Hầm Trữ Đông

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 22

❊ ❊ ❊

22

McLoughlin đẩy mở cánh cửa kính của sở cảnh sát, để hơi nóng bên ngoài cuộn lên như một cánh buồm căng. Chai Đặc biệt của Paddy, từ tốn, yêu thương và với lòng tôn kính vô hạn, đang xoay vòng đầy dễ chịu trong đầu anh.

“Ngày đó đến rồi, giờ đó đến rồi,” anh hô lên. “Nhìn xem tiền tuyến bùng bừng quyết tâm*. Monty đâu rồi? Tôi cần chi viện.”

Trung sĩ trực ban làu bàu thích thú. Walsh và Montgomery* chẳng có mấy sự tương đồng. “Đi làm nhiệm vụ rồi.”

“Chết tiệt!”

“Ai đó đã nhận dạng được cái xác.”

“Và?”

“David Maybury. Thanh tra đang tự ăn mừng đấy.”

Những con sóng choáng váng cuốn phăng tác dụng của cồn ra khỏi não McLoughlin. Mẹ kiếp, không thể thế được. Anh đã bắt đầu yêu mến những người phụ nữ đó. Cơn đau vì tình yêu với họ đang gặm nhắm tâm hồn anh như một con chuột sắp chết đói. “Ông ấy đi đâu rồi?”

Người kia lắc đâu. “Không rõ. Có lẽ đang hỏi nhân chứng. Ông ta và Nick vội vã lao đi hai giờ trước rồi.”

“Hừm, ông ấy sai rồi.” Giọng anh trở nên dữ tợn. “Đó không phải Maybury. Nhắn lại với Walsh như thế nếu ông ấy về đây trước tôi, được chứ?”

Làm sao có thể, trung sĩ trực ban thầm nghĩ, khi nhìn McLoughlin giận dữ dùng vai húc mở cánh cửa và lao ra đường. Nếu tên này định huỷ hoại bản thân, thì anh cũng không định chết chung với cậu ta đâu. Anh liếc nhìn đồng hồ và nhẹ cả người khi thấy ca trực của mình đã gần kết thúc.

McLoughlin lôi cả người Anne ra khỏi ghế mà lắc cho đến khi răng cô va lập cập vào nhau. “Đó có phải David Maybury không?” Anh hét vào mặt cô. “Phải không?”

Cô không nói gì cả, và anh rên lên rồi đẩy cô ra khỏi người mình. Chiếc áo khoác trượt khỏi bờ vai, trên người cô chỉ còn bộ đồ nam rộng thùng thình. Trông cô đáng thương đến lạ lùng, như một đứa trẻ đang chơi trò đóng giả người lớn.

“Tôi không biết,” cô dõng dạc nói. “Cái xác không thể nhận dạng nổi, nhưng tôi không nghĩ đó là David. Cứ cho rằng hắn vẫn còn sống đi, rất ít khả năng hắn quay trở lại đây sau những mười năm.”

“Đừng có đùa với tôi, Anne,” anh giận dữ nói. “Em đã nhìn thấy cái xác trước khi nó thối rữa. Kẻ đó là ai?”

Cô lắc đầu.

“Ai đó đã nhận dạng được nó. Họ bảo là David Maybury.”

Cô liếm môi nhưng không trả lời.

“Hãy giúp tôi.”

“Tôi không thể.”

“Không thể hay không muốn?”

“Có quan trọng không?”

“Có,” anh cay đắng nói. “Có quan trọng với tôi. Tôi đã tin em. Tôi đã tin tất cả các em.”

Gương mặt cô cau có khổ sở. “Tôi xin lỗi.”

Anh bật cười tức giận. “Em xin lỗi ư? Lạy Chúa!” Anh lại siết lấy cánh tay cô, những ngón tay dài của anh bấm chặt vào da thịt. “Em không hiểu sao, hả đồ khốn nhà em? Tôi đã tin em. Tôi đã mạo hiểm vì em. Chết tiệt, em nợ tôi.”

Một quãng dài im lặng. Khi cất tiếng trở lại, giọng cô cáu kỉnh. “Này này, McLoughlin, đừng bao giờ bảo Cattrell nợ nần ai đó nhé.” Cô tháo sợi dây rút trên chiếc quần ngủ và để mặc nó trượt xuống sàn. “Tiến đến đi. Làm tình với tôi đây này. Đó là tất cả những gì anh quan tâm, không phải sao? Làm cho ra trò vào. Giống như ông sếp quý báu của anh mười năm trước ấy.”

Mọi thứ dường như sụp đổ dưới chân anh. Anh giơ tay về phía cổ cô và vuốt ve phần da thịt mềm mại trắng trẻo ở đó.

“Anh không biết sao?” Đôi mắt cô long lên khi giữ hai cổ tay anh và cố lôi chúng ra để phá vỡ gọng kìm anh đang siết lại. “Thằng khốn cuồng dâm đó đã đề nghị Phoebe trao đổi. Vạch một hướng điều tra nhanh gọn đế đổi lại một tuần chung chạ. Ồ, lão cũng không thô bỉ đến mức ấy. Lão có nói văn hoa một chút.” Cô nhại lại giọng Walsh. “Cô ấy chỉ có một mình và dễ bị tổn thương. Sắc đẹp của cô khiến lão rung động, muốn bảo vệ. Cô ấy xứng đáng nhận được điều gì đó tốt đẹp hơn sau khi bị người chồng cục súc hành hạ như thế.” Môi cô cong lên nhạo báng. “Phoebe cự tuyệt và chỉ cho lão cái chỗ mà lão nên bảo vệ.” Âm điệu the thé khiến giọng Anne trở nên hết hấp dẫn. “Lạy Chúa, nhưng Phoebe quá ngây thơ. Cô ấy không bao giờ ngừng lại để suy xét dù chỉ một giây thôi, rằng tên đàn ông đó đang nắm tương lai của cô ấy trong tay.”

“Tôi không tin.”

Anne tiến về phía ghế bành và rút một điếu thuốc từ cái bao đặt trên tay ghế. “Sao lại không?” Cô lạnh lùng hỏi, và bật lửa. “Điều gì khiến anh nghĩ mình anh mới có quyền đòi hỏi được ăn nằm với nghi phạm giết người?” Đôi mắt cô nhìn anh vẻ mỉa mai. “Chúa mới biết là gì, nhưng ở chúng tôi quả thật có sự lôi cuốn, tại bí ẩn chăng?”

McLoughlin lắc đầu. “Ý em là sao khi bảo ông ta nắm tương lai của cô Maybury trong tay? Em cũng bảo cô ấy ngây thơ.”

“Ôi, vì Chúa,” cô khinh bỉ phản bác. “Ai là kẻ đã rêu rao với cả thế giới lẫn vợ mình rằng Phoebe đã giết chồng cô ấy nào? Ai đã mớm tin cho cánh nhà báo, hả McLoughlin?”

Trông anh có vẻ trầm tư. “Cô ấy có thể kiện.”

“Ai?”

“Đám nhà báo.”

“Cô ấy không hề bị báo chí phỉ báng. Họ không độc ác đến mức gọi cô ấy là kẻ giết người. Họ chỉ nhắc đến cô ấy như ‘một người mê làm vườn’, rồi câu tiếp theo tiết lộ thông tin rằng cảnh sát đang đào xới những khóm hoa. Và tất cả đều do sếp anh mớm tin cho họ.”

“Vì sao cô ấy không khiếu kiện?” Anh nhìn thấy biểu cảm của cô và giơ tay mình lên. “Thôi khỏi cần nói. Cô ấy đấu với ông ta trong khi ông ta đường đường là thanh tra cảnh sát.” Anh tư lự. “Thế rồi chuyện gì đã xảy ra?”

Cô phà một hơi thuốc lá và nhìn anh bằng ánh mắt giận dữ. “Walsh không thể tìm ra điều gì bởi đương nhiên David chưa bao giờ bị giết cả, nên cuộc điều tra cuối cùng cũng phải dừng lại. Đó là lúc trò hề bắt đầu. Phoebe thấy danh dự bản thân bị đem ra bêu giếu và bôi nhọ, không một ai ở cái nơi chết tiệt này chịu nói chuyện với cô ấy. Khi tôi chuyển tới, cô ấy đã gần như suy sụp. Ở tuổi 11, Jonny đã bắt đầu mộng tinh, và Jane…” Cô lần tìm gương mặt anh. “Chuyện đó sẽ lại xảy ra. Thằng khốn đó sẽ lại ném Phoebe vào bầy sói.” Trông cô thật xanh xao dưới chiếc khăn màu đỏ máu.

“Vì sao ngay từ ban đầu em không nói tất cả với tôi?”

“Anh sẽ tin tôi sao?”

“Không.”

“Và bây giờ?”

“Có lẽ.” Anh nhìn cô một lúc lâu, tay bóp cằm suy nghĩ. “Em là một nhà báo giỏi. Em không thể viết gì đó bênh vực cho Phoebe và lôi cô ấy ra khỏi cạm bẫy kia sao?”

“Anh nói xem bằng cách nào tôi có thể làm thế mà không cần đưa Jane ra làm bằng chứng ngoại phạm cho cô ấy đây. Phoebe thà bị thiêu sống còn hơn để con gái mình trở thành mồi ngon cho đám lang sói đó. Nếu là tôi, tôi cũng sẽ hành động tương tự.” Cô hít một hơi thật sâu. “Dù gì, đây cũng chẳng phải bằng chứng ngoại phạm nữa cơ.”

Anh gật đầu. “Nếu thế, vì sao em lại chắc chắn rằng hắn vẫn còn sống khi rời khỏi ngôi nhà?”

Cô quay đi để dụi tắt điếu thuốc.

“Thế tại sao anh lại chắc chắn là vậy?” Cô quay lại nhìn anh. “Anh chắc chắn, đúng không?”

“Phải.”

“Vì bây giờ có ai đó tuyên bố David chính là cái xác trong hầm trữ đông à?”

“Không.”

“Thế thì vì sao?”

Anh nhìn cô một lúc lâu. “Vì em đã chọn cách chôn vùi bản thân ở điền trang Streech. Đó cũng chính là lý do tôi biết hắn vẫn còn sống khi đi khỏi đây.”

“Tôi không biết anh đang nói chuyện gì.”

“Em là một kẻ dối trá khốn kiếp, Cattrell ạ.”

“Tôi mong anh đừng nói như thế nữa,” cô cáu kinh giậm chân. “Và giờ tôi đang chết cóng đây này.”

“Thế thì đừng vung vẩy cái mông trước mặt tôi nữa và mặc quần áo vào đi,” anh thò tay xuống, cầm chiếc quần ngủ lên và ném về phía cô. Anh quan sát trong lúc cô mặc nó lên người. “Mông đẹp đấy, Cattrell ạ,” anh lẩm bẩm. “Nhưng tôi chỉ đến đây đế tìm ra sự thật mà thôi. Tôi đã thu được nhiều hơn mong đợi rồi.”

McLoughlin lái xe đến phòng khám nghiệm-và tìm thấy bác sĩ Webster trong văn phòng của ông. “Tôi đi ngang qua và tự hỏi anh có phát hiện nào mới về cái xác trong hầm trữ đông không.”

Dù thấy rằng lần hỏi han này có chút không chính thống, nhưng bác sĩ Webster cũng không thắc mắc gì. “Tôi có báo cáo đây đủ ở đây rồi,” ông vừa nói vừa gõ lên tập hồ sơ trên bàn. “Người đánh máy đã hoàn thành sáng nay. Cậu có thể lấy một bản photo nếu muốn.” Ông cười khùng khục. “Nên nhớ, tôi không nghĩ bản báo cáo sẽ khiến George hài lòng đâu, nhưng xong xuôi rồi đấy. Ông ấy yêu cầu tôi phải đưa ra ý kiến ngay lập tức, nhưng có phải lúc nào cũng đúng đâu. Có tiến triển gì không?”

McLoughlin dùng tay mô tả cử động bập bênh. “Không nhiều lắm. Cái tên hứa hẹn nhất của chúng tôi đột nhiên sống dậy. Giờ chúng tôi phải lần lại từ đâu.”

“Thế thì tôi ngờ rằng những mảnh ghép tôi đã cố tìm ra sẽ chẳng giúp ích nhiều cho cậu đâu: Mô tả chi tiết vẫn tốt hơn một bức hình, và tôi sẽ phân định được đó có phải là kẻ đang nằm trên bàn mổ kia không. Nhưng tôi không thể nói cho cậu biết ông ta là ai được. George gọi điện suốt ngày, gào rú đòi kết quả mà kì tích có phải phẩy tay một cái là ra được đâu. Phần da thịt chưa phân huỷ là một chuyện, nhưng việc phân loại mấy mẫu da giày cũ cũng cần thời gian nữa.”

“Maybury thì sao?”

Bác sĩ pháp y sốt ruột làu bàu mất kiên nhẫn. “Tất cả các cậu đều bị thằng cha khốn khổ đó ám ảnh rồi. Đương nhiên, đây không phải là Maybury. Cậu có thể nhắn lại với George rằng tôi đã đi xin lời khuyên và người kia cũng đồng tình với tôi. Sự thật mãi là sự thật.”

McLoughlin hít một hơi thật sâu. “Làm sao anh biết?”

“Người này quá già. Tôi đã tốn rất nhiều công sức với mấy bản chụp X-quang và mật độ loãng xương cao hơn tôi tưởng. Giờ tôi có thể đảm bảo ràng, chúng ta đang tìm một người khoảng 65 đến 70 tuổi. Tối thiểu cũng phải 60. Maybury thì bao nhiêu nào? 54, hay 55?”

Webster với tay lấy cặp táp và lôi ra vài tấm ảnh. “Trong báo cáo, tôi không đồng tình với giả thuyết ngón tay bị cắt cho lắm, nhưng đó đơn thuần chỉ là ý kiến chủ quan, và tôi sẵn sàng chấp nhận lời phản bác. Các rãnh trên xương có thể do vết cắt từ một con dao sắc, nhưng theo quan điểm của tôi thì không phải thế.” Ông chỉ vào một trong các tấm ảnh. “Đây rõ ràng là phân chuột.”

McLoughlin gật đầu. “Còn gì khác không?”

“Tôi phân vân về nguyên nhân gây ra cái chết. Nó còn tuỳ thuộc vào việc lúc chết ông ta có mặc quần áo không. Các cậu tìm ra được điều đó chưa?”

“Chưa.”

“Tôi đã cạo khá nhiều đất từ phần nền xung quanh cái xác. Chúng tôi phân tích kĩ càng, nhưng thành thật mà nói, lượng máu ở đấy không đáng kể.”

McLoughlin chau mày. “Tiếp đi.”

“Hừm, thành thử tôi gặp nhiều khó khăn để xác định được nguyên nhân cái chết. Nếu nạn nhân trần truồng trong lúc bị đâm, hẳn mặt đất sẽ lênh láng máu. Nhưng nếu mặc quần áo đầy đủ và bị đâm, máu sẽ ngấm hết vào quần áo. Cậu phải tìm cho ra quần áo của ông ta.”

“Khoan đã, bác sĩ. Ý anh là nếu ông ta trần truồng thì khó có khả năng ông ta bị đâm, còn nếu ông ta mặc quần áo thì có thể đã bị đâm, đúng không?”

“Về bản chất, thì đúng như vậy. Ngoài ra, còn có khả năng đám thú vật đã liếm sạch nền hầm nhưng cũng chẳng biết chắc được.”

“Walsh có biết chuyện này không?”

Webster liếc anh qua gọng kính. “Sao cậu lại hỏi thế?”

McLoughlin vò đầu. “Ông ấy không hề đề cập đến chuyện đó.” Hay là có nhỉ? McLoughlin hầu như chẳng nhớ Walsh đã nói gì trong đêm đầu tiên. “Thôi được. Cứ cho là ông ta trần truồng đi. Vậy ông ta chết thế nào?”

Webster cắn môi. “Tuổi già. Lạnh lẽo. Thi thể chỉ còn từng ấy, nên khó mà chính xác được. Tôi không tìm thấy bất cứ dấu hiệu nào của thuốc an thần hoặc trạng thái ngạt, nhưng…” Ông nhún vai, gõ vào mấy tấm ảnh. “Da giày. Tìm quần áo. Chúng sẽ cho cậu biết nhiều thông tin hơn tôi đấy.”

McLoughlin chống tay lên bàn. “Chúng tôi đang tiến hành cuộc điều tra về vụ giết người dựa trên giả thuyết nạn nhân bị đâm vào bụng. Lúc này, anh lại bảo có thể ông già đó chết vì các nguyên nhân tự nhiên. Anh biết tôi đã phải làm việc bao nhiêu giờ trong tuần vừa rồi không?”

Ông bác sĩ cười khùng khục. “Theo tôi đoán thì cũng chỉ bằng nửa số giờ làm việc của tôi thôi. Tôi đã dùng đủ mọi cách rồi. Ngạc nhiên nhỉ, vụ này không phải kiểu tầm thường ngày nào cũng gặp đâu. Phần lớn các xác chết phải còn nguyên vẹn khoảng 90%. Dù gì, cho đến khi cậu tìm ra được mớ quần áo nguyên dạng và không dính bẩn để chứng tỏ tôi đã sai thì bị đâm vẫn có vẻ là khả năng dễ xảy ra nhất. Già cả, lang thang, trần truồng, đi tìm hầm trữ đông để rồi chết cóng trong đó, thì có hơi quá bất thường.”

McLoughlin đứng tháng dậy. “Chính xác. Còn bất ngờ nào nữa không?”

“Vài ý tưởng thú vị tôi đã thêm vào cuối bản báo cáo. Tôi không muốn cậu trở lại đây và buộc tội tôi đã gieo những tư tưởng ấy vào đầu cậu đâu.” Ông cười khùng khục. “Hôm qua tôi đã tới hầm trữ đông để xem xét thêm lần nữa. Tính đến thời điểm này, nó đã bị niêm phong hơn một tuần và nhiệt độ đã giảm xuống đáng kể. Cánh cửa dù cũ kĩ lắm rồi nhưng vẫn khớp với bản lề. Thật sự ấn tượng đấy. Rõ ràng đó là một phương thức vô cùng hiệu quả để trữ băng. Rất lạnh và cực kỳ khô ráo. Hẳn phải giữ được hàng tháng trời.”

‘Và?”

Ông bác sĩ hướng sự chú ý đến vài lá thư trước mặt. “Tôi đã suy nghĩ về điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên trong hầm trữ đông mà nạn nhân phải trải qua nếu cánh cửa vẫn được đóng chặt cho tới khi người làm vườn phát hiện ra.” Ông nguệch ngoạc viết tên mình lên lá thư trên cùng. “Hay ho đến bất ngờ, tôi nghĩ thế. Tôi sẽ suy nghĩ thêm. Thuần túy là vì hứng thú với khoa học thôi, đương nhiên rồi.”

Ông ngẩng đâu lên. McLoughlin cùng bản báo cáo đã biến mất.

Sau hai ngày nghỉ, trung sĩ Bob Rogers đổi ca trực sang chiều nay. Đang ngồi ở bàn, anh ngước lên nhìn khi McLoughlin bước vào cửa. “A, Andy. Cậu đây rồi.” Anh giơ bản mô tả về Wally Ferris hiện được dán khắp nơi. “Đây là lão già lang thang cậu đang tìm này.”

“Tìm thấy lão rồi. Thực ra, ngay sau khi gặp được thanh tra, tôi sẽ lại đi kiếm lão ta.”

“Tốt, thế thì cậu có thể đưa lão về đây. Lão nằm trong danh sách mất tích đấy.”

McLoughlin chậm rãi băng qua sảnh. “Wally Ferris bị báo cáo mất tích hả? Nhưng lão lang thang trên đường bao nhiêu năm rồi mà.”

Rogers chau mày và đưa bản danh sách cho McLoughlin nhìn qua. “Cậu tự xem đi. Mô tả trong đây khớp với mô tả cậu lấy được từ chỗ nhà Thompson.”

McLoughlin đọc những dòng viết trên đó. “Walsh thấy cái này chưa?”

“Đưa cho ông ấy ngay đêm đầu tiên mà.”

McLoughlin vớ lấy điện thoại. “Giúp tôi điều này, Bob ạ. Lần kế cậu nhìn thấy tôi phát ốm vì phải kiểm tra lại tất cả những gì lão già chết tiệt ấy đã làm,” anh chỉ vào cằm mình, “thì đánh tôi thật đau vào.”

Anh ngồi xuống một chiếc ghế trong văn phòng chánh thanh tra và nhìn đôi môi mỏng, nhợt nhạt đang rít thuốc. Thật khó để nhận ra, nhưng gương mặt ông ta đã thay đổi. Trước đây, khi nhìn với niềm kính trọng, gương mặt ấy toát lên vẻ thông tuệ, nhưng giờ, sự khinh thường đã cho anh thấy những nét độc ác trên đó. Vài cụm từ vẫn như văng vẳng đâu đây. “Chắc chắn là Maybury…”, “Gã trai trẻ đã nhận ra hắn ta…”, “Trong hầm trữ đông hai tuần…”, “Lão già lang thang hẳn đã nhìn thấy ông ta ở đó…”, “Cậu đã bỏ lỡ việc đó…”, “Viết báo cáo…”, “Các vấn đề cá nhân của cậu không thể đem ra bào chữa cho tính cẩu thả.” Nhưng tâm trí McLoughlin lại chẳng ghi nhớ được những điều còn lại. Anh nhìn không chớp mắt vào gương mặt Walsh và nghĩ đến bản chất thực sự ẩn giấu bên dưới nụ cười kia.

Walsh giận dữ chĩa ống tẩu về phía anh. “Robinson đang ra ngoài tìm Wally Ferris rồi. Vì Chúa, lần này sẽ chẳng phạm phải sai lầm nào hết.”

Anh hơi cựa mình. “Anh định làm gì? Đưa lão ta xem một bức ảnh của Maybury và gợi ý đó chính là tên đàn ông bị chết à? Wally sẽ đồng ý với anh chỉ để ra khỏi đây.”

“Staines đã nhận dạng sẵn rồi. Nếu Wally xác nhận, chúng ta có thể đi đến kết luận.”

“Staines bao nhiêu tuổi?”

“25.”

“Vậy là cậu ta 15 vào lần cuối trông thấy Maybury? Và cậu ta xác nhận đã phát hiện ra hắn trong bóng tối? Anh sẽ chẳng bao giờ lấy nổi trát ở toà đâu.”

“Được chứ,” Walsh điềm tĩnh nói. “Chúng ta có động cơ, cách thức và khả năng gây án, cộng thêm những bằng chứng vô cùng phong phú. Phá hoại thi thể nhằm khó nhận dạng nạn nhân, dùng xương cừu đế dụ đám động vật đến hầm trữ đông, lột bỏ quần áo để cản trở cuộc điều tra, và cả việc Fred đã cố tình xoá sạch dấu vết bằng cách phá hoại lối vào hầm trữ đông nữa. Với ngần này chứng cứ cùng việc đã xác định được danh tính nạn nhân, tôi nghĩ cô ta sẽ phải thú tội.”

McLoughlin xoa xoa cái cằm không cạo râu của mình và ngáp dài. “Anh quên mất bằng chứng pháp y rồi. Thứ đó không dễ gì làm giả được. Webster sẽ không nói dối giúp anh đâu.”

Cặp lông mày dữ tợn của Walsh nhíu chặt lại. “Ý cậu là gì?”

“Anh thừa biết mà. Người đàn ông đó quá già để có thể là Maybury. Và nếu thực sự ông ta bị đâm thì chỗ máu đi đâu rồi?”

Walsh nhìn anh với vẻ căm thù. “Cút ra khỏi đây!” Ông gầm gừ.

Anh bỗng thấy tức cười. “Anh sẽ bảo luật sư biện hộ của cô ta cút đi mỗi lần anh ta hỏi câu nào đó có lý à?”

“Máu dính trên quần áo, đoán chừng đã bị thiêu hủy cả rồi,” Walsh nghiến răng. “Theo lý giải của Webster về phim chụp X-quang vùng xương sọ của hắn ta, và xét đến cùng, đó cũng chỉ là một cách lý giải, thì quan điểm của ông ta và tôi về tuổi tác của nạn nhân chênh lệch sáu năm. Tôi nói 54. Ông ta nói 60. Ông ta sai rồi. Giờ thì cút ra."

McLoughlin nhún vai và đứng dậy, thò tay vào túi áo và rút ra một tờ giấy gấp gọn. “Danh sách người mất tích,” anh nói rồi thả lên bàn. “Tôi đã sao lại một bản. Nó là của anh đấy. Giữ lấy mà làm kỉ niệm.”

“Tôi xem rồi.”

McLoughlin nhìn chăm chăm vào mảng da đâu màu hồng qua mớ tóc thưa. Anh nhớ rằng mình đã từng rất quý người này, cho đến khi nghe những điều Anne tiết lộ. “Thế tôi lấy lại vậy. Bob Rogers đã đưa nó cho anh ngay vào đêm phát hiện ra cái xác. Vụ án đó, nếu chính xác là một vụ án, thì lẽ ra đến sáng hôm sau đã có thể kết thúc được rồi.”

Walsh chằm chằm nhìn anh một thoáng, rồi lấy tờ giấy và mở nó ra. Trên đó vẫn là năm cái tên kèm theo mô tả, nhưng thêm cụm “Đã tìm thấy” nguệch ngoạc chéo qua ô viết tên Daniel Thompson. Hai người phụ nữ trẻ bị loại bỏ vì giới tính, nghĩa là chỉ còn lại anh chàng người châu Á, Mohammed Mirahmadi, người này còn quá trẻ, và ông lão già cả Keith Chapel, 68 tuổi, người đã đi khỏi viện dưỡng lão từ năm tháng trước, mặc áo khoác xanh lá, áo phông màu xanh dương và chiếc quần hồng sáng. Walsh cảm thấy như thể có một bàn tay lạnh lẽo siết chặt lấy người mình. Ông đặt tờ giấy lên bàn. “Mãi tới ngày hôm sau mới phát hiện lão già lang thang đó có liên quan đến vụ này,” ông lẩm bẩm. “Và làm sao lão ấy lại biết về điền trang Streech hay hầm trữ đông chứ?”

McLoughlin chỉ ngón tay vào dòng chữ. “Nhìn chữ cái viết tắt tên ông ta xem. KC. - Keith Chapel. Tôi đã gọi điện cho người quản lý của viện dưỡng lão. Ông già thường huyên thuyên không ngớt về cái ga ra mình từng sở hữu và sự phát đạt của nó, cho đến khi một người phụ nữ gieo rắc những lời dối trá buộc ông ta phải bán nó đi. Anh thừa biết tất cả câu chuyện. Chết tiệt, chính anh là người đã xúi giục cô Goode kể câu chuyện đó.”

“Chỉ là lời đồn thôi,” Walsh lẩm bẩm. “Tôi chưa bao giờ gặp lão. Lão đã bỏ đi vào khoảng thời gian Maybury mất tích. Tôi tưởng Casey* là tên. Tất cả mọi người đều gọi ông ta là Casey. Tên trong hồ sơ cũng là Casey.”

“Đúng là trong hồ sơ đã viết như vậy. Chỉ dựa vào vài lời đồn nhưng anh lại đi công bố ra bên ngoài. Câu chuyện rất hay, nhưng sự thật thì rất đáng thất vọng. Có phải vậy không?”

“Dù thiên hạ có nghĩ cô ta giết cha mẹ mình thì đó cũng không phải lỗi của tôi. Chúng tôi chỉ ghi lại những gì họ nói thôi.”

“Khốn kiếp! Chính anh đã nhồi nhét tư tưởng ấy vào đầu họ. Lạy Chúa, anh thậm chí còn khơi lên chuyện đó, ra chiều muốn tốt cho tôi. Và tôi đã tin tưởng anh.” Anh lắc đầu. “Cô ta đã làm gì chứ, lạy Chúa? Cười ư? Hay gọi anh là lão già bẩn thỉu? Hay đe doạ sẽ nói với vợ anh?” Anh chờ trong giây lát. “Hay là vì cô ấy không thể giấu nổi vẻ kinh tởm của mình?”

“Cậu bị đình chỉ,” Walsh thều thào, hai tay run rẩy.

“Vì cái gì? Vì phát hiện ra sự thật à?” McLoughlin đập tay đánh rầm xuống danh sách những người mất tích. “Đồ khốn nạn! Anh còn có gan buộc tội tôi tắc trách cơ mà. Đáng lẽ anh phải chú ý đến chiếc quần đó mới phải. Anh đã nghe mô tả về nó tới hai lần trong vòng mười hai tiếng. Có bao nhiêu tên đàn ông lại đi mặc quần hồng chứ, lạy Chúa? Anh đã biết có một người đàn ông được thông báo mất tích khi đang mặc quần hồng. Và chẳng khó khăn gì để tìm ra Wally. Nếu tôi biết được thông tin ấy khi nói chuyện với lão…” Anh lắc đầu giận dữ và với tay tìm chiếc cặp táp. “Bản báo cáo cuối cùng của bác sĩ Webster ở đây.” Anh quẳng nó lên bàn. “Xét đến sự thật Wally cảm thấy quần áo của KC. còn mặc được, tôi nghĩ chúng ta có thể loại bỏ giả thuyết về dao đâm và quần áo đẫm máu. ông già tội nghiệp đó rõ ràng đã chết vì lạnh.”

“Ông ta mất tích từ năm tháng trước”. Walsh lẩm bẩm. “Vậy hai tháng đầu tiên ông ta ở đâu?”

“Trong một cái thùng các tông ở ga tàu, tôi nghĩ vậy, giống như những kẻ lang thang nghèo khổ khác bị cái xã hội xấu xa chết tiệt này ruồng rẫy.”

Walsh ngọ nguậy không yên. “Maybury thì sao? Cậu biết tất cả những câu trả lời đúng không. Thế hắn ở đâu?”

“Tôi không biết. Sống ở Pháp chăng, tôi đoán thế. Hắn có vẻ sở hữu đủ các mối quan hệ từ việc kinh doanh rượu của mình.”

“Cô ta đã giết chồng.”

Mắt McLoughlin nhíu lại. “Tên khốn ấy đã bỏ chạy khi bòn rút hết tiền và bỏ mặc vợ cùng hai đứa nhỏ chịu trách nhiệm thay. Việc đó đã được lên kế hoạch cả rồi, lạy Chúa.” Anh im lặng một lúc. “Tôi không thể nghĩ ra nổi lý do vì sao hắn lại muốn trừng phạt họ, nhưng nếu hắn làm thế, chắc hẳn hắn đã cầu nguyện để thứ rác rưởi như anh xuất hiện.” Anh bước về phía cửa.

“Cậu định làm gì?” Lời nói phát ra chỉ lớn hơn tiếng thì thầm một chút.

McLoughlin không trả lời.

Trên đường xuôi xuống hành lang, anh va phải Nick Robinson và Wally Ferris. Anh khẽ đấm vào vai lão già với vẻ thân thiết. “Ông nên bỏ lại quần đùi cho ông ta chứ, lão già đểu cáng này.”

Wally lê chân và liếc nhìn hai người cảnh sát. “Thế mấy người sẽ bắt tôi à?”

“Vì cái gì?”

“Tôi chả nòm gì, thật đấy. Tôi ướt như chuột nột vì chạy dưới mưa, rồi ngồi năng nặng ở đó. Nói thật, tôi không hề biết nà não đã chết. Không hề. Tôi đỡ não ngồi xuống như một kẻ say xỉn giống mình vậy. Nhưng não có vẻ kì nạ hơn. Giống kiểu người sốc thuốc chứ không phải say. Có nói chuyện với não một núc.” Wally trưng ra bộ mặt sầu thảm. “Não có cái quần đùi nào đâu, con trai, chẳng có gì trên người, ngoại trừ những thứ đã được gập gọn gàng và đặt sang một bên.” Lão liếc trộm McLoughlin. “Chẳng thấy hại gì nếu nấy chúng cả, nhất nà khi não chẳng cần. Còn tôi ấy à, nạnh chết mất, thật đó. Nên tôi mặc bên ngoài đồ của tôi.”

Vốn không mấy thành công trong việc bắt Wally mở miệng, Nick Robinson khịt mũi. “Ý ông là lão già đã ngồi cứng đờ ở đó, trần truồng, và chết ngắc từ lâu rồi, vậy mà ông nói chuyện với ông ta sao?”

“Cho có bầu có bạn ấy mà,” Wally lầu bầu vẻ phòng thủ. “Chỉ một núc thôi, để tôi quen với không gian u ám trong hang. Cậu sẽ thấy những việc tôi nàm cũng khá vui đấy.”

“Thấy gì, thấy toàn ảo giác thì có.” Robinson nhìn McLoughlin dò hỏi. “Thế hoá ra, tất cả chuyện này chỉ vì mớ quần áo à?”

“Rồi cậu sẽ biết thôi. Ông nghĩ vì sao lão già đó lại chết, hả Wally?”

“Giời biết. Nạnh, tôi nghĩ thế. Khi đóng cửa, chỗ ấy như đóng băng vậy. Có một chồng gạch chắn ở cửa. Tôi phải đẩy mạnh nắm mới mở được đấy. Không có gì khó chịu đâu. Gương mặt não vẫn còn tươi cười cơ mà.”

Robinson thở dốc. “Nhưng có máu, đúng chứ?”

Đôi mắt già nua của Wally có vẻ choáng váng. “Đương nhiên không có máu rồi. Tôi sẽ không ở nại nếu có máu đâu. Có nẽ trông hơi trắng quá, nhưng bộ dạng não vẫn bình thường mà. Trời thì tối, bên ngoài nại mưa nữa chứ.” Lão chun mũi. “Hơi bốc mùi, nhưng nằm sao trách não được. Cá rằng chính tôi cũng chả thơm tho gì hơn.”

Cứ như một hoạt cảnh xuất hiện trong vở kịch của Samuel Beckett* vậy, McLoughlin nghĩ thầm. Hai người đàn ông ngồi trong bóng tối nhập nhoạng và chuyện trò - một người thì trần truồng và đã chết ngắc từ lâu, người kia thì ướt nhẹp và say khướt. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, anh chắc chắn rằng Wally đã ở cả đêm với KC. và say sưa nói hết chuyện này đến chuyện khác. Wally thích nói chuyện. Anh tự hỏi có phải lão đã vô cùng choáng váng khi sớm mai tỉnh giấc và phát hiện ra rằng mình vừa nói chuyện cả đêm với một xác chết hay không? Rõ là không rồi. Anh đảm bảo Wally đã từng thấy nhiều thứ tồi tệ hơn thế. “Vậy là ông đã đóng cửa lại sau khi bỏ đi?”

Wally mím môi vẻ suy tư.

“Kiểu thế.” Lão có vẻ đăm chiêu. “Phải nói nà nần đầu tôi nàm thế. Nan đầu tôi đóng chặt cửa nại. Có vẻ não muốn được yên thân ở đó nên mới chặn đống gạch vào cửa. Nhưng rồi cái tên trốn trong nhà kho nại cho tôi chai whisky, rồi tôi xin được vài thứ bỏ bụng. Thế nà tôi nghĩ đến chuyện mai táng tử tế cho não. Không hiểu sao, bỏ nại não ở đó mà không kịp nói vài nời tốt đẹp, tôi thấy cứ sai sai sao đó. Tôi không muốn thế, nên tôi nén quay nại và mở cửa ra. Vì tôi nghĩ nàm thế sẽ khiến người ta dễ phát hiện ra não hơn.”

McLoughlin nghĩ thầm, sẽ thật độc ác, nếu nói với lão già rằng chính vì cửa mở mà nhiệt độ, lũ chó, lũ chuột và quá trình thối rữa theo nhau mò vào trong. Anh hi vọng Walsh cũng sẽ không tiết lộ.

“Và đó nà tất cả những gì tôi biết. Giờ tôi đi được chưa?” Wally quả quyết.

“Chưa được,” Nick Robinson lên tiếng. “Chánh thanh tra có lời muốn nói với ông.” Anh tóm lấy cánh tay Wally và nhìn McLoughlin dò hỏi. “Hay là kể lại hết cho tôi nghe đi?”

McLoughlin nhe răng cười ác ý. “Nói gọn là thế này, cậu đã hiểu sai một số chuyện rồi, anh bạn ạ.”

kiếm thứ gì vậy, thưa sếp?” Một người hỏi. Walsh đưa vài tờ đánh máy cho các nhóm. “Đọc các điểm chính, rồi dùng đến trực giác của các cậu. Nếu có ai đó ở đây liên quan đến kẻ giết người, họ sẽ không tự nhiên mà tặng miễn phí bằng chứng về
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.