chỉ thoáng qua.
Cô bước trở lại bàn, cố suy nghĩ cho mạch lạc. Cô luôn tin Phoebe là người có óc phán đoán tốt hơn về nhân cách con người, nhưng Diana đã đúng khi nói cần cảnh giác trước McLoughlin.
“Cô vui lòng mở nó ra chứ?” McLoughlin hỏi lại lần nữa.
Anne lấy một bao thuốc lá còn nguyên từ một cây thuốc có tổng cộng hai trăm điếu trong ngăn kéo trên cùng và xé lớp vỏ. Trung sĩ kiên nhẫn quan sát cô trong im lặng.
“Cô nghĩ cô là ai chứ?” Cảnh sát Friar giận dữ nạt nộ. “Cô nghe trung sĩ nói rồi đấy. Mở cái két chết tiệt đó ra.”
Anne lờ cậu ta đi, lật phần đầu gói thuốc và dốc tất cả bên trong ra, một chiếc chìa khoá rơi xuống lòng bàn tay. “Thế anh có biết về Spenser không?” Cô hỏi McLoughlin và nở nụ cười xảo quyệt. “‘Lối cư xử của một người đàn ông chính là thứ tiết lộ nhiều nhất về anh ta.’ Rất có thể câu này được viết cho anh bạn của anh đấy.”
Cô ta đang trì hoãn, anh thầm nghĩ, cô ta e sợ, và mình ghét cô ta. Chúa ơi, mình mới ghét cô ta làm sao. “Cái két, phiền cô, cô Cattrell.”
Anne bước tới, khẽ nhún vai, tra khoá và kéo nó ra. Cái két rỗng không, ngoại trừ một con dao vấy máu trên phần giẻ bao quanh tay cầm. Lưỡi dao đen sì và đóng vảy. McLoughlin cảm thấy phát bệnh. Sau tất cả, anh không muốn nhìn thấy thứ này. Một phần tâm trí anh tự hỏi phải chăng mình bị ốm. Đầu anh nóng bừng như thể đang sốt. Anh tựa vai vào lò sưởi đế giữ thăng bằng. “Cô vui lòng giải thích được chứ?” Anh nghe tiếng mình như vọng từ xa lại, khàn khàn và thiếu tự nhiên.
“Giải thích cái gì?” Anne rút một điếu thuốc và châm lửa.
Thực sự thì là cái gì? Trong tâm trí McLoughlin, cánh cửa chớp lại thoắt mở thoắt đóng. Anh liếc về phía bao thuốc lá trên bàn. “Hãy bắt đầu với việc vì sao cô lại giấu chiếc chìa khoá kĩ đến vậy?”
“Thói quen thôi.”
“Nói dối.”
Căng thẳng khiến làn da quanh mũi và miệng McLoughlin nhăn rúm lại, vô duyên đến kì quái. Anne nhớ đến sợi cáp bằng thép cuốn vào một cái tời khổng lồ để kéo con tàu chở dầu bị hỏng vào bến cảng mà cô từng thấy ở Thượng Hải. Khi phần dây chùng được kéo và nhấc dần lên khỏi nền bê tông, nó rung lắc, giũ sạch lớp bụi đất và căng ra hết cỡ. Rồi khoảnh khắc đáng sợ ấy ập tới. Bỗng dưng nó đứt phựt và lao vút đi với tốc độ kinh hoàng, đập vào phần da thịt không được bảo vệ trên cổ một người đàn ông. Cô nhớ rõ, anh ta đã nhìn thấy sợi cáp văng tới, và giơ hai tay lên để tự vệ. Cô nhìn McLoughlin và bỗng cảm thấy cần làm điều tương tự.
“Tôi muốn gọi cho luật sư của tôi,” cô nói. “Tôi sẽ không trả lời thêm bất cứ câu hỏi nào cho đến khi anh ta tới đây.”
McLoughlin khẽ cựa mình. “Friar, cậu hãy đi tìm chánh thanh tra Walsh, mời ông ấy đến chỗ cô Cattrell giúp tôi. Nhắn với ông ấy có việc khẩn cấp, rằng cô Cattrell muốn gọi điện thoại.” Anh hất đầu về phía khung cửa kiểu Pháp. “Jansen, gọi một nữ cảnh sát đến đây để khám người. Cậu sẽ tìm thấy Brownlow đâu đó ngoài kia.” Anh chờ hai người đi khỏi rồi mới quay lại chỗ lò sưởi và đứng đó nhìn chằm chằm vào chiếc két để mở. Một lúc sau, anh đóng cửa lại và chống tay lên mặt lò, cúi thấp đầu xuống nhìn ngọn lửa giả. Một mô hình ngọn lửa được làm nóng bằng khí đốt và phần than đá nhân tạo phủ đầy tàn thuốc và đầu mẫu. “Cô nên cho chúng vào thùng rác,” anh lẩm bẩm. “Khi cháy, chúng sẽ để lại vết đen đấy.”
Anne nghển cổ xem anh đang nhìn thứ gì. “Ồ, chỗ đó hả. Tôi định mặc kệ rồi hút bụi nhân thể.”
“Tôi tưởng hút bụi là việc của bà Phillips?”
“Đúng vậy, nhưng bà ấy phân biệt đối xử giữa các mức độ bày bừa nhất định, chính xác hơn là phân biệt đối xử giữa những người bày bừa, và sẽ chẳng đời nào chịu thò tay vào chỗ đó đâu.”
McLoughlin quay lại nhìn Anne, khuỷu tay chống lên mặt lò sưởi. Anh run rẩy như người lên cơn sốt rét. “Tôi hiểu rồi.” Tất nhiên là anh không hiểu. Không biết Molly phân biệt đối xử dựa trên căn cứ nào? Chủng tộc? Tôn giáo? Hay giai cấp?
“Dựa trên nền tảng đạo đức,” Anne nói. Mình vừa nói suy nghĩ ra miệng ư? McLoughlin không sao nhớ nổi, đầu anh đau nhức. “Bà ấy là người theo chủ nghĩa khổ hạnh cổ lỗ sĩ, chỉ cảm thấy hạnh phúc khi bản thân khốn khổ. Bà ấy không hiếu nổi vì sao những người khác lại không có cùng suy nghĩ với mình.”
“Giống mẹ tôi,” McLoughlin nhận xét.
Anne bật tiếng cười khàn. “Mẹ tôi thì chẳng thèm bận tâm, tạ ơn Chúa. Nếu không, tôi chẳng thể nào đương đầu nổi với hai người ấy.”
“Bà ấy sống gần đây không?”
Anne lắc đầu. “Lần cuối tôi nghe tin thì bà đang ở Bangkok. Bà tái hôn sau khi cha tôi qua đời và đi vòng quanh thế giới với chồng mới. Thành thực mà nói, tôi đã mất dấu họ.”
Chính là nỗi đau ấy, anh nghĩ. “Lần cuối cô gặp mẹ là khi nào?”
Anne không trả lời ngay. “Rất lâu rồi,” cô sốt ruột gõ ngón tay lên bàn. “Thử cho tôi một lý do thoả đáng xem tại sao tôi phải đợi sự cho phép của thanh tra mới được gọi điện thoại?”
McLoughlin bật cười khi thấy giọng cô run lên vì kích động. Tiếng cười quét qua người anh như một cơn sóng cảm xúc, điên rồ, dữ dội, mất kiểm soát, nhưng thú vị. Anh đặt một tay lên đôi mắt nhoè nhoẹt nước của mình. “Tôi xin lỗi,” anh nói. “Tôi xin lỗi. Chẳng có lý do thoả đáng nào cả. Mời cô. Cứ tự nhiên.” Những lời líu ríu vang vọng trong đầu anh. Thậm chí chính anh còn cảm thấy giọng mình lè nhè như một kẻ say. Anh bám vào lò sưởi, thấy nền nhà chao đảo dưới chân.
“Tôi nghĩ anh không nhận thức được rằng, việc ăn uống cũng nên làm thường xuyên đấy.” Anne nói với qua vai anh trong khi đẩy một chiếc ghế ra sau và đặt bàn tay nhỏ bé lên gáy McLoughlin, kéo anh ngồi xuống. Cô bỏ anh lại và tới lục lọi ngăn kéo dưới cùng. “Đây,” cô ấn một thanh sô cô la Mars mới nguyên vào tay anh. “Tôi sẽ lấy thứ gì đó cho anh uống,” và lôi chai nước khoáng từ tủ đựng đồ uống mini ra, rót một ly đầy cho viên trung sĩ.
McLoughlin buông thõng tay giữa hai đầu gối, siết chặt thanh kẹo. Anh không ăn. Anh không thể di chuyển, dù có muốn đi chăng nữa.
“Ôi, chết tiệt!” Anne cáu kỉnh, đặt ly nước lên bàn và ngồi xổm trên sàn trước mặt anh. “Coi nào, McLoughlin, anh chẳng khác gì một cái nhọt trên mông cả, thật đấy. Nếu anh cố chè chén để được nghỉ hưu non, thì tốt thôi, đó là lựa chọn của anh. Chúa mới biết tại sao từ đầu anh lại gia nhập lực lượng cảnh sát. Anh nên viết tiểu sử về Francis Bacon, Robert Burns hoặc làm gì đó tương tự thì hơn. Nếu không, hãy tự giúp chính mình. Cái tên vô dụng anh gửi đi để tìm thanh tra có thể quay lại đây bất cứ lúc nào, và cậu ta sẽ đái ra quần khi thấy anh như vậy đấy. Tin tôi đi, tôi biết loại người đó.”
Cô tuyệt đẹp theo cách riêng. Được đắm mình trong đôi mắt nâu dịu dàng ấy cũng đủ khiến anh hạnh phúc. Anh cắn một miếng sô cô la, vừa nhai vừa nghiền ngẫm. “Cô là một kẻ dối trá tệ hại, Cattrell ạ.” Anh khẽ lắc đầu. “Cô bảo lòng trắc ẩn là một thứ mong manh, nhưng cô vừa dùng nó và đánh gãy cổ tôi rồi đấy.”