17
Walsh vẫn đang giữ rịt cái mũi khi McLoughlin quay lại sở. Dù đã ngừng chảy máu từ lâu nhưng ông vẫn khăng khăng áp cái khăn tay dính máu lên đó. McLoughlin không nghe trộm được phần này từ cuộc nói chuyện của Phoebe và Jonathan, anh nhìn ông kinh ngạc.
“Có chuyện gì vậy?” Anh hỏi.
“Goode đánh tôi, nên tôi bắt giam cô ta vì tội hành hung,” Walsh độc địa nói. “Để rồi xem cô ta còn cười được nữa không.”
McLoughlin ngồi xuống. “Cô ta vẫn ở đây à?”
“Không, chết tiệt. Maybury đã thuyết thục cô ta xin lỗi và tôi đành để cô ta đi sau khi cảnh cáo. Lũ đàn bà chết tiệt,” Walsh nói và nhét cái khăn vào túi. “Chúng ta có kết quả với đôi giày rồi. Gavin Williams đã tìm ra lão thợ đóng đôi giày ở East Deller.”
McLoughlin huýt sáo. “Và…”
“Chắc chắn là của Daniel Thompson. Lão thợ còn giữ giấy tờ, Chúa ban phước cho lão ta. Bao gồm cả yêu cầu về chiếc giày, trong trường hợp này là ghi chú đặc biệt về sự khác biệt của màu dây buộc, rồi tên người đặt, ngày đặt và ngày lấy. Thompson đến đó một tuần trước khi biến mất.” Walsh chạm nhẹ vào mũi. “Khoảng thời gian trùng khớp. Có vẻ mọi chuyện không được thuận lợi lắm với cô Goode rồi.” Ông cười khùng khục trước nhận xét của chính mình. “Chỉ cần tìm ra một người thấy ông ta đi vào điền trang thôi…” Ông bỏ dở câu nói trong lúc lấy tẩu ra và vui vẻ lau chùi. “Cậu hình dung này? Cô ta dàn dựng thế nào về vai trò của cô Cattrell trong chuyện vở kịch nho nhỏ với tên luật sư để hướng sự chú ý của cảnh sát ra khỏi bạn mình, nhưng vô tình lại khiến cô bạn hoảng sợ khi để lộ ra rằng mình cũng biết kha khá.” Ông ta gõ ống tẩu lên đầu. “Vĩnh biệt Cattrell.”
“Không có chuyện đó đâu,” McLoughlin vừa dứt khoát đáp vừa nhìn que thông tẩu chuyển sang màu đen sì. “Tôi có ghé bệnh viện trên đường đến đây. Cô ta tỉnh rồi. Tôi đã cử Brownlow xuống đó ngồi với cô ta.”
“Bây giờ cô ta ra sao? Cậu nói chuyện với cô ta chưa?”
“Vừa được vài câu đã bị y tá trưởng đá ra ngoài. Có vẻ cô ta cần ngủ một giấc tử tế mới trả lời được.”
“Hừm?” Walsh đanh giọng hỏi. “Cô ta đã nói gì?”
“Không nhiều. Chẳng nhớ được bao nhiêu.” McLoughlin làm lơ bằng cách nhìn chăm chăm vào móng tay. “Cô ta bảo nghe thấy gì đó bên ngoài.”
Walsh lẩm bẩm vẻ ngờ vực. “Có vẻ khá khớp với lời kể của cậu nhỉ?”
McLoughlin nhún vai. “Sếp tố sai người rồi. Nếu anh không bó chân bó tay tôi lại thì giờ tôi đã chứng minh được điều đó.”
Có chút hằn học trong giọng nói của người đàn ông già. “Jones đã cho đội của cậu ta lật tung cả khu đất hai lần và chẳng tìm được gì cả.”
“Vậy hãy để tôi xem thế nào. Tôi đang lãng phí thời gian với đống hồ sơ về Maybury. Không một ai biết gì về xu hướng ấu dâm của hắn. Jane có vẻ là trường hợp duy nhất. Đến đó là ngõ cụt rồi, sếp ạ.”
Walsh thả que thông điếu hôi hám vào giỏ đựng giấy vụn và trừng trừng nhìn viên trung sĩ với vẻ chán ghét không giấu giếm. Lời thú nhận tự ý lén đi điều tra của McLoughlin khiến ông khó chịu. Bực mình hơn nữa là vụ án này vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của ông.
Ông rất nghi ngờ viên cảnh sát đang đứng trước mặt. McLoughlin rốt cuộc đã biết điều gì mà ông chưa biết? Cậu ta tìm ra mối liên kết rồi chăng? “Cậu sẽ phải tập trung vào tập hồ sơ đó cho tới khi nói chuyện xong với tất cả những người quen biết Maybury,” ông cáu kỉnh đáp. “Đó là một hướng điều tra mới và tôi muốn nó được xem xét cẩn thận.”
“Vì sao?”
Hàng lông mày của Walsh nhíu chặt lại. “Ý cậu hỏi vì sao là sao?”
“Hướng đó sẽ dẫn chúng ta tới đâu?”
“Tới kẻ giết Maybury.”
McLoughlin nhìn ông với vẻ thích thú. “Phoebe Maybury khá hơn anh nhiều, sếp ạ, và các nỗ lực của anh chỉ đến thế thôi sao. Cào bới đống tro tàn ấy cũng không ra nổi một lệnh khởi tố đâu. David Maybury đã lạm dụng một đứa bé và nó chính là con gái hắn, giờ thì hắn đã chết. Tôi nghĩ hắn đã bị chôn chỗ nào đó trong vườn, có thể bên dưới thảm hoa phía trước chẳng hạn. Lúc nào Phoebe Maybury cũng tự mình chăm sóc hoa cỏ cả. Fred không bao giờ được phép tới gần chúng. Tôi nghĩ anh nói đúng. Hẳn cô ta đã giấu cái xác trong hầm trữ đông cho tới khi có thể rảnh tay hành động. Và tôi nghĩ sau mười năm thì chắc chẳng còn gì cho chúng ta đâu. Lũ chó của cô ta có vẻ thích xâu xé xác người.”
Walsh bặm môi. “Tôi vẫn chưa kết luận gì cả. Webster cũng chưa thể chứng minh một cách thoả đáng cái xác trong hầm trữ đông không phải của Maybury.”
McLoughlin khịt mũi chế nhạo. “Một phút trước, anh tin chắc đó là Daniel Thompson. Lạy Chúa, sếp à, hãy thừa nhận rằng anh luôn có định kiến về vụ này đi. Nó khiến tất cả chúng ta như thể bị buộc một tay sau lưng vậy.” Anh chồm tới trước. “Chẳng có mối liên kết nào cả, dù có, cũng không phải loại anh đang tìm. Anh đang cố chằng những sự thật chẳng liên quan lại với nhau và làm thế chỉ tổ tạo ra một mớ hỗn độn mà thôi.”
Nỗi hoảng sợ vì thiếu quyết đoán làm bụng Walsh thắt lại. Đúng vậy, ông thầm nghĩ. Có quá nhiều áp lực. Áp lực từ chính bản thân ông với mong muốn giải quyết dứt điểm vụ án của Maybury một lần và mãi mãi, áp lực từ giới truyền thông đang săm soi giật tít, áp lực từ cấp trên đòi hỏi phải nhanh chóng tìm ra hướng điều tra. Và, như mọi khi, sức ép liên tục từ cấp dưới khi những nhân tố mới, trẻ trung và giàu nhiệt huyết luôn muốn thách thức ông trong công việc. Ông vừa lén quan sát McLoughlin vừa nhồi thuốc lá vào ống tẩu, bụng bảo dạ rằng mình từng yêu mến và tin tưởng gã này, khi cậu ta bị cùm chân vào cô vợ tẻ nhạt và gặp rắc rối từ chính những bất đồng trong cuộc hôn nhân ấy. “Đề xuất của cậu là gì?”
Đã thức trắng suốt ba đêm, McLoughlin xoa mạnh hai mắt. “Theo dõi sát sao điền trang Streech. Tôi đề nghị mỗi phiên trực cần ít nhất hai người. Tổ chức thêm một đợt rà soát khắp khu đất nữa, nhưng tập trung vào khu vực gần điếm canh. Và, cuối cùng, hãy tạm gác Maybury sang một bên, tập trung vào hướng Thompson.”
“Với Goode là kẻ tình nghi số một?”
McLoughlin cân nhắc trong chốc lát. “Tất nhiên, chúng ta không thể bỏ qua khả năng ấy, nhưng có vẻ vô lý.”
Walsh khẽ chạm vào cái mũi đau nhức của mình. “Còn tôi thì thấy rất có lý đấy, chàng trai.”
Bà Thompson tiếp đón họ với vẻ mặt của một người đã phải chịu đựng nỗi thống khổ từ lâu và mời họ vào căn phòng sạch sẽ nhưng vô vị. McLoughlin có cảm giác vừa du hành ngược thời gian, như thể những ngày vừa rồi chưa hề xảy ra và họ lại sắp bắt đầu một cuộc nói chuyện tương tự, theo cách tiếp cận tương tự, và cho ra kết quả tương tự. Walsh đưa đôi giày ra, dù không còn đặt trong cái túi nhựa nữa, nhưng trên đó lưu lại một lớp bột mờ, kết quả từ nỗ lực lấy dấu vân tay dù thất bại của bên giám định. Ông đặt chúng lên bàn trà để bà ta nhìn thấy.
“Bà bảo đây không phải là giày của ông nhà, đúng không bà Thompson?” Ông nhẹ nhàng khiển trách.
Hai tay bà ta sờ soạng tìm cây thánh giá trên ngực. “Tôi đã bảo thế à? Nhưng rõ ràng chúng là giày của Daniel rồi.”
Walsh thở dài. “Thế tại sao bà lại nói với chúng tôi là không phải?”
Những giọt nước mắt dâng đầy trong đôi mắt người phụ nữ và lăn dài xuống hai bên má. “Quỷ dữ đã thì thầm bên tai tôi.” Mấy ngón tay bà ta lại lần xuống hàng cúc trên sơ mi.
“Xin Chúa ban sức mạnh cho con,” Walsh lẩm bẩm.
McLoughlin đứng phắt dậy và bước về phía điện thoại trong góc phòng. “Trấn tĩnh lại đi, bà Thompson,” anh đanh giọng. “Nếu không tôi sẽ gọi xe cấp cứu và đưa bà đến bệnh viện.”
Bà ta lả xuống ghế như thể vừa ăn tát.
Walsh giận dữ chau mày với McLoughlin. “Đây có phải đôi giày ông Thompson đã đi vào ngày ông ấy biến mất không?”
Bà Thompson quan sát thật kĩ. “Không,” bà nói.
“Bà chắc chứ? Hôm trước bà khẳng định ông ấy chỉ có duy nhất một đôi giày màu nâu và ông ấy đã đi vào hôm mất tích mà.”
Mí mắt bà ta chớp loạn lên. “Vậy ư?” Bà ta thở dốc. “Thế thì lạ lùng quá. Lần trước, tôi cảm thấy mình không được khoẻ cho lắm. Daniel yêu những đôi giày nâu. Ông ấy có nhiều giày màu nâu lắm.” Bà phẩy tay. “Không phải, đây là đôi ông ấy đã tặng cho lão già lang thang.”
Walsh nhắm mắt lại. Giả thuyết chống lại Diana vốn đã lung lay giờ càng có nguy cơ bị bẻ gãy. “Lão già lang thang nào vậy?” Ông gặng hỏi.
“Chúng tôi không hỏi tên ông ta,” bà Thompson nói. “Ông ta đến trước cửa cầu xin. Đôi giày nằm ngay trên bậc thềm cầu thang và Daniel đem cho luôn.”
“Đó là khi nào?”
Bà Thompson rút khăn tay chấm lên mắt. “Trước hôm ông ấy bỏ đi. Tôi nhớ rõ. Daniel là một vị thánh, ông biết đấy. Dù đang phải vật lộn với những mối âu lo của mình, ông ấy vẫn dành thời gian quan tâm đến một người lang thang.”
Walsh lấy vài tờ giấy từ cặp ra và lật giở. “Bà khai báo ông nhà mất tích vào ngày 25 tháng Năm,” ông nói. “Vậy là lão già lang thang đến đây vào hôm 24?”
“Hẳn là như vậy rồi,” bà ta nói qua hàng nước mắt.
“Lúc đó là mấy giờ?”
Bà ta lộ vẻ bất lực. “Ồi, tôi làm sao mà nhớ được. Thời điểm nào đó vào ban ngày.”
“Sao chồng bà lại ở nhà vào ban ngày, bà Thompson?” McLoughlin hỏi khi nhìn cuốn sổ ghi chép của anh. “24 là thứ Tư. Ông ấy không ở chỗ làm sao?”
Bà Thompson bĩu môi, giọng hằn học. “Công việc kinh doanh gớm ghiếc. Tất cả những lo nghĩ của Daniel đều từ đó mà ra. Nào có phải lỗi của ông ấy, cậu biết đấy. Mọi người trông đợi quá nhiều ở Daniel. Ông ấy không thể cứ thế mà lao vào chỗ chết được,” bà ta yếu ớt thừa nhận.
“Bà có thể mô tả lão già lang thang kia được không?” Walsh hỏi.
“Ồ, được chứ,” bà ta nói. “Lão ta có thể sẽ giúp được các ông, tôi đảm bảo đấy. Một người đàn ông mặc quần hồng và đội chiếc mũ cũ nát màu nâu.” Bà ta nhớ lại. “Khoảng sáu mươi, tôi đoán vậy, không có nhiều tóc lắm và bốc mùi kinh khủng. Lại còn say khướt nữa.” Bà ta ngừng lại, như thể vừa sực nhớ ra gì đó. “Nhưng chắc cảnh sát đã tìm được lão rồi đúng không? Chứ không làm sao các người lại có đôi giày này?”
Walsh cầm chúng lên và lật ngược lại. “Bà bảo ông nhà không có liên hệ gì với các cô ở điền trang Streech, thế nhưng một trong số họ, cô Goode, đã đầu tư vào công việc kinh doanh của ông nhà.”
Gương mặt bà ta tối sầm lại. “Tôi không hề biết.”
“Goode khai rằng đã gặp bà,” Walsh tiếp tục.
Bà ta im lặng một lúc lâu. “Có thể, tôi nhớ có nói chuyện với ai đó tên như vậy ấy ba hoặc bốn tháng trước trên phố. Daniel bảo cô ta là một khách hàng.” Mắt bà ta ánh lên sắc lẻm. “Người phụ nữ tóc vàng ngả đồng, ăn mặc diêm dúa, điệu bộ lả lơi.”
“Phải,” Walsh lên tiếng, cảm thấy cách mô tả này tuy vớ vẩn nhưng thú vị.
“Cô ta gọi cho tôi,” bà Thompson tiếp tục, cắn môi ra chiều chê trách. “Vì muốn biết Daniel đang ở đâu. Tôi bảo cô ta tự đi mà lo việc của mình ấy.” Bà ta nhìn xoáy vào viên chánh thanh tra và trừng mắt lên như thần rắn. “Có phải cô ta có liên quan đến việc Daniel mất tích không?”
“Chúng tôi có kiểm tra sổ sách của chồng bà,” McLoughlin nói nhanh. “Chúng tôi đã ghi lại những điểm không nhất quán. Điều đó khiến chúng tôi rất thắc mắc.”
“Tôi không biết cô ta là người ở điền trang.” Bà Thompson áp chiếc khăn tay vào đôi mắt ráo hoảnh. “Bây giờ các ông lại bảo cô ta đã đầu tư tiền vào công ty của chồng tôi ư?” Cửa xả lũ mở tung và lần này những giọt nước mắt là kết quả của nỗi thống khổ thực sự. “Làm sao ông ấy có thể làm thế?” Bà ta sụt sùi. “Làm sao có thể chứ? Đám đàn bà đáng ghê tởm đó…”
Walsh nhìn McLoughlin và đứng dậy. “Chúng tôi phải đi đây, bà Thompson. Cảm ơn sự hợp tác của bà.”
Bà Thompson cố gắng nhung không cản được cơn lũ nước mắt.
“Bà đã nghĩ đến chuyện đi đâu đó thật xa chưa?” Trung sĩ cất tiếng hỏi.
Bà ta run rẩy buông tiếng thở dài. “Cha sở đã thu xếp một kì nghỉ. Tôi sẽ đến một khách sạn ven biển vào cuối tuần, chỉ nghỉ ngơi vài ngày thôi. Dẫu rằng như thế cũng chẳng khá hơn chút nào đâu, khi không có Daniel bên cạnh.”
McLoughlin khép cửa lại sau lưng, mặt lộ rõ vẻ trầm tư.
Chánh thanh tra Walsh nghiến răng giận dữ, giật cần số chiếc Rover mới coong. “Sao trông cậu hớn hở thế hả? Chúng ta vừa mất hướng điều tra duy nhất có vẻ sáng sủa đấy.”
McLoughlin chờ đến khi chiếc xe chuyển động. “Ai là người phụ trách vụ này ngay từ đầu?”
“Nếu ý cậu là vụ mất tích của Thompson, thì đó là Staley.”
“Anh ta có điều tra cẩn thận không? Anh ta đã kiểm tra bà Thompson chưa?”
“Kiểm tra tất tật rồi. Tôi đã xem hồ sơ.”
“Anh ta có biết về cái xác của chúng ta không?”
“Có.”
“Và không nghi ngờ gì?”
“Không. Bằng chứng ngoại phạm của bà Thompson quá hoàn hảo. Bà ta đưa chồng đến ga Winchester, để ông ta bắt tàu đến London. Vài người nhớ đã nhìn thấy ông ta trong suốt chuyến đi và một người còn thấy ông ta ở sân ga Waterloo đi London, nơi hứa hẹn vay được một khoản hòng ổn định việc làm ăn. Sau khi thả ông chồng xuống, bà vợ đến thẳng nhà thờ East Deller để cùng tham gia phong trào nhịn ăn hai mươi tư giờ với các thành viên khác trong giáo đoàn. Daniel thánh thiện đáng lẽ cũng tham gia cùng vợ vào lúc 6 giờ sau khi đi London về. Nhưng ông ta không trở lại. 10 giờ, vợ cha sở đưa bà Thompson về nhà riêng ở Larkheld và cùng chờ đợi trong lúc bà ta gọi điện đến văn phòng, bạn bè và người quen. Đến gần nửa đêm, vợ cha sở gọi cho cảnh sát và ở lại với bà Thompson đến hết hôm sau. Bấy giờ bà ta đã trở nên khá kích động. Không một ai nhìn thấy Daniel kế từ lúc ông ta xuống tàu ở London.”
“Nhưng bà ta chỉ có bằng chứng ngoại phạm hoàn hảo trong ngày 25 và 26 thôi. Lỡ ông ta trở về sau đó thì sao?”
Walsh đánh xe ra xa lộ. “Tại sao, nếu đã định bỏ trốn ngay từ đầu? Staley đoán ông ta định dùng kế một mũi tên trúng hai đích, một là rũ bỏ bà vợ kinh khủng, và hai là để trốn nợ. Hẳn ông ta đã nhảy vào một nhà vệ sinh ở Waterloo, thay áo khoác, dán một cặp ria giả vào và trốn ở đâu đó, ôm khư khư đống của nả tích cóp được từ công việc kinh doanh trước đó. Cũng là suy đoán thôi, vì trợ thủ thân cận của Thompson ở hãng lò sưởi thừa nhận rằng không hề bất ngờ trước việc Thompson biến mất. Anh ta chỉ thắc mắc, tại sao ông ta lại trì hoãn đến lúc đó mới bỏ trốn. Theo anh ta, Thompson chẳng khác gì thằng hèn và không còn chút dũng khí nào kế từ khi mọi chuyện bắt đầu trở nên khó khăn, và có vẻ ông ta đã lên kế hoạch bỏ trốn.”
McLoughlin búng tay. “Anh hẳn cho rằng ông ta có lý do chính đáng để trở lại, đúng không? Nếu không thì làm sao cô Goode giết ông ta được?”
“Phải. Chà, Goode quả đúng là có vẻ ngoài hấp dẫn hơn nhiều so với mụ khọm già ngớ ngẩn ở nhà. Tôi ngờ rằng ông Thompson đã dàn dựng vụ biến mất để được sống cùng với cô ả tóc vàng hoe đó.”
“Nhưng khi ông ta xuất hiện trước cửa nhà, cô Goode, người vừa bị cuỗm mất mười nghìn bảng, lại phát hiện ra rằng mình không thương mến ông ta nhiều như hằng tưởng và đã thọc con dao vào người ông ta?”
“Đại loại thế.”
McLoughlin phá lên cười. “Xin lỗi, sếp.” Anh suy nghĩ một thoáng. “Nhà Thompson không có con, phải không?”
“Đúng vậy.”
“Được rồi, giả sử một người vợ đã kết hôn với ông chồng ba mươi năm có lẻ. Ông ta là toàn bộ niềm tin và lẽ sống của bà vợ, rồi đột nhiên ông ta ruồng rẫy bà ta.” Anh ngừng lại.
“Tiếp tục đi.”
“Tôi cần suy nghĩ thêm bởi vẫn có gì đó lấn cấn. Thompson trốn chạy vì công việc kinh doanh tuột dốc và không sao xử lý được nữa. Lòng vòng ở London một hồi, ông ta phát hiện ra rằng sống lẩn lút ở đó còn tệ hơn đối mặt với sự trừng phạt ở nhà, nên đã quay về. Trong lúc đó, vì cô Goode đã gọi điện đến và bảo đáng lẽ Thompson phải có mặt ở điền trang Streech, nên bà vợ phát hiện ra rằng chồng mình đang gặp gỡ một người phụ nữ khác, và tệ hơn nữa, người đó lại ngập ngụa trong tội lỗi. Vốn bà ta đã gần đến giới hạn chịu đựng rồi, thêm chuyện này càng khiến bà ta tức nước vỡ bờ. Hãy nhớ rằng bà ta là một người cuồng tín. Cuộc hôn nhân của bà ta thực ra chỉ là một sự dối trá, và bà ta đã có vài ngày để ngồi nghiền ngẫm. Chuyện gì sẽ xảy ra khi ông chồng đột ngột trở về nhà?”
“Phải,” Walsh trầm ngâm đồng ý. “Giả thuyết đó khá thuyết phục. Nhưng bà ta mang cái xác vào hầm trữ đông kiểu gì?”
“Tôi không biết. Có lẽ bà ta đã thuyết phục người chồng đi vào hầm khi ông ta vẫn còn sống. Nhưng mọi chuyện hợp lý nếu bà ta bỏ cái xác lại đâu đó trong điền trang Streech, vốn là nguồn cơn tội lỗi của Daniel, và cũng hợp lý nếu bà ta lột trần ông chồng rồi chặt cái xác thành từng mảnh đế chúng ta nghĩ đó là David Maybury. Bà ta sẽ coi đó như một sự trừng phạt đối với những mụ phù thuỷ độc ác (chắc chắn bà ta cho rằng cả ba người đều nhúng tay vào việc đó), những kẻ đã huỷ hoại cuộc đời bà ta. Có phải chúng ta vẫn dò theo hướng có người khóc lóc gần những ngôi nhà trong khu trang trại không?”
“Đúng vậy, nhưng không hiệu quả lắm. Cả hai hộ đều khai rằng thời điểm là sau nửa đêm, vì lúc đó họ đều đã lên giường đi ngủ, và cũng đều nhất trí rằng thời gian là vào đợt thời tiết nóng bức kéo dài từ tuần cuối cùng tháng Năm đến hết giữa tháng Sáu. Một nhà thì nói là tháng Năm, nhà còn lại thì bảo là tuần thứ hai của tháng Sáu. Đành phải đánh cược thôi.”
“Quá mù mờ. Chúng ta cần tập trung vào ngày tháng cụ thể. Staley đã lục soát nhà Thompson chưa?”
“Hai lần, một lần vào cái đêm ông ta biến mất và lần tiếp theo là hai tuần sau đó.”
McLoughlin chau mày. “Vì sao lại có lần hai?”
“Chà, nguyên nhân rất thú vị. Staley nhận được tin báo nặc danh nói bà Thompson bị mất trí, xẻ thịt chồng và giấu ông ta dưới sàn nhà. Thế là một ngày, cậu ta bất thình lình xuất hiện, tuần thứ hai trong tháng Sáu, và lật tung cả ngôi nhà lên. Cậu ta chẳng tìm được gì, ngoại trừ người phụ nữ bé nhỏ thiếu thốn chuyện chăn gối cứ bám riết lấy cậu ta hết phòng này qua phòng khác và lả lơi mời mọc. Cậu ta tin chắc chính bà Thompson là người đã viết tin báo.”
“Vì sao?”
Walsh cười khùng khục. “Cậu ta đoán bà ta thích mình.”
“Có lẽ lương tâm khiến bà ta rối rắm.”
Walsh tấp xe vào lề đường bên ngoài sở cảnh sát. “Cũng có thể lắm, Andy ạ, nhung đôi giày chết giẫm kia khớp vào chỗ nào? Nếu quả thật ông chồng đi đôi giày đó, tại sao bà vợ lại bỏ chúng ngoài bãi đất? Và nếu ông ta không đi, thì tại sao chúng lại xuất hiện ở đó?”
“Đúng vậy.” McLoughlin lơ đãng. “Tôi cũng đang thắc mắc đây. Tôi không sao gạt bỏ được cảm giác bà ta đã nói thật về đôi giày. Hẳn phải có một kẻ lang thang, anh biết đấy. Mô tả quá chi tiết và khớp với lời khai chỗ Nick Robinson. Tôi nhớ chiếc quần màu hồng.” Anh nhướng một bên lông mày ra chiều hỏi ý kiến. “Tôi có thể thử lần theo dấu lão ta chứ.”
“Chi tổ phí thời gian thôi,” Walsh lẩm bẩm. “Ngay cả nếu cậu có tìm ra, thì lão ta nói được gì với cậu nào?”
“Bà Thompson có nói dối hay không.”
“Hừm.” Walsh gập người xuống vô lăng. “Tôi có một ý tưởng không hay cho lắm.” Trông ông như muốn phát bệnh.
McLoughlin liếc nhìn ông.
“Cậu không cho rằng đám phụ nữ chết tiệt đó đã đúng ngay từ đầu đấy chứ? Rằng một lão già lang thang khốn khổ đã lẻn vào hầm trữ đông và lên cơn đau tim?”
“Thế cái quần hồng thì sao?”
Gương mặt Walsh sáng hẳn lên. “Phải, phải, đương nhiên rồi. Thôi được, để xem cậu có thể tìm ra lão ta không.”
“Tôi sẽ phải gác tập hồ sơ về Maybury sang một bên.”
“Ừ cứ tạm thời thế đã,” Walsh gầm gừ.
“Và tôi muốn lập một đội để tìm kiếm trên bãi đất chỗ điền trang thêm lần nữa.” Thấy giông tố đang kéo về trên gương mặt viên thanh tra, anh thản nhiên nói nốt. “Dựa trên giả thuyết rằng có thể bà Thompson liên quan tới hầm trữ đông.”
Elizabeth ngồi ở vị trí yêu thích, bên dãy cửa sổ trong phòng mẹ mình, dõi theo bóng nắng đang trải dài trên sân hiên. Cô gái tự hỏi không biết đã bao lần mẹ mình cũng ngồi ở chỗ này và nhìn ra ngoài như thế. “Con phải quay lại London thôi,” cuối cùng cô nói. “Người ta không thể bỏ trống vị trí ấy mãi được.”
“Con không còn ngày phép nào à?” Diana vui mừng khi sự im lặng cuối cùng đã được phá vỡ.
“Hết rồi ạ. Con sẽ đi Mỹ hai tuần vào cuối tháng chín. Nên chẳng còn ngày nào dôi ra nữa.” Cô gái quay lại. “Con xin lỗi mẹ.”
Diana lắc đầu. “Không sao mà. Con sẽ ở với cha con chứ?”
Elizabeth gật đầu. “Cũng phải ba năm rồi con mới gặp cha,” cô gái tự bào chữa. “Vé máy bay cũng đặt sẵn rồi.”
Hố sâu ngăn cách họ mới khủng khiếp làm sao, Diana thầm nghĩ. Tất cả chỉ vì cả hai đều thấy nói chuyện với nhau quá khó. Khi nhớ lại nhiều năm về trước, cô chợt nhận ra những cuộc nói chuyện của hai mẹ con đều có vẻ xã giao, chưa bao giờ chạm đến bất cứ vấn đề gì có thể gây lúng túng. Xét trên khía cạnh nhất định, Phoebe vẫn là người may mắn. Con cái không phải chia sẻ tình yêu thương. Chúng đoạn tuyệt với cha, và Phoebe cũng chẳng cần giải thích vì sao cha chúng ruồng rẫy chúng.
“Con có muốn uống gì không?” Diana tiến về phía tủ gỗ.
“Mẹ có gì à?”
“Ừ.”
“Được ạ. Con muốn một ly gin pha tonic.”
Diana rót rượu và mang hai chiếc ly đến chỗ cửa sổ. “Cụng ly.” Cô ngồi ghé lên lưng ghế và cùng con gái ngắm nhìn khoảng sân. Nói chung, không nhìn con bé thì tiện hơn. “Trong nhiều năm liền mẹ không thể nghĩ về Steven mà không giận dữ. Khi nhận được thư ông ấy viết cho con và nhìn những nét chữ viết tay ấy, hàm mẹ căng cứng, đau nhức hàng giờ liền. Mẹ cứ luôn tự hỏi, Miranda có gì mà mẹ không có.” Cô bật cười. “Đó cũng là lần đầu tiên mẹ hiểu thế nào là ‘nghiến răng nghiến lợi’. Tuy mất đôi chút thời gian, nhưng mẹ đã vượt qua được rồi. Bây giờ, mẹ đang cố nhớ lại những khoảng thời gian tươi đẹp. Cô ấy tử tế chứ? Mẹ chưa bao giờ gặp cô ấy, con biết đấy.”
Elizabeth chăm chú quan sát mấy trò tinh nghịch của con chim sẻ trên những viên đá lát bên ngoài, tựa hồ sinh vật bé nhỏ ấy có thể giải đáp mọi bí ẩn của vũ trụ này. “Không phải lỗi của cha,” cô gái lên tiếng.
“Không, không phải. Thực tế, xét trên nhiều khía cạnh thì lỗi ở mẹ nhiều hơn. Mẹ không xem trọng Steven. Mẹ cho rằng ông ấy có thể sống chung với một người vợ suốt ngày chi biết đến công việc, nhưng mẹ đã lầm. Cha con đặc biệt ghét phải cạnh tranh với mẹ ở vị trí đối tác kinh doanh. Mẹ không trách ông ấy. Steven không thể chịu đựng được điều đó, cũng như mẹ không thể ngừng khao khát sự nghiệp sau khi con chào đời. Sự thật là, chúng ta đáng lẽ không bao giờ nên kết hôn. Cả hai còn quá trẻ và chẳng ai thực sự hiểu về việc mình sắp làm. Phoebe cũng vậy. Dì ấy kết hôn với David vì đã mang bầu Jonathan, và khuôn phép của tầng lớp trung lưu hai mươi năm trước buộc dì ấy phải có chồng. Mẹ cưới Steven cũng vì những lý do gần như vậy. Mẹ muốn đến Mỹ cùng ông ấy, nhưng lại không muốn ông bà ngoại phải nghe những lời đàm tiếu rằng mẹ đi theo nhân tình.” Cô thở dài. “Thề có Chúa, Lizzie ạ, tất cả chúng ta đều sống trong giày vò và hối hận. Chúng ta khiến cuộc sống của nhau trở thành địa ngục chỉ bởi không dám đứng lên chống lại tục lệ.”
Cô gái đăm đăm nhìn con chim sẻ. “Nếu mẹ hối hận về cuộc hôn nhân ấy, mẹ có hối hận về hậu quả của nó không?”
“Ý con là, mẹ có hối hận đã sinh con không à?”
“Tất nhiên,” cô gái giận dữ cắt ngang, nỗi đau cứa sâu vào tâm khảm. “Mẹ sẽ không nói đó là hai việc khác nhau chứ?”
Diana cẩn thận lựa chọn từ ngữ. “Khi sinh con ra, mẹ đã từng phát điên bởi những thắc mắc của mọi người: Con bé sẽ giống ai? Nó giống cô hay Steven? Câu trả lời của mẹ luôn chỉ có một: Chẳng ai cả. Mẹ không thể hiểu nổi vì sao người ta cần bó buộc con vào một trong hai người chúng ta. Với mẹ, kể từ giây phút chào đời, con đã là một cá thể riêng biệt với tính cách của riêng con, diện mạo của riêng con, và lối hành xử cũng của riêng con. Mẹ yêu con vì con là con gái mẹ và chúng ta đã trưởng thành cùng nhau, nhưng hơn hết là vì mẹ thực sự yêu thương con. Mẹ yêu Elizabeth Goode.” Cô phủi một vệt bụi khỏi tay áo con gái. “Tự con có quyền tồn tại. Con không phải là hậu quả của một cuộc hôn nhân.”
“Nhưng con đúng là thế đấy,” cô gái hét lên. “Mẹ không thấy sao? Con ra thế này là do mẹ và cha tạo thành.”
Diana nhìn con mình. “Không, con đã bướng bỉnh ngay từ khi còn bé. Mẹ phải đưa con vào kỉ luật khi con tám tuần tuổi bởi con không ngừng khóc lóc đòi ăn. Steven luôn gọi con là ‘Tã lót độc tài’ vì con khiến cả hai chúng ta đều phải phục tùng. Vì cớ gì mà giờ đây con nghĩ mình được sinh ra mà không có cá tính và bị nhào nặn bởi hai con người thiếu kinh nghiệm chứ? Chúa chứng giám, con sẽ khiến người ta sốc đấy nếu cứ khăng khăng rằng trẻ con không có tâm tính của riêng chúng.”
Elizabeth mỉm cười. “Mẹ thừa hiểu ý con là gì mà.”
“Phải,” Diana thừa nhận. “Mẹ hiểu ý con là gì.” Cô im lặng một thoáng. “Sự thật là, đáng lẽ mẹ nên nghĩ đến sớm hơn. Một mặt, mẹ tự khen ngợi bản thân vì có một cô con gái độc lập, mạnh mẽ mặc dù hơi cứng đâu cứng cổ. Mặt khác, mẹ vẫn luôn mắng mỏ con không được lặp lại sai lầm của mẹ.” Cô cười rầu rĩ. “Xin lỗi, con yêu. Hình như những quan điểm này không được nhất quán cho lắm.”
“Dì Phoebe cũng giống hệt,” Elizabeth nói. “Đó hẳn là yếu điểm chung của các bà mẹ.”
Diana bật cười. “Phoebe làm gì?”
“Mẹ không để ý sao? Hễ Jonathan uống rượu là dì ấy lẳng lặng dùng bút dạ đánh dấu mực chất lỏng lên chai. Dì tưởng anh ấy không phát hiện ra.”
“Chà, mẹ cũng không biết đấy,” Diana ngạc nhiên nói. “Thật kì lạ. Vì sao Phoebe lại làm thế?”
“Bởi chồng dì ấy rượu chè suốt ngày. Dì ấy theo dõi để đảm bảo Jonathan không sa vào vết xe đổ.”
Lạy Chúa, và mình không thể trách cô ấy, Diana thầm nghĩ, mặc dù khách quan mà nói, hành động của cô ấy có vẻ hơi ngớ ngẩn. “Jonathan có thông cảm không?” cô tò mò hỏi.
“Con nghĩ là có.”
“Con có thông cảm không?”
“Con có, nhưng không có nghĩa là mẹ hay dì Phoebe hành xử đúng. Con thấy cả hai đều xoắn xuýt lên vì những điều có lẽ chẳng bao giờ xảy ra.”
“Mẹ sẽ uống vì điều đó,” Diana cụng ly với con gái, nhưng nếu cô hi vọng hiệp ước mong manh mới mẻ này sẽ dẫn đến những lời giãi bày thầm kín, thì cô sẽ phải thất vọng. Elizabeth đã quen giữ tâm sự trong lòng quá lâu rồi nên không thể cởi mở chia sẻ được.
“Cô ấy cũng tốt,” Elizabeth đột ngột nói. “Rất khác mẹ. Cô ấy thấp, tròn trịa, mặc tạp dề suốt ngày, nấu ăn giỏi. Cha đã tăng gần mười ba cân kể từ lúc kết hôn với cô ấy.” Cô gái mỉm cười. “Chẳng có cái sơ mi nào của cha còn vừa nữa, hoặc đã chẳng còn vừa từ ba năm trước rồi.”
Lạy Chúa lòng lành, Diana thầm nghĩ, vậy ra đó là điều anh ta muốn. Bất chợt nhớ về người chồng trước với vẻ ngoài bảnh trai, trẻ trung, mảnh dẻ và thường diện quần áo được thiết kế riêng, cô khúc khích cười. “Tội nghiệp Steven.”
“Cha rất hạnh phúc,” con gái cô phản đối, vì xem đó là một lời chỉ trích.
Diana giơ tay làm điệu bộ đầu hàng. “Mẹ chắc chắn là thế, và mẹ cũng vui. Rất vui.” Và cô thực sự cảm thấy như vậy.
“Có lẽ con sẽ phải hỏi cảnh sát xem con đã được quay lại London chưa,” Elizabeth đánh bạo lên tiếng sau một lúc.
“Con muốn đi lúc nào?”
“Ngay sau bữa trưa mai. Jon bảo sẽ lái xe đưa con ra ga.”
“Thế chúng ta sẽ hỏi Walsh vào buổi sáng,” Diana nói. “Chắc sớm mai ông ta,sẽ có mặt ở đây để mắng mỏ mẹ vì vụ nghịch ngợm chiều nay.”
“Ôi, mẹ à,” Elizabeth gắt lên như thế đang nói chuyện với một đứa trẻ. “Mẹ phải cẩn thận chứ? Mỗi khi cáu giận là mẹ lại nổi cơn tam bành. Nói thật, con nghĩ mẹ thật may mắn khi thoát khỏi vụ đó nhẹ nhàng như vậy đấy.”
“Ừ,” Diana ngoan ngoãn đồng ý, ngạc nhiên khi vai trò giữa họ đã nhanh chóng đảo chiều.
Elizabeth day day môi dưới. “Hôm nay Jon cũng đánh nhau,” cô gái bất ngờ thông báo. “Nhưng mẹ đừng nói với dì Phoebe. Dì ấy sẽ xỉu mất.”
“Ở đâu?”
“Silverborne. Vài kẻ thô lỗ nhận ra anh ấy từ tấm ảnh trên báo, chụp ngoài cổng bệnh viện vào cái đêm dì Anne bị tấn công. Họ gọi anh ấy là tên ma cô của đám gái gọi, nên anh ấy đấm thẳng vào mắt một tên và co giò bỏ chạy.” Cô mỉm cười. “Con khá ấn tượng khi anh ấy kể con nghe. Con không nghĩ anh ấy lại có máu đánh đấm trong người.”
Diana nghĩ đến David Maybury. Jonathan tất nhiên cũng có máu ấy trong người rồi.