Hầm Trữ Đông

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20

❊ ❊ ❊

20

Bà Thompson mở cửa cùng nụ cười chào đón trên mặt. Bà ta ăn diện để chuẩn bị ra ngoài với bộ cánh màu xanh gọn gàng và găng tay trắng. Nhưng đáng buồn ở chỗ, ấn tượng bà ta tạo ra chỉ là kiểu ăn mặc lỗi thời từ những năm 1950. Trong sảnh, sau lưng bà ta là hai cái va li. Những vệt phấn hồng trên má và chút son môi mang lại vẻ vui tươi giả tạo. Nhưng khi nhìn thấy cảnh sát, miệng bà ta trề xuống đầy bi kịch.

“Ồ Ồ.” Bà ta thở hắt ra vẻ thất vọng. “Tôi cứ tưởng là cha sở.”

“Chúng tôi có thể vào nhà được không?” Walsh hỏi.

Vẻ giả tạo của bà ta cũng khó chịu chẳng khác nào mùi nước hoa rẻ tiền.

“Sao nhiều người thế,” bà ta thều thào. “Quỷ dữ gửi mấy người đến phải không?”

Walsh cầm cánh tay người phụ nữ và khẽ đẩy bà ta vào trong, để những người phía sau có thể bước vào. “Chúng ta vào phòng khách nhé? Đứng quanh ngưỡng cửa thế này không hay ho chút nào.”

Bà Thompson yếu ớt kháng cự. “Cái gì vậy?” Bà ta nỉ non, đôi mắt ầng ậng nước, chân cố gắng miết chặt xuống tấm thảm trong sảnh. “Làm ơn đừng chạm vào tôi.”

McLoughlin ngoắc tay mình vào dưới cánh tay còn lại của bà Thompson. Hai người nhanh chóng xốc bà ta vào phòng khách và đặt ngồi xuống một chiếc ghế. Trong lúc McLoughlin kiên quyết ấn lên vai người phụ nữ hòng giữ bà ta ngồi yên tại chỗ thì Walsh chỉ đạo quân của mình lục soát ngôi nhà và khu vườn. Ông giơ lệnh khám xét ra rồi nhét trở vào túi áo khoác, đoạn ngồi xuống chiếc ghế đối diện.

“Nào, bà Thompson,” ông ân cần nói. “Chuẩn bị cho chuyến đi nghỉ bên bờ biển phải không?”

Bà Thompson hất tay McLoughlin khỏi vai nhưng vẫn ngồi yên trên ghế. “Tôi đang đợi cha sở tới chở ra ga,” bà ta đáp với vẻ nghiêm trang. McLoughlin chợt phát hiện một mảng tóc lưa thưa trên đầu người phụ nữ. Anh bỗng cảm thấy xấu hổ lạ thường, như thể bà ta vừa cởi bỏ một phần quần áo và để lộ chỗ nhạy cảm nhất.

“Nên tôi đề nghị hãy đi thẳng vào vấn đề,” Walsh nói. “Chúng ta đều không muốn ông ấy phải đợi.”

“Vì sao ông lại đến đây? Vì sao người của ông lại lục soát nhà tôi?”

Walsh đặt những ngón tay lên lòng mình. “Bà nhớ lão già lang thang mà bà đã kể với chúng tôi chứ?” Bà ta gật đầu ngay tắp lự.

“Chúng tôi đã tìm thấy lão.”

“Tốt. Thế thì ông sẽ biết tôi đã nói thật về sự hào phóng của Daniel yêu dấu.”

“Phải, đúng thế. Lão cũng nhắc đến việc ông Thompson đã cho lão một chai whisky và hai mươi bảng.”

Đôi mắt buồn bã sáng lên hạnh phúc. “Tôi đã bảo Daniel là một Vị thánh. Ông ấy sẵn sàng trao tặng manh áo cuối cùng nếu người đàn ông đó đòi hỏi.”

McLoughlin ngồi xuống chiếc ghế cạnh Walsh và xông xáo rướn người tới. “Tên của lão già lang thang là Wally Ferris. Tôi đã nói chuyện với lão khá lâu. Lão kể bà và ông Thompson muốn tống cổ lão đi, đó chính là lý do vì sao hai người lại hào phóng như vậy.”

“Đồ vô ơn bạc nghĩa,” bà Thompson thở hổn hển, môi run rẩy. “Chúa đã nói gì? ‘Tặng cho người nghèo và con sẽ nhận lại kho báu trên thiên đường.’ Daniel tội nghiệp của tôi đã có được một chỗ trên đó nhờ lòng tốt của ông ấy. Nhưng lão già lang thang kia thì không thể rồi.”

McLoughlin tiếp tục. “Lão cũng bảo đã thấy chồng bà núp trong cái kho bên ngoài.”

Bà Thompson che tay cười khúc khích như một thiếu nữ. “Thực ra,” bà ta nhìn thẳng vào anh, “câu đó bị nói ngược. Daniel đã phát hiện ra lão già lang thang núp trong kho. Ông ấy ra đó tìm chổi sơn và vấp phải một mớ quần áo cũ rách rưới sau vài cái hộp cũ. Tưởng tượng mà xem, ông ấy ngạc nhiên cỡ nào khi cái mớ đó biết nói.”

Lời nói khá thuyết phục khiến McLoughlin đột nhiên thấy nghi ngờ bản thân. Liệu anh có quá cả tin vào một lão già vốn tự thú nhận rằng lúc nào mình cũng trong tình trạng say xỉn hay không? “Wally kể lúc lão vào kho nhà bà thì trời đang mưa. Tôi đã kiểm tra với trạm khí tượng địa phương và họ cho biết không có cơn mưa nào vào thứ Tư ngày 24 tháng Năm cả. Cơn bão bắt đầu hai ngày sau đó và kéo dài ba ngày mới dứt hẳn.”

“Người đàn ông tội nghiệp,” bà Thompson lẩm bẩm. “Bấy giờ tôi đã bảo Daniel rằng chúng tôi nên thử đưa lão đến chỗ bác sĩ. Lão say khướt và lẩn thẩn. Cậu biết không, lão đã hỏi tôi có phải em gái của lão không, tưởng rằng cuối cùng bà em cũng chịu đi tìm lão.”

“Nhưng bà Thompson ạ,” Walsh tỏ ra ngạc nhiên thấy rõ. “Nếu lão say khướt như bà nói, thì vì sao bà còn cho lão một chai whisky? Chẳng phải bà cũng thấy vấn đề của lão là gì hay sao?”

Bà Thompson ngước mắt nhìn trần nhà. “Lão cầu xin chúng tôi trong nước mắt. Nếu từ chối thì chúng tôi còn ra gì nữa? Không đánh giá người khác, thì bản thân mình cũng sẽ không bị đánh giá. Nếu người đàn ông tội nghiệp ấy muốn chết dần chết mòn bằng sâu rượu, thì tôi cũng không có quyền gì phán xét.”

“Nhưng bà có quyền giúp lão đẩy nhanh quá trình ấy, tôi đoán thế,” McLoughlin mỉa mai.

“Đó là một lão già nhỏ thó, buồn khổ, chỉ được an ủi khi có một chai whisky trong tay,” bà Thompson điềm tĩnh nói. “Nếu rũ bỏ niềm an ủi ấy của lão thì thật độc ác. Chúng tôi cho lão tiền để mua thức ăn, giày để đi và khuyên lão tìm ai đó giúp lão thoát khỏi cơn nghiện ngập. Chúng tôi đâu thể làm gì hơn. Lương tâm của tôi không hề phải hổ thẹn, trung sĩ ạ.”

“Wally kể rằng lão đến đây vào thứ Bảy ngày 27 tháng Năm.” Walsh nói bâng quơ.

Bà Thompson nhăn trán và suy nghĩ một chốc. “Không thể thế được,” bà ta tỏ ra bối rối. “Daniel ở đây mà. Chả lẽ đó không phải là ngày 24 sao?”

McLoughlin như bị mê hoặc bởi màn trình diễn của người phụ nữ. Anh chợt nghĩ, có lẽ nào bà ta đã xoá kí ức giết người ra khỏi tâm trí và tự thuyết phục bản thân rằng câu chuyện mình đang kể mới thực sự là những điều đã xảy ra. Nếu vậy, họ sẽ phải rất vất vả mới truy tố bà ta được. Chỉ với lời khai của Wally và người phụ nữ trong khu cư xá thì chẳng có cơ hội nào. Họ cần một lời thú tội.

“Ngày tháng được chứng thực bởi một nhân chứng khác,” anh nói.

“Thật ư?” Bà Thompson thở ra. “Lạ nhỉ! Tôi nhớ làm gì có ai đi cùng lão và hơn nữa, ở đây chúng tôi sống biệt lập.” Bà ta làm dấu thánh và nhìn anh với ánh mắt trách cứ. “Tôi tự hỏi không biết người đó là ai?”

Walsh hắng giọng ầm ĩ. “Bà có muốn biết nơi chúng tôi tìm thấy đôi giày của ông nhà không?”

“Không hẳn,” bà ta đáp. “Qua những điều vừa nghe thì tôi đoán lão Wally lang thang đã quẳng giày đi như đồ bỏ. Tôi thấy tổn thương khi nghĩ đến Daniel thân yêu.”

“Bà chắc chắn rằng ông nhà đã chết rồi, phải không?” McLoughlin nói.

Bà Thompson rút chiếc khăn tay ren ra như một nhà ảo thuật và chấm nhẹ lên những giọt nước mắt đã quá quen thuộc. “Ông ấy sẽ chẳng bao giờ rời xa tôi,” điệp khúc lại lặp lại.

“Chúng tôi tìm thấy đôi giày trong khu rừng ở điền trang Streech, không xa hầm trữ đông,” Walsh quan sát thật kĩ người phụ nữ.

“Vậy ư?” Bà ta hỏi lại với giọng lịch sự.

“Wally đã ở cả đêm 27 tháng Năm trong hầm trữ đông và bỏ giày trong rừng vào sáng hôm sau, khi lão rời đi.”

Bà Thompson hạ khăn tay xuống, tò mò nhìn hết người này đến người kia rồi bình luận với biểu cảm rất khó tả. “Điều đó quan trọng đến thế sao?”

“Bà biết chúng tôi đã tìm thấy một xác chết trong hầm trữ đông ở điền trang Streech chứ?” McLoughlin nói thẳng. “Đó là thi thể đàn ông, tuổi từ năm mươi đến sáu mươi, đậm người, tóc xám và cao tầm 1m80. Ông ta bị giết hai tháng trước, gần với thời điểm chồng bà mất tích.”

Bà Thompson sửng sốt. Trong vài giây, gương mặt bà ta biến đổi qua hàng loạt cảm xúc y như kính vạn hoa. Hai người đàn ông quan sát kĩ càng, nhưng nếu có chút biểu hiện của tội lỗi thì cũng khó mà nắm bắt được. Cảm xúc rõ nhất vẫn là ngạc nhiên. “Tôi không biết. Không hề biết. Không ai nói gì với tôi. Thi thể đó là của ai vậy?”

McLoughlin quay sang Walsh và nhướng một bên chân mày tỏ vẻ thất vọng. “Tất cả đều có trên báo đấy, bà Thompson ạ,” thanh tra nói. “Và trên các bản tin thời sự ở kênh địa phương nữa. Làm sao bà có thể không biết về vụ đó được chứ. Cái xác đã bị phân huỷ đến độ chúng tôi không thể xác định nổi danh tính. Dù vậy, chúng tôi cũng có danh sách những người được cho là nạn nhân.” Ông nhấn mạnh khi nhìn bà ta.

Bà Thompson cố hít thật sâu như thể việc thở thôi cũng đã quá khó nhọc rồi. Vệt má hồng trên mặt bà ta giờ chỉ còn là những chấm sáng màu. “Tôi không có ti vi,” bà ta nói. “Daniel thường đọc báo ở chỗ làm và kể cho tôi nghe tin tức khi về nhà.” Bà ta gắng sức hít thở như sắp bị ngạt. “Lạy Chúa,” bà ta bất ngờ thốt lên, ấn một tay lên ngực. “Tất cả đều giấu tôi, để bảo vệ tôi. Tôi không hề biết. Không ai nói một lời nào.”

“Không biết chúng tôi đã tìm ra cái xác, hay không biết về chuyện cái xác?” McLoughlin hỏi.

Bà Thompson thoáng suy nghĩ về ẩn ý trong lời anh nói. “Đương nhiên là không biết chuyện cái xác rồi,” bà ta gắt lên, nhìn anh với vẻ căm phẫn. Với một nỗ lực đáng kinh ngạc, bà ta đã thở được bình thường trở lại, và bặm chặt môi thành một đường mỏng dính như thường lệ. Bà ta nói với Walsh. “Giờ tôi đã hiểu vì sao ông quan tâm đến giày của Daniel.” Môi bà ta khẽ run lên. “Ông đang cho rằng nó liên quan đến cái xác mà ông tìm thấy.”

“Có lẽ,” Walsh thận trọng lên tiếng.

Mắt bà Thompson ánh lên một tia chiến thẳng. “Thế nhưng việc tìm ra lão già lang thang đã phủ nhận giả thuyết đó. Ông bảo lão ta đã ở cả đêm 27 trong… ông gọi nó là gì nhỉ?”

“Hầm trữ đông.”

“Trong hầm trữ đông. Tôi cho rằng, nếu cái xác cũng có ở hầm thì chẳng đời nào lão nán lại đó đâu, thế nên, hẳn lão đã vứt đôi giày trước khi cái xác xuất hiện bên trong.” Bà ta có vẻ nhẹ nhõm hơn. “Tôi không thấy mối liên kết nào hết, chỉ là một sự trùng hợp kì quái.”

“Bà nói đúng,” Walsh đồng ý. “Theo khả năng này, thì chẳng có mối liên kết nào cả.”

“Vậy vì sao ông cứ hỏi tôi mấy câu đấy thế?”

“Sự trùng hợp kì quái đã dẫn chúng tôi đến chỗ lão già lang thang, bà Thompson ạ, và dẫn đến cả vài sự thật thú vị về bà lẫn chồng bà. Chúng tôi có thể chứng minh ông Thompson vẫn sống trong ngôi nhà này suốt hai ngày sau lời khai báo mất tích của bà. Và ông ta vẫn khoẻ mạnh ngoài kia trong khoảng thời gian bà tự dựng cho mình chứng cứ ngoại phạm. Không ai trông thấy ông Thompson kể từ đó. Một tuần trước, chúng tôi nhận được thông báo có một cái xác không thể nhận dạng, khá khớp với miêu tả về ông nhà, ở cách đây chưa đầy bốn dặm. Thành thực mà nói, chúng tôi có thể cáo buộc bà vì tội giết chồng mình trong hoặc sau ngày 27 tháng Năm.”

Môi bà ta càng lúc càng run rẩy. “Đó không thể là xác của Daniel được.”

“Sao không?” McLoughlin gặng hỏi.

Bà ta im lặng, tập hợp lại suy nghĩ của mình.

“Sao không?” Anh thúc giục.

“Bởi hai tuần trước tôi nhận được thư của ông ấy.” Đôi vai sụp xuống, bà ta lại bắt đầu nức nở. “Đó là một lá thư khủng khiếp. Ông ấy viết rằng ghét tôi nhiều đến chừng nào và tôi là người vợ tệ hại ra sao…”

McLoughlin cộc lốc cắt ngang. “Bà có thể vui lòng cho chúng tôi xem lá thư được chứ?”

“Tôi không thể,” bà ta thổn thức. “Tôi đốt rồi. Sao ông ấy lại viết những điều hèn hạ như vậy chứ.”

Có tiếng gõ cửa và một cảnh sát mặc quân phục bước vào. “Chúng tôi đã lục soát cả ngôi nhà và khu vườn, thưa sếp.” Cậu ta lắc đầu trước ánh nhìn thắc mắc của Walsh. “Chẳng có gì cả. Chỉ còn căn phòng này và những chiếc va li của bà Thompson nữa thôi. Chúng đều bị khoá. Chúng tôi cần chìa để mở.”

Người phụ nữ bé nhỏ vồ lấy chiếc túi xách và giữ chặt nó. “Tôi sẽ không đưa cho các người chìa khoá đâu. Các người không được lục soát va li của tôi. Bên trong toàn đồ nhỏ của tôi thôi.”

“Gọi một nữ cảnh sát đến đây,” chánh thanh tra yêu cầu, và nói với bà Thompson. “Rất xin lỗi, nhưng bà không có lựa chọn nào trong trường hợp này. Nếu bà muốn, tôi sẽ yêu cầu một nữ cảnh sát mang mấy cái va li vào đây và bà có thể chứng kiến trong lúc cô ấy kiểm tra bên trong.” Ông giơ tay ra. “Vui lòng đưa tôi chìa khoá.”

“Ôi, thôi được,” bà Thompson gắt gỏng, lục tìm túi xách và giơ ra hai chiếc chìa nhỏ buộc với nhau bằng một sợi ruy băng trắng. “Cá nhân tôi thấy toàn bộ chuyện này thật lố bịch. Tôi nhất định sẽ có ý kiến với cảnh sát trưởng.”

Walsh không hề ngạc nhiên khi bà ta chống đối và không muốn đám đồ lót của mình bị lục soát. Những mảnh ren đen mỏng manh, giống ở một buổi tiếp khách riêng trong nhà thổ hơn là trong túi đồ của một người phụ nữ nhàm chán buồn tẻ đang được giơ lên để kiểm tra. Nhưng trong sự nghiệp của mình ông đã phát hiện ra một sự thật rằng, một số phụ nữ không ngờ nhất lại sở hữu những món đồ lót đầy khêu gợi. Vợ của ông cũng là một ví dụ. Trong suốt cuộc sống hôn nhân của họ, bà đã lên giường mỗi đêm trong lụa là hoặc sa tanh mềm mại. Chỉ mình ông mới được thưởng thức hiệu quả chúng mang lại. Suốt một quãng thời gian dài, ông đã trân trọng điều đó và cố gắng hết mình để thể hiện sự trân trọng ấy. Nhưng rồi, nhiều năm liền bị từ chối một cách đầy căm phẫn đã dạy ông rằng, bà Walsh mặc đám đồ ngủ đó không phải vì ông mà chỉ bởi ham thích cá nhân mà thôi. Và từ lâu, ông đã từ bỏ việc cố gắng tìm hiểu xem đó là ham thích gì.

Nữ cảnh sát lắc đầu khi cô khoá đám va li lại. “Không có gì ở đây, thưa sếp.”

“Tôi đã bảo ông rồi mà,” bà Thompson nói. “Chúa mới biết ông đang tìm cái gì.”

“Túi xách của bà, xin bà vui lòng cho kiểm tra.”

Bà ta khịt mũi vẻ ghê tởm. Nữ cảnh sát cẩn thận dốc ngược những thứ bên trong ra bàn cà phê, rồi sờ xem chiếc túi da mềm có giấu gì dưới lớp lót không, rà soát một lượt các món đồ khác. Cô thoáng liếc nhìn Walsh. “Có vẻ ổn, thưa sếp.”

Ông ra hiệu cho cô bỏ lại mọi thứ vào chiếc túi. “Bà có muốn ra ngoài trong lúc chúng tôi lục soát căn phòng này không?”

Bà Thompson lùi sâu vào chiếc ghế, siết chặt tấm đệm bên dưới như thể muốn ngăn nó vật lộn. “Không đâu.”

Trong lúc cả đội tiến hành lục soát, Walsh quay lại với việc đặt câu hỏi. “Bà bảo đã nhận được một lá thư của chồng. Vì sao bà chưa bao giờ đề cập đến nó?”

Bà Thompson co người lại như muốn tránh xa khỏi ông thanh tra, co rúm lại trong lòng ghế. “Bởi tôi chỉ còn có lòng tự trọng. Tôi không muốn ai biết ông ấy đối xử với tôi khủng khiếp đến mức nào.” Bà ta chấm chấm khăn lên đôi mắt ráo hoảnh.

“Dấu bưu điện ở đâu?” McLoughlin hỏi.

“London, tôi nghĩ thế.”

“Có thể đoán lá thư được viết tay,” anh lơ đãng nói. “Ông ta chẳng thể kiếm đâu được một cái máy đánh chữ cà.”

Bà gật đầu. “Đúng vậy.”

“Phong bì loại nào?”

Bà ta nghĩ một lát rồi trả lời. “Màu trắng.”

McLoughlin bật cười. “Chẳng lừa nổi ai đâu. Bà không thể cứ tiếp tục bịa đặt như thế và mong chờ chúng tôi vỗ tay tán thưởng được. Chúng tôi sẽ kiểm tra với người đưa thư. Ở một nơi thế này, thường chỉ có duy nhất một người đưa thư trong nhiều năm liền, và ở đây chính là anh chủ quầy hàng kiêm bưu điện gần nhà thờ. Những lá thư của bà hẳn sẽ trở thành chủ đề bàn tán của anh ta trong vòng vài tháng đấy. Anh ta sẽ săm soi từng lá một với hi vọng trở thành người đầu tiên biết được tin tức về Daniel. Bà sẽ không thuyết phục được chúng tôi rằng chồng bà vẫn còn sống bằng việc vẽ ra những lá thư đâu, bà Thompson ạ.”

Bà Thompson liếc qua anh đến chỗ nữ cảnh sát đang lục tìm tủ búp phê. “Cứ hỏi người đưa thư đi, trung sĩ. Cậu sẽ biết tôi đang nói thật.” Bà ta nói với giọng chân thành, nhưng ánh nhìn vẫn mang vẻ điềm tĩnh và tính toán chẳng kém gì những lần anh từng thấy trước đây. “Nếu tôi biết cậu nghĩ gì, hẳn tôi đã kể về lá thư ngay lần đầu tiên cậu đến đây rồi."

McLoughlin đứng dậy và tiến lại chỗ bà ta, hai cánh tay chống lên thành ghế. “Vì sao bà lại tỏ ra choáng váng như thế khi nghe về cái xác trong hầm trữ đông? Nếu bà biết ông Thompson còn sống, điều đó chẳng có ý nghĩa gì với bà cả.”

“Gã đàn ông này đang hăm doạ tôi,” bà quát lên với Walsh. “Tôi không thích thế.” Bà ấn mình sâu hơn vào chiếc ghế.

“Lùi lại, Andy.”

“Rất vui lòng.” Không một lời cảnh báo, anh ngoắc tay vào dưới tay bà ta và đột ngột lùi lại. Bà ta bật khỏi ghế như nắp chai champagne, rồi cố giằng tay ra và hung bạo đánh anh. Anh tóm lấy cánh tay đang vung vẩy đó, tránh được một cú đánh từ cánh tay kia và cảm thấy một bãi nước bọt nhơm nhớp dây trên má mình. “Cái ghế, thưa sếp,” anh hô lên. “Bà ta giấu gì đó.”

“Biết rồi.”

McLoughlin vừa túm chặt cả hai cánh tay người phụ nữ vừa uốn mình tránh những cú đá. “Này mấy cậu kia,” anh giận dữ hét lên. “Bà ta đang đánh tôi nhừ tử đây. Ai cầm còng tay thế, vì Chúa?”

“Thằng khốn!” Bà Thompson gào lên. “Thằng khốn chó chết!” Bà ta khạc một bãi nước miếng và nhổ về phía anh. Nó văng trúng môi anh và chảy cả vào miệng, khiến anh ghê tởm không chịu nối.

Như được đánh thức khỏi trạng thái chờ bất động, mấy cảnh sát lao tới, bấm còng tay và lôi người phụ nữ về phía sofa. Bà ta nhìn McLoughlin với cố gắng vô vọng như con rắn muốn phun nọc độc và phá lên cười. “Đáng đời thằng khốn nhà mày. Tao hi vọng mày tóm được gì đó.”

“Có vẻ tôi dã tóm dược cái đuôi của bà rồi,” anh nói và quay sang Walsh. “Đó là gì vậy?”

Walsh đưa cho anh một phong bì mỏng. “Bà ta hẳn đã rút nó từ túi ra khi chúng ta đang trố mất nhìn đám quần lót chết tiệt kia.” Ông cười khùng khục vẻ hài hước. “Lãng phí thời gian thôi, thưa quý bà thân mến. Cuối cùng chúng tôi vẫn tìm ra nó.”

McLoughlin mở phong bì. Bên trong là hai tấm vé máy bay, đề tên ông bà Thompson, chuyến bay đến Marbella tối nay. “Ông ta ẩn náu ở đâu suốt thời gian qua vậy?” Anh hỏi bà ta.

“Cút xuống địa ngục đi!”

“Bà Thompson! Bà Thompson!” Một giọng nói hốt hoảng la lên từ khung cửa. “Bình tĩnh nào, tôi xin bà.”

Bà ta cười ha hả. “Đi mà quay tay đi, tên đàn ông nhỏ thó ngớ ngẩn.”

“Bà ấy điên rồi sao?” Cha sở kinh hoàng hỏi.

“Cũng là một cách nói,” thanh tra Walsh vui vẻ đáp.

kiếm thứ gì vậy, thưa sếp?” Một người hỏi. Walsh đưa vài tờ đánh máy cho các nhóm. “Đọc các điểm chính, rồi dùng đến trực giác của các cậu. Nếu có ai đó ở đây liên quan đến kẻ giết người, họ sẽ không tự nhiên mà tặng miễn phí bằng chứng về
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.