Hầm Trữ Đông

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18

❊ ❊ ❊

18

Trong vòng hai mươi tư giờ, Anne hồi phục nhanh chóng đến mức giờ cô đang phải chịu đựng cơn thèm nicotine khủng khiếp. Cô yêu cầu được xuất viện. Jonathan bảo cô đừng cư xử như kẻ ngốc thế. “Dì đã suýt chết đấy. Nếu không nhờ trung sĩ, chắc hẳn dì đã xong đời rồi. Cơ thể dì cần thời gian hồi phục và vượt qua cơn sốc.”

“Chết tiệt,” cô kêu lên. “Dì chẳng nhớ chút gì cả. Không có những trải nghiệm cận kề cái chết, không trôi lơ lửng trên trần nhà, không có ánh sáng phía cuối đường hầm. Toàn là chuyện vớ vẩn. Nếu không dì đã viết hết ra rồi. Và đó chính là hậu quả của việc theo đuổi chủ nghĩa vô thần đấy.”

Vốn có nhiều lý do để coi McLoughlin như một hiện thân của chủ nghĩa anh hùng, Jonathan liền quở trách cô. “Dì đã cảm ơn chú ấy chưa?”

Anne trừng mất nhìn hết cậu đến nữ cảnh sát cạnh giường. “Vì cái gì? Anh ta chỉ làm công việc của mình thôi mà.”

“Cứu mạng dì.”

Cô trợn mắt. “Nói thật, với cảm giác của dì bây giờ, thì mạng dì không đáng cứu đâu. Cuộc sống thì nên dễ dàng, vui vẻ và không đau đớn chứ. Ở đây không có gì như thế cả. Chẳng khác nào một nhà tù, điều hành bởi những kẻ tàn ác.” Cô hất đầu về khu vực quản lý khoa. “Mụ già đó nên bị nhốt lại. Bà ta cười ha hả mỗi lần chọc kim vào người dì và oang oang rằng bà ta làm thế vì muốn tốt cho dì. Chúa ơi, dì cần một điếu thuốc. Tuồn vào đây một ít cho dì đi, Jonny. Dì sẽ rít thuốc dưới chăn thôi. Không ai biết đâu.”

Cậu nhe răng cười. “Cho đến khi cả cái giường bốc cháy.”

“Đấy, lại còn cười nữa,” cô buộc tội. “Có vấn đề gì với mọi người vậy? Vì sao tất cả đều thấy tức cười thế hả?”

Đang ngồi phía bên kia giường, nữ cảnh sát Brownlow cũng phải cười thầm.

Anne ném ánh nhìn chán ghét về phía cô ta. “Tôi thậm chí còn chẳng biết cô đang làm gì ở đây,” cô nói. “Tôi đã nói với cô tất cả những gì tôi có thể nhớ được, và đó là con số không.” Cô không thể nào tự do nói chuyện với bất cứ ai, rõ ràng là vì người phụ nữ chết tiệt kia cứ đóng đô ở đây, và điều đó khiến cô phát điên lên được.

“Tôi ở đây theo lệnh,” nữ cảnh sát điềm tĩnh nói. “Thanh tra muốn phải có ai đó ngay khi cô nhớ ra điều gì.”

Anne nhắm mất và nghĩ đến tất cả những cách có thể để giết McLoughlin khi gặp lại anh ta lần nữa.

Còn McLoughlin lúc này thì đang làm nhiệm vụ thu thập thông tin về lão già lang thang và gửi bản mô tả về lão tới các bốt cảnh sát trong khu vực. Anh gọi điện cho một đồng nghiệp ở Southampton và nhờ anh ta kiểm tra quanh đó.

“Điều gì khiến cậu nghĩ lão sẽ đến đây?”

“Logic,” McLoughlin nói. “Lão đi thẳng về chỗ cậu và trong vùng này, chính quyền chỗ cậu thương cảm người vô gia cư hơn cả.”

“Nhưng đã hai tháng rồi, Andy ạ. Có khi lão đã đi được mấy tuần rồi ấy chứ.”

“Tôi biết. Nhưng dù sao, mô tả này cũng đầy đủ mà. Ai đó có thể nhớ ra ông ấy. Nếu chúng ta có một cái tên, mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn. Thử xem cậu có thể làm gì.”

“Thời điểm này tôi bận lắm đó.”

“Ai chẳng vậy. Chào nhé.” Anh chấm dứt tràng càu nhàu của người kia bằng một thủ thuật đơn giản là đặt ống nghe về chỗ cũ, rồi bỏ lại cốc cà phê lạnh ngắt và vội vã rời đi trước khi bạn anh gọi lại với cả tá lý do nữa. Cảm thấy nhẹ nhõm, anh đến điền trang và nói chuyện với Jane Maybury. Cô bé cho biết đã sẵn sàng trả lời câu hỏi. Anh hỏi cô bé có cần để mẹ ngồi cạnh trong lúc trao đổi không, nhưng Jane lắc đầu, vì nghĩ không cần thiết. Với nụ cười thoáng chút âu lo, Phoebe đưa họ vào phòng khách và đóng cửa lại. Họ ngồi cạnh dãy khung cửa kiểu Pháp. Cô bé trông vẫn xanh xao, với làn da màu thạch cao giống kem sữa, nhưng McLoughlin đoán đó là màu da tự nhiên. Cô bé mặc quần jeans bạc phếch và áo phông có dòng chữ “Bristol City” in ngang ngực. Anh nghĩ trông trang phục thật chẳng ra sao trên cái cơ thể mỏng như xác ve đó.

Jane đọc được suy nghĩ của anh. “Tại cứ hi vọng lần này sẽ khá hơn đấy,” cô bé nói. “Lần nào cũng thế.”

McLoughlin mỉm cười. “Chú nghĩ ai cũng vậy thôi, chẳng chuyện này thì chuyện khác, nếu không thành công ngay từ đầu.”

Cô bé bồn chồn rồi ngồi ngay ngắn lại. “Thế chú muốn hỏi cháu điều gì?”

“Chỉ vài điều thôi, nhưng trước hết, mong cháu hiểu chú không muốn làm cháu buồn. Hễ thấy khó chịu trước câu hỏi của chú, cứ nói ra và chúng ta sẽ dừng lại. Nếu có điểm nào mà cháu chỉ muốn nói với nữ cảnh sát, chú nhắc lại, chỉ cần nói ra và chú sẽ thu xếp.”

Jane gật đầu. “Cháu hiểu.”

McLoughlin gợi nhắc cô bé về cái đêm xảy ra vụ tấn công và nhanh chóng điếm lại lời khai về chuyện xem ti vi và nghe thấy tiếng kính vỡ. “Anh cháu là người đầu tiên xuống tầng, chú nghĩ cháu đã nói vậy.”

“Vâng. Anh ấy nghĩ có thể là kẻ trộm nên dặn cháu và Lizzie ở yên một chỗ cho đến khi anh ấy báo lại.”

“Cháu có ở yên không?”

“Không. Lizzie cứ đòi đi theo Jon đến chỗ dì Diana. Chúng cháu không biết cửa sổ ở khu nào bị vỡ. Cháu bảo sẽ đi kiểm tra dãy phòng của mẹ, còn Jon thì chạy thẳng đến chỗ chú.”

“Chuyện gì xảy ra sau đó?”

“Mẹ và dì Diana đến sảnh cùng lúc với bọn cháu. Mẹ đi theo Jonathan. Cháu kiểm tra phòng này, dì Diana ngó qua thư phòng và Lizzie đi xem dưới bếp. Khi cháu trở lại sảnh, mẹ đang chạy xuống tầng với một chồng chăn cùng túi chườm nóng và hô hoán dì Diana gọi xe cấp cứu. Cháu gợi ý phải đi báo với Fred đế bác ấy mở cổng và mẹ bảo đúng rồi, mẹ quên mất đấy.” Cô bé xòe bàn tay trên lòng. “Nên cháu lấy đèn pin đặt trên bàn ở sảnh và đi ra ngoài.”

“Tại sao lại là cháu? Sao không phải con gái của Goode?”

Cô bé nhún vai. “Đó là ý của cháu. Dù sao lúc ấy Lizzie cũng chưa kiểm tra dưới bếp xong.”

“Cháu không sợ à? Cháu không nghĩ đến chuyện chờ cô bé lên nhà để đi cùng mình sao?”

“Không ạ,” cô bé nói. “Cháu không nghĩ tới chuyện đó.” Có vẻ chính cô bé cũng bất ngờ rằng tại sao mình lại làm thế. Cô bé ngẫm nghĩ một lát. “Nói thật, có gì đáng sợ đâu. Nghe mẹ nói dì Anne bị ốm, cháu tưởng dì bị viêm ruột thừa hay đại khái thế thôi. Cháu chỉ mãi nghĩ tại đám nhà báo mà nhà mình mới phải khoá cổng phiền phức thế này.” Cô bé khẽ cao giọng. “Cũng có phải cháu chưa tự đi ra cổng bao giờ đâu. Cháu đã đi cả trăm lần rồi, thậm chí là trong bóng tối. Thỉnh thoảng cháu đến đó và nói chuyện với Molly khi Fred tới quán rượu.”

“Ừ, tất cà đều hợp lý.” McLoughlin mỉm cười khuyến khích. “Cháu chạy nhanh lắm. Chú phải hết hơi mới bắt kịp được đấy.”

Jane bỏ tay khỏi vạt áo phông nhăn nhúm. “Cháu lo cho dì Anne.” Cô bé thừa nhận. “Dì có thể đột tử bất cứ lúc nào. Suy nghĩ rùng rợn ấy cứ luẩn quẩn trong đầu nên cháu gắng sức chạy.”

“Cháu rất quý cô ấy, phải không?”

“Dì Anne giống như hoa vô ưu vậy,” Jane nói. “Sống và cứ sống thế thôi, đó là phương châm của dì. Dì ấy chưa bao giờ can thiệp hay phê phán cháu. Nhưng cháu cho rằng với dì ấy thì phong cách ấy là phù hợp. Dì không có đứa trẻ nào để lo lắng cả.”

“Mẹ chú là người hay lo lắng,” McLoughlin nói dối. Anh nhớ rằng điều duy nhất bà McLoughlin từng lo nghĩ là liệu bà có đến muộn buổi chơi Bingo hay không mà thôi.

Jane chống hai tay lên cằm. “Mẹ thì tuyệt vời rồi,” cô bé ngây ngô tâm sự. “Nhưng mẹ vẫn nghĩ cháu cần được bảo vệ. Dì Anne lúc nào cũng khuyên mẹ hãy để cháu tự đối mặt với những trận chiến của mình.” Cô bé cuốn một lọn tóc đen dài quanh ngón tay.

McLoughlin bất tréo chân và ngồi sâu vào ghế, thong thả hỏi. “Trận chiến cơ á?” Anh nhẹ nhàng trêu chọc. “Cháu có những trận chiến gì mà ghê gớm vậy?”

“Mấy chuyện vớ vẩn ấy mà,” cô bé quả quyết. “Với chú chắc chỉ như vũng bùn lầy, nhưng với cháu lại sừng sững như ngọn núi vậy. Chắc chú sẽ cười cháu mất.”

“Chú không nghĩ vậy đâu. Cháu cũng sẽ cười trước những trận chiến của chú thôi.”

“Kể cháu nghe xem,” cô bé đề nghị.

“Thôi được.” McLoughlin nhìn gương mặt tươi cười, đầy tin tưởng của cô bé và thầm nghĩ, ước gì Jane chưa từng phải trải qua những chuyện kinh khủng kia và giữ mãi được nụ cười ấy. “Trận chiến tệ hại nhất mà chú từng gặp phải là với mẹ, hồi chú bằng tuổi cháu. Chú đã lén đưa bạn gái vào phòng ngủ, mong có được một đêm đầy đam mê. Mẹ bước vào khi hai đứa đang dở tay.”

“Chao ôi,” cô bé thốt lên. “Sao chú không khoá cửa lại?”

“Không có khoá.”

“Chắc phải xấu hổ lắm,” Jane nói với vẻ thông cảm.

“Đúng vậy đấy,” anh đáp. “Bạn gái chú chuồn mất và chú phải chiến đấu với bà mẹ già khó tính trong tình trạng không mảnh vải che thân. Bà cho chú hai lựa chọn: Nếu chú thề không bao giờ tái phạm nữa, chú được phép ở lại. Bằng không, bà sẽ đạp chú ra đường.”

“Thế chú làm gì?”

“Đoán xem,” anh gợi ý.

“Chú bỏ đi, người vẫn trần trùng trục.”

McLoughlin giơ ngón cái lên khen ngợi. “Trúng phóc luôn.”

Jane tròn mắt như một đứa trẻ. “Nhưng rồi chú lấy quần áo ở đâu? Sau đó chú đã làm gì?”

Anh nhe răng cười. “Chú nấp trong bụi cây cho đến khi đèn tắt hết thì lấy cái thang trong kho ra và trèo vào phòng ngủ. Cửa sổ để mở. Dễ như bỡn. Chú lên giường, đánh một giấc ngon lành rồi sắp va li và biến khỏi nhà trước khi mẹ thức dậy vào sáng hôm sau.”

“Chú vẫn gặp bà chứ?”

“Ồ, có chứ,” McLoughlin nói. “Chú phải thực hiện nghĩa vụ vào các bữa trưa Chủ nhật. Để chú nói cháu nghe, chú nghĩ sau đấy bà đã hối hận ghê lắm. Nhà cửa trống vắng hẳn từ khi chú đi.” Anh im lặng một thoáng. “Giờ đến lượt cháu,” anh nói.

Jane cười khúc khích. “Không công bằng. Trận chiến của chú rất hài hước, còn của cháu thì toàn uỷ mị vớ vẩn thôi. Những chuyện kiểu như mình có nên ăn món khoai tây nghiền này không? Mình có đang làm việc vất vả quá không? Sao mình không ra ngoài và tận hưởng cuộc sống một chút nhỉ?”

“Cuối cùng cháu có làm như thế không?”

“Ra ngoài và tận hưởng cuộc sống ấy ạ?”

Anh gật đầu.

“Không nhiều lắm.” Môi Jane mím lại vẻ bất cần, khiến cô bé như già hẳn đi. “Ý tưởng về việc tận hưởng cuộc sống của mẹ cháu là ra ngoài chơi với đám con trai. Cháu thì chẳng thấy chuyện đó thú vị chút nào.” Mắt cô bé nheo lại. “Cháu không thích đàn ông chạm vào cháu. Mẹ cháu lại không muốn cháu như vậy.”

“Cũng chẳng có gì lạ. Hẳn mẹ cháu có cảm giác đó là lỗi của cô ấy.”

“Vâng, nhưng đó không phải lỗi của mẹ cháu,” cô bé liền đáp. “Cháu ước gì mẹ nhận ra điều đó. Việc khổ sở nhất trên đời là phải đối mặt với cảm giác tội lỗi của người khác.”

“Jane này, cháu nghĩ chuyện gì đã xảy ra với cha cháu?”

Câu hỏi lơ lửng trong không trung như đống rác bốc mùi hôi thối. Cô bé quay đi và nhìn ra ngoài cửa sổ, khiến anh tự hỏi có phải mình đã tiến quá nhanh để rồi bỏ lỡ cơ hội nói chuyện thẳng thắn hay không. Anh hi vọng là không, vì lợi ích của cô bé, cũng vì sự thành bại của lần lấy lời khai này.

“Cháu sẽ kể chú nghe chuyện xảy ra vào cái đêm ông ta bỏ đi,” cuối cùng cô bé lên tiếng, mắt vẫn nhìn ra ngoài. “Cháu nhớ rất rõ, nhưng không nói với ai, kế cả bác sĩ tâm lý của mình. Có những phần cháu muốn giữ lại, những phần không ăn khớp với câu chuyện, và cả những phần cháu muốn quên đi.” Cô bé ngừng một thoáng. “Cháu không nghĩ về chuyện ấy nhiều năm nay cho đến đêm hôm trước. Và rồi, quá khứ lại ám ảnh tâm trí, và cháu cho rằng những điều cháu muốn quên đi có thể lại rất quan trọng.”

Cô bé nói từ tốn và rõ ràng. Tự mình dẫn dắt câu chuyện thế này, cô thấy chẳng việc gì phải rối lên cả. Cô bé kể với anh, sau khi Phoebe đi làm, David bảo cô bé xả nước vào bồn tắm. Đó là ám hiệu ngầm rằng hắn ta muốn chuyện đó. Thói quen này do hắn tự nghĩ ra và cô bé phải học cách chấp nhận. Jane mô tả toàn bộ quá trình với vẻ vô cảm và McLoughlin đoán cô bé đã nhắc lại câu chuyện này nhiều lần ở chỗ bác sĩ tâm lý. Cô bé kể về việc David tiến đến thế nào và bản thân mình bước vào phòng ngủ ra sao, như thể đang bình luận một trận cờ.

“Nhưng đêm đó, ông ta làm một việc rất lạ lùng,” Jane hướng ánh nhìn tăm tối về phía viên trung sĩ.

Anh mất một lúc mới thốt nên lời. “Đó là gì?”

“Ông ta bảo ông ta yêu cháu. Trước đấy, ông ta chưa từng làm thế.”

McLoughlin choáng váng. Quá nhiều đau đớn và không một lời lẽ yêu thương. Rồi đến cuối cùng, lại nói ra mấy lời ngọt ngào đó để làm gì cơ chứ, ngoài việc chỉ càng chứng minh cho sự giả nhân giả nghĩa của mình? “Tại sao cháu lại cho rằng điều ấy quan trọng?” Anh bình tĩnh hỏi.

“Để cháu kể nốt câu chuyện đã,” cô bé đề nghị. “Và có lẽ nó cũng sẽ khiến chú bất ngờ.” Lần này, trước khi cưỡng bức con gái mình, hắn tặng cô bé một món quà được gói cẩn thận trong giấy lụa. “Trước đấy, ông ta cũng chưa bao giờ làm điều đó.”

“Quà gì vậy?”

“Một con gấu bông nhỏ. Hồi bé, cháu từng sưu tập gấu bông. Khi ông ta xong xuôi…” cô bé tóm lược những gì đã xảy ra trong năm từ ngắn ngủi, “… ông ta vuốt tóc cháu và nói xin lỗi. Cháu hỏi vì sao trước đó ông ta chưa bao giờ xin lỗi. Đúng lúc ấy mẹ bước vào và câu hỏi kia mãi mãi không được trả lời.” Cô bé bỗng chốc im lặng và nhìn chằm chằm vào tay mình.

Anh chờ đợi nhưng Jane vẫn im lặng, vài phút sau anh đành hỏi. “Chuyện gì xảy ra tiếp theo?”

Cô bé cười buồn. “Thật sự cũng không có gì. Họ chỉ nhìn nhau tưởng như tới vài tiếng đồng hồ. Cuối cùng, ông ta xuống giường và kéo quần lên.” Giọng cô bé lạnh tanh. “Cứ như một vở hài kịch rẻ tiền ở rạp Whitehall vậy. Cháu vẫn nhớ gương mặt mẹ lúc ấy. Đông cứng, y như tượng. Trông mẹ bợt bạt, trừ vết bầm tím trên mặt vì bị ông ta đánh hôm trước. Mẹ chỉ cử động khi ông ta đã rời khỏi phòng. Mẹ nằm xuống bên cạnh và ôm cháu. Hai mẹ con cứ nằm như vậy cả đêm. Đến sáng thì ông ta đã đi mất.” Cô bé nhún vai. “Nhà cháu chẳng bao giờ gặp lại ông ta nữa.”

“Mẹ cháu có nói gì với ông ta không?” Anh hỏi.

“Không. Mẹ không cần làm thế.”

“Sao lại không?”

“Chú biết ‘ánh mắt đằng đằng sát khí’ rồi đấy.” Anh gật đầu. “Ánh mắt đó như thể được khắc trên gương mặt mẹ vậy.” Cô bé cắn môi. “Chú nghĩ sao?”

Cô bé khiến anh bất ngờ, tới nỗi suýt buột miệng, chú nghĩ mẹ cháu đã giết ông ta, nhưng anh chỉ hỏi. “Về chuyện gì cơ?”

Cô bé tỏ ra thất vọng. “Chuyện hiển nhiên quá mà. Cháu cứ hi vọng chú cũng cảm thấy tương tự.” Trên gương mặt gầy gò hiện rõ nỗi mong ước mãnh liệt, về một chuyện gì đó anh không sao hiểu nổi.

“Chờ đã,” anh nghiêm nghị nói. “Cho chú một phút để suy nghĩ. Cháu biết rõ câu chuyện ấy. Nhưng chú thì mới nghe lần đầu.” Anh nhìn những ghi chú của mình và bắt não hoạt động hết công suất để tìm ra điều Jane muốn hỏi. Anh liên kết ba điểm David chưa bao giờ làm trước đó: tình yêu, quà, xin lỗi. Ý nghĩa của chúng là gì? Lý do cô bé nghĩ cha mình làm thế là gì? Vì sao hắn lại có những hành động đó? Vì sao một người cha lại nói với con gái rằng, ông ta yêu nó, tặng quà cho nó và hối hận về những hành động tàn ác của mình? Anh ngước lên và bật cười. Sau cùng, mọi việc cũng rõ ràng đến mức khiến anh sửng sốt. “Ông ta đang lên kế hoạch bỏ đi. Ông ta muốn nói lời từ biệt. Đó là lý do tại sao ông ta biến mất không để lại dấu vết. Ông ta đã sắp xếp tất cả từ trước.”

Cô bé buông tiếng thở dài. “Đúng vậy, cháu nghĩ thế đấy.”

Anh xúc động ngã người tới trước. “Nhưng cháu có biết lý do vì sao ông ta muốn biến mất không?”

“Không, cháu không rõ.” Cô bé ngồi thẳng dậy và gạt mớ tóc đen khỏi mặt. “Tất cả những gì cháu biết, là không phải lỗi của cháu.” Jane khẽ nở nụ cười. “Chú không thể tưởng tượng được nhận thức này tuyệt vời thế nào với cháu đâu.”

“Nhưng không ai nghĩ đó là lỗi của cháu mà, phải không?”

“Khi cháu tám tuổi, mẹ bắt gặp cháu trên giường với cha. Vì thế mà cha chạy trốn và mẹ bị coi là kẻ giết người. Khi cháu mười tuổi, tính tình Jon thay đổi. Anh ấy không còn là trẻ con nữa và thay thế vị trí của người cha trong nhà. Anh ấy đã thề sẽ giữ bí mật về những chuyện đã xảy ra và không bao giờ đề cập đến cha nữa.” Jane nghịch những ngón tay. “Cảm giác tội lỗi của mẹ trở thành nỗi ám ảnh với chính bản thân cháu.” Cô bé ngước mắt lên. “Chuyện xảy ra vào đêm hôm trước chẳng khác gì trong cái rủi lại có cái may. Nó giúp cháu hiểu ra nhiều điều. Mấy năm liền ngồi trị liệu, bác sĩ tâm lý đã cố hết sức để giúp cháu thoát khỏi cảm giác tội lỗi. Xét ở một mức nào đó, ông ấy đã thành công, cháu dồn tất cả vào tận sâu trong tâm trí. Cháu là nạn nhân, chứ không phải kẻ có tội. Cháu bị ép buộc bởi người cháu được dạy phải tôn trọng. Cháu đồng ý làm thế bởi cháu quá trẻ để hiểu rằng mình có thể lựa chọn.” Cô bé thoáng ngừng lại. “Nhưng đêm vừa rồi, có lẽ vì cháu quá sợ hãi nên tất cả đã quay trở lại, rõ ràng đến kinh ngạc. Lần đầu tiên trong đời, cháu nhận ra mọi chuyện đã thay đổi kể từ cái đêm ông ta bỏ đi. Lần đầu tiên trong đời, cháu không cần cố biện hộ cho sự vô tội của mình nữa. Cháu hiểu ra rằng, những nỗi khốn khổ và bấp bênh trong mười năm qua kiểu gì cũng sẽ xảy đến, dù mẹ có phát hiện chuyện của cháu với ông ta hay không.”

“Cháu đã kể với mẹ chưa?”

“Vẫn chưa ạ. Sau khi nói chuyện với chú cháu sẽ kể. Cháu muốn mẹ cũng hiểu ra được như cháu.”

“Kể chú nghe chuyện gì đã xảy ra trên đường cháu đến điểm canh đi,” anh khuyến khích. “Cháu nói mình nghe thấy tiếng thở.”

Cô bé bặm môi suy nghĩ. “Giờ nghĩ lại cháu thấy hơi mơ hồ,” cô bé thừa nhận. “Cháu vẫn ổn cho tới lúc bắt đầu bước vào lối đi thẳng dẫn đến cổng. Khi vòng qua khúc quanh, cháu đi chậm lại bởi vừa bị đau xóc lên. Cháu nghe thấy tiếng ai đó đang thở ra thật dài, như kiểu thở sau khi nín một lúc đế chữa nấc ấy. Dường như ai đó ở rất gần. Cháu hoảng quá nên bắt đầu chạy tiếp. Rồi cháu nghe thấy tiếng bước chân rầm rập và tiếng hét.” Cô bé ngượng ngùng nhìn anh. “Đó là chú. Chú làm cháu sợ kinh khủng. Giờ cháu không chắc mình có nghe thấy tiếng thở hay không nữa.”

“Được rồi,” McLoughlin nói. “Không quan trọng đâu. Khi cháu bảo rằng cháu tưởng đó là cha cháu, có phải vì cháu quá sợ không? Hay tiếng thở đó gợi cháu nhớ đến ông ta?”

“Không,” cô bé nói. “Cháu thậm chí chẳng nhớ nổi mặt mũi nữa là, nói gì đến tiếng thở. Quá lâu rồi. Mẹ đã đốt tất cả ảnh của ông ta.” Cô bé nhìn anh cố ghép các manh mối lại với nhau. “Cháu trả lời như vậy có tốt không ạ?”

“Tốt ư?” Trong cơn bốc đồng, anh nhoài người về trước và khẽ siết tay cô bé. “Chú phải nói rằng mẹ đỡ đầu của cháu sẽ hài lòng lắm đấy, tiểu thư ạ. Hãy quên hết những trận chiến đi, cháu vừa leo lên đỉnh Everest của chính mình rồi. Kể từ lúc này, việc cần làm chỉ là xuống dốc thôi.”

Phoebe đang ngồi trên chiếc ghế trong vườn cạnh cửa trước, tay chống cằm, lơ đãng nhìn những thảm hoa viền quanh lối vào trải sỏi.

Anh hỏi: “Cho phép tôi ngồi cùng cô nhé?”

Cô gật đầu.

Họ im lặng vài phút.

“Lằn ranh phân định giữa một pháo đài và một nhà tù rất mong manh,” anh nhẹ nhàng nhận xét. “Mười năm là quãng thời gian dài. Cô không nghĩ, bản án cho chính mình như vậy là đủ rồi sao?”

Phoebe ngồi thẳng dậy, cay đắng ra hiệu về phía làng. “Hỏi họ đi,” cô nói. “Chính họ đã dựng hàng rào thép gai.”

“Vậy ư?”

Theo bản năng, cô đẩy kính lên trên mũi như một cách phòng vệ. “Đương nhiên. Tôi chưa bao giờ chọn cuộc sống thế này. Nhưng anh biết làm gì khi mọi người chống lại mình? Cầu xin lòng tốt của họ sao?” Cô bật tiếng cười khàn. “Tôi sẽ không làm thế đâu.”

Anh nhìn chằm chằm vào hai bàn tay. “Đó không phải lỗi của cô,” anh điềm tĩnh nói. “Jane hiểu điều đó. Bản chất hắn ta đã là như vậy rồi. Dù cô có làm gì đi nữa cũng chẳng thay đổi được đâu.”

Cô thu mình lại, để mặc sự im lặng kéo dài. Trên đầu họ, những con chim nhạn lao mình xuống rồi bay vút lên. Một con chiền chiện đang cố gân cổ cất tiếng hót. Cô lấy chiếc khăn tay từ ống tay áo ra và chấm lên mắt. “Tôi không nghĩ mình lại quý anh như vậy,” cô nói.

Anh nhìn cô. “Tất cả chúng ta đều mang gánh nặng tội lỗi trên vai. Đó là bản chất của con người. Nói chuyện với bất cứ ai mới mất người thân hoặc mới ly hôn đi, cô sẽ được nghe những câu chuyện tương tự nhau, giá như tôi làm điều này… giá như tôi không làm điều kia… giá như tôi tử tế hơn… giá như tôi phát hiện ra sớm. Khả năng tự trừng phạt bản thân của chúng ta là vô hạn. Nhưng điểm mấu chốt là phải biết khi nào nên dừng lại.” Anh khẽ đặt tay lên vai cô. “Cô đã tự trừng phạt bản thân mình quá lâu rồi. Cô không thấy sao?”

Cô quay mặt đi. “Lẽ ra tôi phải biết,” cô nói qua chiếc khăn tay. “Hắn làm tổn thương con bé và đáng lẽ tôi phải biết.”

“Làm sao cô biết được? Cô cũng như những người khác mà thôi,” anh tàn nhẫn nói ra sự thật. “Jane yêu cô, con bé muốn bảo vệ cô. Nếu tự trách mình, cô sẽ tước đi mọi cố gắng của con bé.”

Lại một quãng dài im lặng trong lúc Phoebe cố cầm nước mắt. “Tôi là mẹ con bé. Chỉ tôi mới có khả năng cứu nó, nhưng khi nó cần thì tôi lại chẳng bao giờ xuất hiện. Sự thật đó khiến tôi không thể chịu đựng nổi.” Bờ vai cô run rẩy dưới bàn tay anh.

Chẳng dừng lại để suy xét xem làm như vậy có thích hợp hay không, theo bản năng, McLoughlin vươn tay ra, kéo cô vào lòng và để cô thổn thức. Anh đoán, đó không phải những giọt nước mắt đầu tiên rơi xuống, nhưng lại là những giọt nước mắt đầu tiên rơi xuống vì cô nhận ra đã để lạc mất bản thân vào một thế giới, nơi cô cho rằng mình có thể làm bất cứ điều gì. Đôi khi, chiến thắng nghịch cảnh chỉ là dám đối mặt với một thất bại nhỏ sau một thất bại lớn trước đó mà thôi. Bi kịch, như với Phoebe, chính là phải đối mặt với một thất bại khủng khiếp quá sớm và chẳng bao giờ gượng dậy được nữa. Trái tim anh, dù vẫn còn bầm giập và héo hon, cũng thấy đau đớn thay cho cô.

Anh dừng xe nơi góc quanh ngay trước quãng đường thẳng tắp dành cho ô tô và bước ra. Gần. Jane đã nói thế. Vậy có nghĩa, kẻ đó đã náu mình giữa những bụi đỗ quyên dọc hai bên đường. Cho tới lúc này, những cuộc lùng sục đều khiến anh thất vọng. Trong khi cử một đội rà soát hầm trữ đông đế lần ra mối liên hệ với bà Thompson, anh tự mình kiểm tra sân hiên, tìm những dấu hiệu của kẻ đã tấn công Anne. Nếu thực sự mọi việc diễn ra như anh nghĩ, hẳn sẽ có vô số bằng chứng. Nhưng Walsh nói đúng. Ngoại trừ mấy viên gạch bật khỏi chỗ và đầu mẫu thuốc lá mang nhãn hiệu mà cả Fred và Anne đều không hút, thì chẳng có gì. Không hung khí. Anh kiểm tra tỉ mỉ từng viên gạch và sỏi đế tìm vết máu. Không có dấu chân, bãi cỏ quá rắn do thời tiết khô hạn và những phiến đá lát thì quá sạch sẽ nhờ việc quét dọn thường xuyên của Molly. Không có máu, dù chỉ một giọt nhỏ, để chứng minh Anne đã bị đánh ở bên ngoài chứ không phải trong phòng. Anh bắt đầu tự hỏi, không biết có phải mình đã đặt quá nhiều niềm tin vào sự chắc chắn của Phoebe hay không. Mười năm là một quãng thời gian dài và con người có thể thay đổi. Phoebe khẳng định, việc này chỉ xảy ra duy nhất một lần. Nhưng nếu cô đã lầm hoặc nếu cô nói dối thì sao? Anh không nghĩ ra khả năng nào khác. Vẫn chưa thể.

Anh nằm bò xuống, chống hai tay và đầu gối lên đất và bắt đầu tỉ mẩn kiểm tra dọc lối vào. Nếu ở đây quả thật có manh mối nào đó, thì cũng sẽ không dễ dàng tìm được. Đã có một đội được cử đến nhưng không phát hiện ra điều gì. Anh bảo họ tập trung xuống quãng dưới, xa hơn một chút, gần nơi anh đuổi kịp Jane, cũng là nơi anh thoáng có cảm giác mình và cô bé bị theo dõi. Anh bò dọc mạn bên trái, đầu gối đau nhức, mắt căng ra cảnh giác. Nhưng sau nửa giờ, anh đành bỏ cuộc vì chẳng tìm thấy gì.

Kiệt sức, anh ngồi xổm trên gót chân và thầm nguyền rủa sự bất công. Chỉ một lần thôi, hãy để tôi được làm kẻ may mắn. Chỉ một lần thôi, hãy để thứ gì đó tự nhiên rơi xuống trước mặt tôi mà tôi không phải chổng mông lên tìm kiếm.

Anh chuyển sang mạn phải con đường và dò ngược về phía góc quanh. Anh đoán mình đã gần đến chỗ chiếc xe, nhưng rồi anh phát hiện ra một thứ. Anh hít một hơi thật sâu và đấm vào đám đá dăm, gầm gừ, lắc đâu quầy quậy như chó dại. Giá như bắt đầu ở mạn phải, anh đã tìm ra thứ chết giẫm ấy từ một giờ trước và khỏi phải khổ sở thế này.

“Cậu ổn chứ, con trai?” Ai đó cất tiếng hỏi.

McLoughlin liếc qua vai và thấy Fred đang chằm chằm nhìn anh. Anh nhe răng cười và đứng dậy. “Ổn,” anh cam đoan với ông. “Tôi vừa phát hiện ra thằng khốn đã đánh cô Cattrell.”

“Tôi không thấy gì cả,” Fred lẩm bẩm, nhìn McLoughlin với vẻ ngờ vực.

McLoughlin cúi thấp người xuống và vạch bụi rậm, gạt mớ lá ra khỏi thứ gì đó trên mặt đất. “Nhìn này. Mấy chàng trai đội giám định sẽ được một ngày thoả thuê làm việc đây.”

Fred thở hổn hển nặng nhọc, nặng nề ngồi xổm xuống cạnh anh. “Chà, ngạc nhiên quá,” ông nói. “Đó là chai Đặc biệt của Paddy Clarke.”

Náu mình giữa đống gạch vỡ nát dưới bụi đỗ quyên, được nguỵ trang hoàn hảo, là một chai bia bằng đá kiểu cổ với lớp đất mỏng màu nâu sẫm bám vào đáy chai. McLoughlin vốn chỉ quan tâm đến việc tìm vài dấu vân tay và thứ gì đó như dấu vết của đôi ủng giẫm lên đất mềm dưới bụi cây dày đặc, McLoughlin tò mò quay lại nhìn ông. “Chai Đặc biệt của Paddy Clarke là cái gì thế?”

Fred rầu rì cố gắng nâng thân hình kềnh càng đứng dậy. “Cũng không hại gì, thật sự là vậy. Nó nghiêng về sở thích hơn là kinh doanh, dù tôi không nghĩ bên thuế vụ sẽ đồng ý. Clarke có một căn phòng ở sau ga ra để chưng cất thứ này. Chỉ sử dụng những nguyên liệu truyền thống và cứ ủ như vậy cho tới khi nó có vị như mật. Không một loại bia nào sánh được với loại này.” Ông rầu rầu nhìn chằm chằm vào bụi đỗ quyên. “Cậu phải uống luôn tại quán. Và Clarke rất coi trọng những chiếc chai, nói chúng mang lại một vị ngon mà ly cốc thuỷ tinh chẳng bao giờ mang lại được.” Trông ông hết sức lo lắng. “Tôi chưa bao giờ nghĩ ông ta lại để lọt một chai ra bên ngoài quán rượu.”

“Ông ta trông thế nào? Có phải kiểu đánh phụ nữ không?”

Người đàn ông già lê chân. “Không, chưa bao giờ. Ông ta là kiểu người tốt. Dù bị vợ bỏ bê và bản thân không trung thành với lời thề hôn nhân, nhưng… đánh cô Cattrell ư?” Ông lác đầu. “Không, ông ta không làm vậy đâu. Ông ta và cô ấy là…” Ông quay đi. “bạn bè, có thể nói như vậy.”

Một đoạn trong nhật kí của Anne như lướt qua trước mắt anh. P. thực sự là một bí ẩn. Anh kể rằng anh ăn nằm với năm mươi ả đàn bà một năm, và mình tin điều đó. Thế nhưng, anh vẫn là người tình ân cần chu đáo nhất. Tại sao lại thế, khi anh có thể chẳng coi phụ nữ ra gì? “Ông ta có hút thuốc không?”

Đã nhiều lần mời Paddy hút thuốc trong suốt những năm qua, Fred thấy câu hỏi thật lạ lùng. “Chỉ hút của người khác thôi,” ông cảnh giác nói. “Vợ ông ta chẳng khác nào bạo chúa, không chấp nhận việc hút thuốc.”

McLoughlin nhớ lại cái lò sưởi đầy đầu mẫu thuốc lá của Anne. “Đừng cho tôi biết vội,” giọng anh ủ rũ. “Hãy để tôi đoán thử xem. Ông ta trông giống Rudolph Valentino, Paul Newman và Laurence Olivier* kết hợp làm một phải không?” Anh mở cửa xe ô tô và với tay lấy bộ đàm.

“Chậc, chậc, chậc,” Fred sốt ruột đáp. “Ông ta là một tên to cao, tóc đen, đầy sức sống, và thông minh theo cách riêng. Lúc nào cũng gợi tôi nhớ đến diễn viên đã đóng phim Magnum.”

Tom Selleck! Mình ghét hắn, McLoughlin nghĩ thầm.

Jones chuẩn bị rời sở thì McLoughlin bước vào.

“Cậu biết lão già lang thang cậu đang lần theo chứ, Andy?”

“Ừm.”

“Cha sở ở East Deller đã trông thấy ông ta. Bà vợ nói bà ta đã mời lão một tách trà.”

“Có nhớ gì về ngày tháng không?”

“Không, nhưng cha sở nhớ lúc đó ông đang viết một bài giảng đạo và khá khó chịu vì bị làm phiền. Ông ta thậm chí còn cầu Chúa cứu rỗi để thoát khỏi lão già, nhưng rồi phải tự quở trách bản thân vì đã thiếu lòng nhân ái.”

McLoughlin cười khùng khục. “Nghe có vẻ giống lời cha sở nói đó.”

“Hình như ông ta luôn viết các bài giảng đạo vào thứ Bảy, trong lúc xem thể thao trên ti vi. Thông tin ấy có giúp được gì không?”

“Có thể lắm, Nick ạ, có thể lắm.”

kiếm thứ gì vậy, thưa sếp?” Một người hỏi. Walsh đưa vài tờ đánh máy cho các nhóm. “Đọc các điểm chính, rồi dùng đến trực giác của các cậu. Nếu có ai đó ở đây liên quan đến kẻ giết người, họ sẽ không tự nhiên mà tặng miễn phí bằng chứng về
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.