Hầm Trữ Đông

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 25 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

9

Trung sĩ Nick Robinson ngước lên, cảm thấy thật nhẹ nhõm khi chỉ phải kiểm tra hai ngôi nhà nữa trước khi đến quán rượu. Ngay bên phải anh là ngọn đồi gần cổng điền trang Streech. Phía sau, cách anh vài dặm là Winchester. Bức tường gạch trước mặt bao quanh sườn phía Nam của điền trang, tiếp giáp con đường dẫn tới East Deller. Anh kiểm tra đồng hồ. Còn mười phút nữa mới đến giờ mở cửa quán rượu và làm một ly. Nếu có điều gì khiến anh căm ghét, thì đó chính là việc gõ cửa từng nhà để hỏi han. Anh nhẹ chân tiến vào lối đi dành cho xe ô tô dẫn tới nhà Clementine và - anh kiểm tra danh sách - nhà bà Amy Ledbetter. Anh nhấn chuông.

Vài phút sau, cùng một loạt âm thanh nặng nề của khoá chống trộm, cánh cửa hé mở. Một cặp mắt sáng lom lom nhìn anh. “Gì đấy?”

Anh giơ thẻ ngành ra. “Cảnh sát đây, thưa bà Ledbetter.”

Tấm thẻ bị một bàn tay vẹo vọ vì viêm khớp cầm lấy và mất hút vào bên trong. “Xin cứ đợi ở ngoài,” bà nói. “Tôi sẽ gọi điện đến sở cảnh sát và kiểm tra xem có đúng cậu là cảnh sát không.”

“Bà cứ tự nhiên.” Robinson dựa vào cổng vòm và châm một điếu thuốc. Đây là lần thứ ba người ta gọi đến sở để kiểm tra về anh trong vòng hai tiếng. Anh tự hỏi không biết các cảnh sát mặc đồng phục khác có gặp nhiều rắc rối như anh không.

Ba phút sau, cánh cửa mở rộng và bà Ledbetter ra hiệu mời anh vào phòng khách. Trông bà hợp với cái tuổi bảy mươi, với làn da nhăn nheo như da thuộc và vẻ ngoài chớ-có-nói-điều-gì-xằng-bậy.

Bà trả thẻ lại cho anh và mời anh ngồi. “Có gạt tàn trên bàn. Nào, trung sĩ, tôi có thể giúp gì cho cậu đây?”

Không cần thiết phải vòng vo với mụ dơi già này, anh nghĩ. Bà ta không giống người hàng xóm bé nhỏ sướt mướt của mình. Bà kia bảo mới nghe tin về vụ giết người trên ti vi thôi đã đủ khiến tim đập liên hồi rồi. “Một cái xác được phát hiện trong vườn của điền trang Streech chiều hôm qua,” anh vào thẳng vấn đề. “Chúng tôi đang tiến hành lấy lời khai để xem có ai trong làng biết gì về việc này không.”

“Ôi, không,” Amy Ledbetter nói. “Tội nghiệp Phoebe.”

Robinson nhìn bà với vẻ thích thú. Đây là kiểu phản ứng anh chưa được thấy. Những người khác trong làng đều có vẻ hể hả và phỉ báng.

“Liệu bà có ngạc nhiên không nếu tôi nói bà là người duy nhất thấy cảm thông cho cô Maybury?” Anh hỏi người phụ nữ già.

Bà bĩu môi tỏ vẻ ghê tởm. “Đương nhiên là không rồi. Tình trạng thiếu hiểu biết trong cái cộng đồng này mới đáng sợ làm sao. Nếu không phải vì quá yêu khu vườn này, tôi đã chuyển đi mấy năm trước rồi. Tôi đoán đó là xác của David?”

“Chúng tôi vẫn chưa biết chính xác.”

“Tôi hiểu rồi.” Bà Ledbetter trầm tư nhìn anh. “Nào, thế thì hỏi đi. Cậu muốn biết gì?”

“Bà có biết rõ về cô Maybury không?”

“Tôi biết con bé từ khi nó còn nhỏ xíu cho đến bây giờ. Gerald Gallagher, cha của Phoebe, là bạn cũ của chồng tôi. Tôi gặp con bé thường xuyên hồi nó còn nhỏ và khi chồng tôi vẫn còn sống.”

“Còn bây giờ?”

Bà chau mày. “Không, giờ thì hiếm. Là lỗi của tôi.” Bà giơ hai bàn tay xương xẩu lên. “Bệnh viêm khớp không khác gì ma quỷ. Sẽ thoải mái hơn nếu tôi ở nhà hay thơ thẩn trong vườn thay vì ra ngoài thăm thú và khiến người ta khó chịu. Tôi chỉ nói được vài câu với con bé vào lần cuối nó đến đây thăm tôi, và sau đó không thấy nó qua chơi nữa. Khoảng mười hai tháng rồi. Là lỗi của tôi.” Bà nhắc lại.

Gừng càng già càng cay, anh thầm nghĩ, nhưng có lẽ đáng tin cậy hơn những người anh từng nói chuyện, rặt mấy kẻ ưa tin đồn nhảm. “Bà có biết gì về hai người bạn của cô ấy là cô Goode và cô Cattrell không?”

“Tôi gặp mấy đứa ấy rồi, hồi xưa cũng biết khá rõ. Phoebe từng rủ hai đứa về nhà. Mấy đứa tốt bụng, thú vị, và cá tính.”

Robinson đọc lại những dòng ghi chép trong cuốn sổ tay. “Một trong số dân làng từng nói…” Anh thoáng ngước lên. “Và tôi xin đọc lại: ‘Ba người phụ nữ đó rất nguy hiểm. Họ từng thử quyến rũ mấy đứa con gái trong làng, thậm chí một lần còn cố rủ rê con gái tôi vui vẻ với họ.’” Anh lại nhìn lên. “Bà có biết gì về chuyện đó không?”

Bà Ledbetter gạt sợi tóc rủ xuống trán bằng bàn tay vẹo vọ. “Dilys Barnes, tôi nghĩ thế. Cô ta sẽ không cảm ơn cậu vì đã gọi cô ta là dân làng đâu. Cô ta là đứa trưởng giả học làm sang vô cùng chướng mắt, lúc nào cũng nghĩ mình là một trong số chúng tôi.”

Anh tò mò hỏi. “Làm sao bà biết?”

“Bởi Dilys là con đàn bà ngu đần chuyên nói dối. Đương nhiên là do thiếu giáo dục. Cái loại sẽ làm bất cứ điều gì để không bị người khác cười nhạo ấy mà. Nhà đó đã làm hỏng cả đám con cái với mấy ý tưởng lố bịch điên rồ của cha mẹ. Thằng con trai được đến trường công, và nó trở về nhà với bộ dạng động một tí là giãy nảy lên như đỉa phải vôi. Và Emma, đứa con gái,” bà nhăn nhó, “tôi e rằng Emma bé nhỏ tội nghiệp rồi cũng trở nên phóng túng mất thôi. Tôi nghĩ đó là cách con bé phản ứng lại mẹ nó.”

“Tôi hiểu rồi,” Robinson rối trí.

Bà Ledbetter cười khúc khích trước biểu cảm của anh. “Con bé còn mây mưa trong khu rừng ở điền trang Streech nữa kìa,” bà giải thích. “Đấy là địa điểm ưa thích để làm chuyện đó.” Bà lại cười khúc khích khi thấy miệng anh méo xệch xuống. “Một đêm muộn, Emma lẻn ra ngoài khu đất và câu chuyện mẹ nó thêu dệt vào ngày hôm sau chính là thứ vớ vẩn cậu đã được nghe đấy.” Bà lắc đầu. “Đương nhiên, mấy chuyện đó chỉ là xằng bậy, và chẳng ai thật sự tin cả, nhưng họ cứ hơn hớt thế bởi họ không thích Phoebe. Và họ coi con bé như kẻ thù kinh khủng nhất. Rồi đây, con bé sẽ cho họ thấy nó khinh thường họ đến thế nào. Đó luôn là một sai lầm. Dù sao thì, cứ hỏi Emma đi. Nó không xấu. Nếu cậu giữ bí mật những gì nó nói, tôi dám chắc nó sẽ kể với cậu sự thật.”

Robinson ghi chú lại. “Cảm ơn bà, tôi sẽ làm như vậy. Bà nói khu rừng là địa điểm yêu thích để… ờ… mây mưa.”

“Đúng vậy đấy. Reggie và tôi từng đến đó nhiều lần trước khi kết hôn. Nơi ấy tuyệt đẹp vào mùa xuân. Rừng hoa chuông xanh, cậu biết đấy. Rất đẹp.”

Robinson tỏ ra ngần ngại.

“Chậc, chậc,” bà Ledbetter điềm nhiên nói. “Tôi hiểu hẳn cậu sẽ ngạc nhiên, những người trẻ các cậu thật sự thiếu hiểu biết về chuyện tình dục. Thời của tôi hay thời bây giờ thì con người ta đều chẳng thể kiểm soát nổi ham muốn của mình đâu. Và nhờ có Marie Stopes* chúng tôi cũng không phải không được bảo vệ.” Bà mỉm cười. “Khi cậu già như tôi, chàng trai trẻ ạ, cậu sẽ biết bản chất của con người thường thay đổi rất ít. Đối với hầu hết chúng ta, thì cuộc sống chính là sự theo đuổi lạc thú.”

Chà, điều đó thì đúng, Robinson thầm nghĩ khi nhớ đến vại bia của mình. Anh cố gắng kiềm chế. “Chúng tôi tìm thấy vài bao cao su dùng rồi trong điền trang, hẳn có liên quan đến điều bà vừa nói bà Ledbetter ạ. Ngoài Emma Barnes, bà có biết liệu còn ai khác có thể đã làm tình ở đó không?”

“Một cách chính xác, thì không. Đoán, thì có. Nếu cậu hứa sẽ tỏ ra lịch sự khi tiếp cận những người liên quan, tôi sẽ cho cậu thêm hai cái tên nữa.”

Anh gật đầu. “Tôi hứa.”

“Paddy Clarke, chủ quán rượu. Ông ta đã cưới một mụ già cay nghiệt không hề biết nhu cầu tình dục của chồng cao đến mức nào. Bà ta tưởng ông chồng dắt chó đi dạo sau khi đóng cửa quán trong lúc bà ta dọn dẹp, nhưng tôi đã thấy con chó chạy lung tung dưới ánh trăng thường xuyên đến mức khó mà tin nổi chuyện ấy. Tôi ngủ không sâu lắm,” bà bổ sung thêm như một cách giải thích.

“Và người kia?”

“Eddie Staines, một trong số các tá điền ở trang trại Bywater. Thằng quỷ đẹp trai, mỗi tháng lại ra ngoài với một cô bạn gái khác nhau. Tôi thấy thằng nhỏ lên đó vài lần.” Bà hất đầu về phía điền trang.

“Thông tin đó rất hữu ích,” anh nói.

“Còn gì khác nữa không?”

“Có.” Anh hơi lúng túng. “Bà có phát hiện ra ai lạ mặt không? Trong sáu tháng gần đây chẳng hạn?” Câu hỏi này được người nghe đón nhận với vẻ hứng thú.

Bà Ledbetter khúc khích cười. “Hai mươi năm trước tôi có thể cho cậu một câu trả lời thoả đáng cho câu hỏi kiểu này. Còn giờ thì không.” Bà nhún vai. “Có quá nhiều người lạ, nhất là vào mùa hè. Khách du lịch, khách vãng lai lái xe ngang qua và dừng chân ở quán rượu để ăn trưa, những người đến cắm trại ở East Deller. Có vài xe lưu động con bị mắc kẹt ở con mương nữa kia, thường là người Pháp họ lái xe mới tệ làm sao. Hỏi Paddy ấy. Ông ta đã dùng xe Jeep kéo họ lên. Còn tôi, e là không thể giúp được cậu rồi.”

Bà chắc chứ? Anh thúc giục. “Người đi bộ chẳng hạn, ai đó từ vài năm trước?”

Bà Ledbetter khịt mũi thích thú. “Ý cậu là David Maybury hả? Tôi chắc chắn mình không nhìn thấy hắn ta trong mấy tháng vừa qua. Tôi đã báo cáo chuyện đó rồi. Lần cuối cùng tôi nhìn thấy David là một tuần trước khi hắn biến mất. Đó là hồi ở Winchester, khi tôi vẫn có thể lái xe. Một hôm, tôi đi ngang qua khi hắn mua con gấu Teddy ở Woolworths cho Jane. Hắn là một kẻ quái lạ. Hôm thì hèn hạ, hôm lại quyến rũ quý phái. Đúng kiểu chồng tôi sẽ gọi là đồ vô lại, nhưng loại ấy lại thu hút phụ nữ.” Bà thoáng im lặng. “Đương nhiên cũng có một kẻ lang thang,” bà nói.

“Kẻ lang thang nào?”

“Lão ta đi ngang qua làng vài tuần trước. Một lão già vui tính có chiếc mũ nỉ màu nâu ngoắc sau người. Lão ta hát bài Molly Malone, tôi nhớ là thế. Khá hay. Hỏi Paddy ấy. Tôi đảm bảo lão ta có đến quán rượu.” Bà mệt mỏi dựa đầu vào lưng ghế. “Tôi mệt quá. Tôi không thể giúp cậu nữa đâu. Tự đi ra nhé, chàng trai trẻ, và đừng quên đóng cổng.” Bà nhắm mắt lại.

Trung sĩ mau lẹ đứng dậy. “Cảm ơn bà vì đã dành nhiều thời giờ cho tôi thế này, bà Ledbetter.”

Bà đã ngáy khe khẽ khi anh nhón chân ra ngoài.

Chánh thanh tra Walsh gác điện thoại và nhìn chằm chằm vào khoảng không. Thông tin vô dụng từ bác sĩ Webster thật khiến ông cáu tiết.

“Không thể chứng minh đó là Maybury, cũng không thể chứng minh không phải hắn,” ông bác sĩ vui vẻ nói qua điện thoại. “Nhưng theo phán đoán chuyên môn của tôi thì không phải.”

“Tại sao, vì Chúa?”

“Quá nhiều điểm khác biệt. Đầu tiên, tôi không thể so sánh mẫu tóc, nhưng không hẳn là hết hi vọng đâu. Tôi đã gửi vài mẫu cho một người bạn vốn được coi là chuyên gia về những thứ này, nhưng anh cũng đừng trông chờ nhiều quá. Anh ta cảnh báo tôi mẫu vật anh lấy được từ cái lược của Maybury có thể đã bị hư hại rồi. Chắc chắn tôi không thể làm gì nổi với thứ đó.”

“Còn gì nữa không?”

“Răng. Anh có để ý rằng cái xác đó không có cái răng nào không? Không nhìn thấy một cái răng cửa hay răng hàm nào. Dấu hiệu cho thấy nạn nhân dùng răng giả, nhưng tại hiện trường chẳng có gì cả. Trông như thể thứ gì đó hoặc ai đó đã tháo chúng ra. Còn mười năm trước thì Maybury vẫn đủ răng, và hồ sơ y tế cho thấy răng lợi hắn vẫn tương đối tốt, chi có bốn mối hàn thôi. Nạn nhân lại khác. Người đó hẳn phải bị bệnh răng nướu rất khủng khiếp mới đến mức phải nhổ bỏ toàn bộ răng trong vòng mười năm như thế.”

Walsh suy nghĩ một lúc. “Cứ cho là vì lý do nào đó, hắn muốn xoá bỏ nhân dạng cũ thì sao. Hắn có thể tự ý nhổ bỏ mà.”

Webster cười khùng khục. “Giả thuyết này nghe có vẻ gượng gạo, dù không hẳn là không thể. Nhưng vì sao cô Maybury lại gỡ bỏ răng giả của hắn, giả sử cô ta chính là kẻ giết người? Hơn ai hết, cô ta là người hiểu rõ ràng, không thể nhận dạng được hắn nữa. Thành thật mà nói, tôi lại nghĩ theo hướng khác. Dù ai giết ông bạn của chúng ta trong căn hầm đó thì đều đã loại bỏ hết những gì có thể chứng minh nạn nhân không phải là Maybury. Ví dụ, tất cả ngón chân và đầu ngón tay còn lại của nạn nhân đều bầm giập, như thể hung thủ muốn ngăn chúng ta lấy dấu vân tay. Nhưng bất cứ ai trong nhà ấy cũng biết, mười năm trước, anh không thể lấy nổi dù chỉ một dấu vân tay từ đó.”

“Chó chết,” Walsh phát bực. “Tôi tưởng cuối cùng đã tóm được thẳng khốn đó. Anh chắc chứ, Jim? Thế những ngón tay bị mất thì sao?”

“Chà, chúng đã bị mất, nhưng nhìn như thể chúng bị cắt bỏ bằng dao rựa. Tôi đã so sánh chúng với ghi chép về phẫu thuật cắt ngón của Maybury nhưng không tương đồng. Maybury mất hai đốt ở cả hai ngón. Còn cái xác của chúng ta thì các ngón tay bị cắt cụt đến tận sát bàn tay.”

“Không chứng minh được đó không phải Maybury.”

“Đồng ý, nhưng có vẻ giống ai đó chỉ biết hắn bị mất hai ngón cuối nên cố gắng khiến chúng ta nghĩ đó là Maybury hơn. Nói thật, thời điểm này, thậm chí tôi còn chẳng dám chắc có yếu tố con người can thiệp không nữa cơ. Suy nghĩ khác đi một chút, vẫn có thể dễ dàng hình dung một hàm răng sắc nhọn đã cắn xé nạn nhân theo cách tôi đã mô tả. Cứ để ý phần eo mà xem. Tôi đã quan sát kĩ vài đường rãnh trên xương sườn và rất khó xác định nó là cái gì. Không thể loại trừ khả năng đó là những vết răng.”

“Nhóm máu thì sao?”

“Phải, trong trường hợp này thì trùng khớp đấy. Đều là O cộng, giống với 50% dân số. Nói đến chuyện máu, anh phải tìm quần áo của nạn nhân đi. Có quá ít máu trên đống bùn chúng ta cạo lên từ dưới sàn.”

“Tuyệt,” Walsh gầm lên. “Thế tin tốt anh mang cho tôi là gì?”

“Tôi đang soạn báo cáo đây, nhưng tôi sẽ tóm tắt cho anh ý chính trước. Đàn ông, da trắng, cao 1m78 cộng trừ hai centimét, xương đùi hai bên còn khoẻ và rõ ràng đã bị vỡ nên tôi sẽ không võ đoán về chuyện đó, khổ người đầy đặn, có thể đang dần béo phì, có lông trên ngực và bả vai, mực xăm bên cẳng tay phải có dấu hiệu biến màu, đi giày cỡ số 8. Không rõ màu tóc là gì nhưng có lẽ là màu nâu tối trước khi ngả xám. Tuổi, trên năm mươi.”

“Ôi, lạy Chúa, Jim. Anh không thể nói chính xác hơn được à?”

“Không tồn tại khoa học chính xác khi người ta già đi, và vài cái răng có thể giúp ích đấy. Còn phải xem chỗ ghép nối các mảnh sọ nữa, nhưng tuổi khoảng giữa năm mươi và sáu mươi là phán đoán của tôi vào lúc này. Tôi sẽ liên lạc lại, sau khi hoàn thành thêm vài việc ở nhà.”

“Được rồi,” Walsh miễn cưỡng nói. “Thời điểm tử vong thì sao?”

“Tôi đã tham khảo vài ý kiến về chuyện này. Họ đều nhất trí rằng, dựa trên việc so sánh nền nhiệt giữa cái nóng mùa hè và không khí ẩm thấp trong hầm trữ đông - nên lưu ý nhiệt độ trong hầm có thể khá cao nếu mở cửa. Đồng thời, so sánh giữa việc chênh lệnh nhiệt độ như thế với tốc độ phân huỷ sau khi đám động vật tới xé xác và ăn thịt nạn nhân, kết hợp cùng khả năng thi thể bị cắt xẻo bởi tác nhân con người, nhưng loại trừ dấu hiệu hoại tử nghiêm trọng vì lũ nhặng xanh không đẻ trứng vào đó quá nhiều. Có điều, tôi vẫn gửi một số mẫu ấu trùng đi để kiểm tra kĩ hơn…”

“Được rồi, được rồi, tôi đâu có yêu cầu được nghe một bài giảng sinh học. Nạn nhân chết bao lâu rồi?”

“Tám hoặc mười hai tuần. Nói cách khác, hai đến ba tháng, tuỳ anh thích cách diễn đạt nào cũng được.”

“Tôi không thích cả hai. Chúng quá mơ hồ. Chênh lệch những một tháng. Anh thích cái nào, tám hay mười hai?”

“Có lẽ ở khoảng giữa, nhưng tôi cũng không chắc lắm.”

“May ra thì đúng đấy,” Walsh gắt lên thay lời chào tạm biệt. Ông cáu kỉnh dập điện thoại, rồi gọi thư kí của mình qua hệ thống liên lạc. “Mary, cô có thể thu thập cho tôi tất cả thông tin về người đàn ông được báo mất tích khoảng hai tháng trước không? Tên: Daniel Thompson, địa chi: East Deller. Vụ đó do thanh tra Staley phụ trách. Nếu cậu ta rảnh, bảo cậu ta dành cho tôi năm phút, được chứ?”

“Dạ được,” cô gái đáp lại.

Walsh lơ đãng nhìn tập hồ sơ đồ sộ về David Maybury lấy ra từ kho lưu trữ hồi sáng. Chúng đã được làm mới và giờ đang nằm trên bàn làm việc của ông như lời hứa hẹn về một mùa xuân phơi phới. “Chết tiệt!” Chánh thanh tra chửi thề.

kiếm thứ gì vậy, thưa sếp?” Một người hỏi. Walsh đưa vài tờ đánh máy cho các nhóm. “Đọc các điểm chính, rồi dùng đến trực giác của các cậu. Nếu có ai đó ở đây liên quan đến kẻ giết người, họ sẽ không tự nhiên mà tặng miễn phí bằng chứng về
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.