7
Tấm rèm được kéo sang một bên, Phoebe Maybury đang đứng trước cửa sổ. Cô nhìn chăm chăm ra ngoài một lúc, mái tóc đỏ rực như lửa nhờ ánh đèn chiếu từ phía sau. Đôi mắt cô mở lớn trên gương mặt căng thẳng trắng bệch. Nhìn cô, George Waish tự hỏi, điều gì đã khiến cô căng thẳng như vậy. Sợ hãi? Tội lỗi? Hay thậm chí là điên rồ? Có gì đó không ổn trong đôi mắt chăm chăm kia. Cô ở gần đến nỗi ông có thể chạm vào cô. Ông nín thở. Cô vươn tay ra, cầm tay nắm và đóng cửa sổ lại. Tấm rèm được kéo về chỗ cũ và chỉ lát sau, ánh đèn cũng tắt ngấm. Tiếng rì rầm của Phoebe và Diana vẫn tiếp tục vang lên trong bếp, nhưng không còn nghe rõ nữa.
Ra hiệu cho McLoughlin đang đứng phía sau, Walsh đi chân trần băng qua sân hiên tới bãi cỏ. Ông vẫn thận trọng để mắt đến những khung cửa sổ sáng đèn bên chái nhà của Anne. Bóng cô đang ngồi cạnh bàn vẫn in đậm lên những tấm rèm. Trong nửa giờ qua, cô thường xuyên đổi tư thế, nhưng không di chuyển khỏi chỗ ngồi. Walsh chắc chắn việc ông và McLoughlin lén nghe lỏm vẫn chưa bị phát hiện.
Họ lẳng lặng tiến về phía hầm trữ đông, McLoughlin cầm đèn pin soi đường. Ước chừng đã đi đủ xa để không bị ai nghe thấy, Walsh dừng lại và quay về phía cấp dưới.
“Cậu nghĩ thế nào, Andy?”
“Phải nói rằng, đó là lời thú tội rõ ràng nhất tôi từng được nghe,” anh trả lời.
“Hừm.” Walsh trầm ngâm bặm môi. “Tôi cũng đang thắc mắc đây. Cô ta đã nói gì nhỉ?”
“Cô ta thừa nhận mình cảm thấy nhẹ nhõm khi rũ bỏ được anh chồng quá dễ dàng như thế.” Anh nhún vai. “Với tôi, vậy là quá đủ rồi.”
Walsh lại bước tiếp. “Lời cáo buộc đó chẳng thể đứng vững đến một phút ở tòa án,” ông lơ đãng nói. “Nhưng thú vị đấy, vô cùng thú vị.” Ông đột ngột ngừng lại. “Tôi nghĩ, cuối cùng cô ta cũng sắp quỵ ngã rồi. Tôi có ấn tượng rằng, cô Goode cũng nghĩ như vậy. Vai trò của cô Goode trong chuyện này là gì? Cô ta không thể dính líu đến sự biến mất của Maybury. Chúng tôi đã kiểm tra kĩ càng và chắc chắn cô ta đang ở Mỹ vào khoảng thời gian đó.”
“Tòng phạm thì sao? Cả cô ta và Cattrell đều biết cô Maybury đã làm chuyện đó nhưng rồi im lặng vì lợi ích của lũ trẻ.” Anh lại nhún vai. “Nhưng cô ta có vẻ ngay thẳng. Cô ta không biết nhiều về hầm trữ đông, rõ ràng là vậy.”
“Trừ phi cô ta gian dối.” Ông cân nhắc sau vài phút. “Cậu không thấy lạ khi cô ta đã sống ở đây tám năm mà chưa hề ngó tới chỗ đó sao?”
Vầng trăng ló ra sau một đám mây và chiếu sáng lối đi của họ. Ánh trăng xam xám, lành lạnh. McLoughlin tắt đèn. “Có lẽ cô ta không thích nó,” anh nhận xét với vẻ châm biếm. “Có lẽ cô ta biết thứ gì nằm bên trong.”
Lời nhận xét ấy khiến Walsh khựng lại. “Chà, chà,” ông lẩm bẩm. “Tôi tự hỏi, nếu thật như vậy thì sao. Mọi chuyện sẽ trở nên hợp lý. Chẳng ai lại đi mò mẫm quanh cái nơi họ biết rõ rằng có một xác chết bên trong cả. Một bộ ba khó nhằn. Xem ra chẳng ả nào trong số đó đang cố gắng làm điều gì nhân nghĩa đâu. Họ sẽ không ngại chứa chấp một xác chết, miễn là tống cổ kẻ họ ghét. Cậu có nghĩ vậy không?”
Trung sĩ cau mày. “Đối với tôi, phụ nữ hệt như một cuốn sách đóng chặt, sếp ạ. Tôi thậm chí còn chẳng muốn giả vờ hiểu họ nữa kìa.”
Walsh cười khùng khục. “Kelly lại khiến cậu khó chịu à?”
Tiếng cười đâm thẳng vào não bộ của McLoughlin, sáng bóng và sắc nhọn như một cây kim. Anh quay đi, thọc hai bàn tay và cả cây đèn của mình vào sâu trong túi áo khoác. Cứ khích tôi đi, anh thầm nghĩ, cứ thử khích tôi nữa xem. “Diana cãi đôi chút thôi. Không có gì nghiêm trọng cả.”
Walsh tỏ ra thông cảm, vì ít nhiều biết được những vấn đề dai dẳng trong hôn nhân của McLoughlin. Ông lẩm bầm. “Buồn cười ở chỗ, vài ngày trước, tôi thấy cô ấy đi cùng Jack Booth, vừa đi vừa nhún nhảy chẳng màng để tâm đến xung quanh. Tôi chưa bao giờ thấy cô ấy vui vẻ đến thế. Không phải đang mang bầu đấy chứ. Trông tươi như hoa vậy.”
Sao tên khốn này không đánh anh luôn nhỉ? Như thế sẽ đỡ đau hơn. “Có lẽ là bởi cô ấy đã đến sống chung với Jack,” anh lơ đãng nói. “Cô ấy dọn đi tuần trước rồi.” Nào, giờ thì cười đi, đồ khốn, cười đi, và cho tôi lý do để đập vỡ bản mặt ông.
Chẳng biết nói gì thêm, Walsh vụng về vỗ nhẹ vào cánh tay McLoughlin. Giờ ông đã hiểu vì sao chàng trai này lại nhạy cảm quá như thế trong mấy ngày qua. Mất vợ đã đủ tệ rồi, mất vợ vào tay thằng bạn thân nhất thì còn gì đau đớn hơn. Lạy Chúa! Là Jack Booth, chứ không phải ai khác! Hắn chính là phù rể trong đám cưới của họ. Chà chà, điều đó cũng giải thích được cơ số chuyện. Lý do gần đây McLoughlin thường đi một mình. Lý do Jack đột ngột quyết định rời lực lượng để đến làm việc cho một công ty bảo vệ ở Southampton. “Tôi không hề biết. Xin lỗi cậu.”
“Chẳng có gì quan trọng đâu. Tất cả đều êm thấm. Đôi bên đều thấy thoải mái.” Anh bạn cũng đáp, như thể chẳng hề quan tâm.
“Có lẽ chỉ là nhất thời cảm nắng,” Walsh an ủi, dù chẳng mấy thuyết phục. “Và cô ấy sẽ quay về ngay thôi.”
McLoughlin nhếch miệng cười, để lộ hàm răng trắng sáng, nhưng màn đêm đã che đi cơn phẫn nộ trong mắt anh. “Sếp, có thể giúp tôi một việc không? Đừng đả động đến chuyện đó. Chúa chứng giám, chúng tôi chẳng còn gì để nói với nhau khi cô ấy bỏ đi. Chúng tôi biết nói cái mẹ gì đây nếu cô ấy quay trở lại?” Chúa ơi, anh muốn đánh ai đó. Có phải tất cả họ đều biết rồi không? Phải chăng họ đều cười nhạo anh? Anh sẽ giết kẻ đầu tiên dám làm thế.
Anh bắt đầu rảo bước. “Tạ ơn Chúa, chúng tôi chưa có con, nên chẳng ai mất mát gì.”
Walsh đi phía sau, miên man suy nghĩ về bản tính thất thường của con người. Ông nhớ lại cuộc chuyện trò với McLoughlin chỉ vài tháng trước, khi chàng trai trẻ đổ lỗi cho việc không có con đã khiến cuộc hôn nhân của họ chưa viên mãn. Cậu ta nói, vợ mình chán nản vì không hài lòng với công việc thư kí, và cần một đứa bé để khiến bản thân luôn bận rộn. Lúc đó, Walsh đã khôn ngoan mà giữ im lặng. Từ kinh nghiệm với con gái mình, ông biết, lời khuyên trong những trường hợp thế này hiếm khi nhận được sự cảm kích. Nhưng ông cũng thầm hi vọng, số phận sẽ can thiệp và không đứa trẻ khốn khổ nào phải chào đời chỉ để giúp cặp đôi tệ ngang nhau này bận rộn. Việc con gái ông mang thai lần đầu ở tuổi mười sáu, khi vẫn đang ngồi trên ghế nhà trường và chưa hề lập gia đình là một cú sốc với ông. Nhưng ông còn choáng váng hơn khi phát hiện ra rằng, vợ và con gái ông không thực sự yêu thương nhau. Con gái ông bao biện cho hai cuộc hôn nhân thất bại và việc có bốn đứa con là bởi nó đã theo đuổi tình yêu không biết mệt mỏi, trong khi vợ ông trách mắng con bé vì đã bỏ lỡ quá nhiều cơ hội và thiếu lòng tự trọng. Ông đã cố bù đắp những thất bại trong quá khứ bằng cách quan tâm đến các cháu nhiều hơn, nhưng điều đó thật khó khăn. Thiện ý của ông lại dần biến thành lời chỉ trích.
Ông thấy chúng quá hoang dã và vô kỉ luật, lý do là bởi tính dung túng của con gái ông cùng việc thiếu sự dạy bảo của người cha.
Giờ đây, Walsh luôn ám ảnh bởi cơn ác mộng, cùng với sự vô tâm của con gái, ông đang gieo rắc những hạt mầm bất hạnh vào các thế hệ tiếp theo.
Ông bắt kịp McLoughlin. “Cuộc sống như trò chơi xếp hình vậy, Andy. Dù giờ cậu chưa nhận ra, nhưng đến cuối cùng, tất cả các mảnh ghép sẽ khớp lại với nhau. Mọi việc luôn diễn tiến theo chiều hướng tốt đẹp nhất. Lúc nào cũng vậy.”
“Đương nhiên rồi, thưa sếp. ‘Rồi mọi thứ sẽ diễn ra theo hướng tốt đẹp nhất ở thế giới tốt đẹp nhất trong tất cả các thế giới có thể xảy ra…’* Anh tin vào điều tào lao đó sao?”
Walsh đuối lý. “Phải, đương nhiên là vậy rồi.”
Hầm trữ đông đổ bóng dưới ánh đèn huỳnh quang xa tít. Họ tiến lại gần. McLoughlin hất hàm về phía khung cửa mở và khoảng tối bên trong. “Dường như nạn nhân của chúng ta sẽ không đồng ý với điều đó đâu.”
“Nhưng kẻ giết người thì có đấy.” Cả vợ cậu nữa, khi trèo lên giường và vui vẻ cùng Jack Booth, Walsh cay nghiệt nghĩ. Ông giơ tay chào hạ sĩ Jones khi họ đi vòng qua căn hầm. “Tìm thấy gì không?”
Jones chỉ vào một mảnh vải bạt trên mặt đất. “Đây, thưa sếp. Chúng tôi đã lùng sục trong bán kính 50 mét quanh hầm. Tôi bảo các anh em để đến mai hãy lục soát tiếp vạt rừng chạy dọc theo bức tường phía sau, ánh đèn tạo ra quá nhiều bóng lờ mờ nên khó mà nhìn rõ được.”
Walsh ngồi xổm xuống, gảy cây bút chì, gạt ra một mớ túi bóng, vỏ kẹo, hai quả bóng tennis xác xơ và đủ thứ tạp nham khác. Ông để riêng ba bao cao su đã qua sử dụng, một chiếc quần lót bạc phếch và vài vỏ đạn rỗng. “Chúng ta sẽ lần theo những thứ này. Tôi không nghĩ đống kia có thể tiết lộ được manh mối nào đâu.” Ông đứng dậy. “Được rồi, tạm nghỉ ở đây. Jones, tôi muốn cậu tiếp tục tìm kiếm khắp khu đất vào ngày mai. Tập trung vào rừng cây, dọc theo bức tường phía sau và ngược lên cống chính. Gọi thêm một đội hỗ trợ. Còn Andy, cậu tiếp tục việc thẩm vấn cho đến khi tôi tới nhé. Hỏi Fred Phillips, gần đây ông ta có dùng đến súng săn không. Chúng ta sẽ kiểm tra ông ta và những người ở đây xem có ai được cấp giấy phép sử dụng súng không. Trung sĩ Robinson cùng những người khác có thể tới từng nhà xung quanh để thu thập thêm tin tức.” Ông chỉ về phía đám bao cao su và chiếc quần lót. “Có vẻ không ai sống trong điền trang lại quăng những thứ này ra vườn.” Ông nhìn McLoughlin. “Mặc dù vậy, cậu có thể hỏi thật khéo.” Ông quay sang Jones và nói. “Chúng có nằm cùng một chỗ không?”
“Rải rác, thưa sếp. Chúng tôi đã đánh dấu vị trí.
“Làm tốt lắm. Hẳn là một tên sát gái trong vùng có sở thích mang bạn tình đến đây. Nếu vậy, hắn có thể cho chúng ta vài lời khuyên. Tôi sẽ bảo Nick Robinson tập trung điều tra theo hướng đó.”
Vẻ cáu kỉnh hiển hiện trên gương mặt McLoughlin khi nghĩ đến viễn cảnh thảo luận về đám bao cao su với những phụ nữ trong điền trang. “Còn sếp thì sao?” anh hỏi.
“Tôi à? Tôi sẽ kiểm tra lại vài tập hồ sơ, đặc biệt là về Cattrell. Chẳng dễ dàng gì đâu. Tôi không thấy hứng thú chút nào hết.” Ông bặm môi. “Có một tập hồ sơ của cơ quan đặc vụ lưu trữ thông tin về cô ta từ khi còn là sinh viên. Phải dài cả sải tay. Tôi đã đọc qua một chút vào thời điểm Maybury mất tích. Nhờ vậy mà tôi biết cô ta đã ở Greenham Common. Cô ta là kẻ phá rối suốt chừng ấy năm. Cậu có nhớ vụ làm giả sổ sách kế toán ở Bộ Quốc phòng ầm ĩ cách đây vài năm không? Ai đó đã thêm một số không vào con số ba triệu bảng và bộ phải chi trả gấp mười lần giá trị hợp đồng. Do Anne Cattrell khui ra đấy. Lãnh đủ luôn ta rất điệu nghệ trong việc khiến người khác lãnh đủ.” Ông đăm chiêu sờ cằm. “Hẳn cậu vẫn nhớ chuyện đó chứ, Andy?”
“Anh có nói quá không, sếp? Nếu cô ta giỏi đến thế thì tại sao lại chịu mắc kẹt giữa chốn khỉ ho cò gáy Hampshire này? Cô ta nên ở London, làm việc cho một trong những hãng thông tấn lớn nhất cả nước chứ!” Giọng điệu ngưỡng mộ và hứng thú của Walsh khiến anh bực mình.
“Ồ cô ta giỏi mà,” Walsh cáu kỉnh đáp. “Cô ta từng làm cho một tờ báo quốc gia ở London trước khi buông bỏ hết và tới đây làm nhà báo tự do. Đừng đánh giá thấp cô ta. Tôi đã đọc được vài nhận xét trong tập hồ sơ kia. Một ả gai góc, không phải kiểu mồm loa mép giải đâu. Cô ta có cả chương lịch sử liên quan đến phe cánh tả, biết mọi thứ về quyền công dân cũng như sức mạnh của cảnh sát. Từng là nhà báo trong phong trào chống vũ khí hạt nhân, một người theo thuyết nam nữ bình quyền công khai, và đoàn viên công đoàn năng nổ. Cô ta liên hệ cả với nhóm Tranh đấu* và có thời điểm còn là thành viên của Đảng Cộng sản Anh…”
“Lạy Chúa” McLoughlin giận dữ thốt lên. “Vậy cô ta đang làm cái quái gì trong tòa điền trang chết giẫm này thế? Quỷ tha ma bắt, sếp ạ, họ còn có hai người giúp việc nữa chứ.”
“Tò mò, phải không? Điều gì đã khiến cô ta từ bỏ công việc và cả nguyên tắc của mình? Tôi nghĩ cậu nên hỏi cô ta vào ngày mai. Đó là cơ hội đầu tiên mà chúng ta phải lần cho ra.”
Lão già nồng nặc mùi rượu. Lão ngồi đó như Guy Fawkes* mình đầy u bướu trên ngưỡng cửa một tiệm bán thuốc lá ở Southampton. Lão mặc chiếc quần hồng sáng màu kệch cỡm, đội cái mũ xiêu vẹo, cũ rích trên mái đầu hói, môi lầm nhầm một bài hát tếu táo. Đã gần nửa đêm. Như những tên say khác, thỉnh thoảng đang hát, lão lại gọi giật các khách qua đường, nhưng họ đều liếc xéo lão rồi băng qua hoặc vội vã bỏ đi.
Một viên cảnh sát tiến lại gần, tự hỏi không biết nên làm gì với lão già ngu độn này. “Ông phiền toái chẳng khác nào một cái nhọt đang sưng tấy ở mông,” anh ta nói.
Lão già lang thang trợn mắt nhìn anh ta. “Một con nhặng đang sung sức chứ,” lão nói, trước khi đôi mắt mờ đục thoáng sáng lên vì nhận ra người đối diện. “Chúa thương tôi quá mà, trung sĩ Jordan này,” lão ta cười khúc khích.
Lão lôi cái chai bọc giấy nâu trong áo khoác ra, ghé hàm răng xỉn nhổ chiếc nút và đưa cho viên cảnh sát. “Uống đi, anh bạn.”
Trung sĩ Jordan lắc đầu. “Không phải đêm nay, Josephin ạ.”
Lão già dốc ngược cái chai và trút cạn thứ chất bỏng bên trong vào miệng mình. Chiếc mũ rơi xuống, lăn dọc theo bậc thềm. Viên trung sĩ cúi người nhặt nó lên, rồi đội ngay ngắn lên mái đầu của lão. “Đi nào, bạn già.” Anh đỡ cánh tay nhem nhuốc và xốc lão già bần thỉu đứng dậy.
“Cậu tống giam tôi đấy à?”
“Ông có muốn thế không?”
“Sao cũng được, con trai ạ,” lão rên rỉ. “Tôi mệt quá. Cứ nàm vậy đi, có chỗ nghỉ nưng nà được.”
“Và tôi có thể cứ làm thế nếu không cần tẩy uế cả phòng giam sau khi ông vào đó,” viên cảnh sát lẩm bẩm, rồi lôi một tấm danh thiếp ra khỏi túi và đọc địa chỉ bên trên. “Tôi sẽ cho ông một đặc ân, có lẽ lần đầu tiên trong nhiều năm, ông sẽ không phải uống rượu bố thí nữa. Đến đây nào, ông sẽ ngủ ở Hilton tối nay.”
George Walsh thả Robinson và McLoughlin ở quán Cừu & Cờ trên đường Winchester để họ tranh thủ uống một chầu bia trước giờ đóng cửa, rồi lái xe đến Sở cảnh sát Silverborne. Ông đi dọc phố High giữa hai dãy cửa hàng tối om, băng qua dải tưởng niệm chiến tranh và một trung tâm mua sắm cũ, giờ đã được cải tạo thành ngân hàng.
Ngoài sự bành trướng về diện tích, trong mỗi năm qua, danh tiếng duy nhất Silverborne có được là mối liên hệ mật thiết với điền trang Streech xung quanh vụ mất tích của David Maybury. Theo quan điểm của Walsh, việc Streech thêm một lần nữa trở thành trung tâm chú ý của cảnh sát tuyệt đối không phải ngẫu nhiên. Sét chẳng thể đánh hai lần một chỗ. Ông huýt sáo vẩn vơ và băng qua cửa trước.
Bob Rogers đang ngồi tác sau quầy. Anh ngẩng lên khi Walsh bước vào. “Chào sếp. ”
“Bob.”
“Có tin anh vừa tìm thấy Maybury.”
Walsh chống một tay lên bàn. “Tôi sẽ không xem thường bất cứ điều gì đâu,” ông gầm gừ. “Thằng con hoang đó đã lẩn trốn tôi suốt mười năm. Tôi có thể đợi thêm hai mươi tư giờ nữa trước khi bật champagne uống mừng. Có tin gì từ Webster chưa?”
Rogers lắc đầu.
“Tối nay bận hả?”
“Cũng không bận lắm.”
“Thế thì giúp tôi việc này. Lập cho tôi danh sách tất cả những người, đàn ông cũng như đàn bà, được thông báo mất tích trong khu vực của chúng ta trong vòng sáu tháng trở lại đây. Tôi đợi trong văn phòng nhé.”
Walsh đi lên tầng, tiếng bước chân vang vọng giữa hành lang vắng lặng. Ông thích nơi này về đêm, trống trải, im lìm, không có chuông điện thoại hay tiếng tán chuyện huyên thuyên ngoài cửa làm gián đoạn suy nghĩ. Ông vào phòng và bật đèn. Giáng sinh hai năm trước, vợ ông đã mua tặng ông một bức tranh để ghi lại chút dấu ấn cá nhân lên những bức tường trắng ảm đạm nơi đây. Nó được treo trên bức tường đối diện cửa, như chào mừng ông mỗi lần bước vào phòng. Ông căm ghét nó. Nó đại diện cho sở thích của vợ ông, chứ không phải của ông: một đàn ngựa đen bóng đang phi qua khu rừng ngả sắc thu: Ông thích những bản in của Van Gogh với mức giá tương đương nhưng vợ ông đã cười vào đề nghị ấy. Anh yêu à, bà nói, bất cứ ai cũng mua được một bản in, chẳng thà mua bản gốc có phải hơn không? Ông trừng mắt nhìn bức tranh xinh đẹp và tự hỏi, cũng không phải lần đầu, rằng vì sao ông lại thấy việc nói không với vợ mình khó khăn đến thế.
Ông bước tới tủ đựng hồ sơ và dò tìm vần C. Caims, Calaghan, Calvert, Cambridge, Cattrell. Walsh reo lên một tiếng hài lòng, rút tập hồ sơ khỏi ngăn kéo và mang đến bên bàn. Ông mở ra, ngồi xuống ghế, nới lỏng cà vạt rồi đá giày khỏi chân.
Tiểu sử của Anne Cattrell trình bày theo hình thức sơ yếu lý lịch, do cảnh sát Silverborne thống kê đến thời điểm Maybury mất tích. Phần bổ sung, với các thông tin gần đây đã được thêm vào trang cuối. Walsh tự đặt tay lên môi và đọc. Nhìn chung rất đáng thất vọng. Ông những mong tìm thấy kẽ hở nào đó trên bộ giáp của cô ta, một điểm yếu để ông dùng làm lợi thế cho mình. Nhưng chẳng có gì. Điểm duy nhất đáng chú ý là chín năm gần đây, cuộc đời cô ta tóm gọn trên một trang giấy, trong khi mười năm trước đó thì tốn những vài trang. Tại sao Anne lại từ bỏ một vị trí đầy triển vọng như thế? Nếu ở lại London, giờ tên tuổi cô ta đã sáng chói rồi. Trong chín năm này, thành công lớn nhất được ghi nhận là thông tin khui ra từ Bộ Quốc phòng, đăng tải trên một tờ nguyệt san, và bị đám phóng viên từ các hãng thông tấn quốc gia xâu xé. Cô ta thu được chút danh tiếng sau vụ đó. Thực sự Walsh chỉ biết đến tiểu sử của Anne bởi cô ta có mối liên hệ với Maybury mà thôi. Nếu dính líu đến vụ án thì quãng lặn đột ngột kia có thể giải thích được. Nhưng chỉ đơn giản vậy sao? Gương mặt ông nhăn lại. Liệu cô ta và hai người kia có hình thành mối quan hệ trụy lạc nào đó vào lúc cả ba tự do không? Ông thấy ý tưởng ấy chắc chắn đến lạ dùng. Nếu Phoebe Maybury vốn là người đồng tính, thì chuyện này thật dễ hiểu. Walsh đang gom tập hồ sơ lại thì Bom Rogers bước vào.
“Tôi có những cái tên cho anh rồi đây, và cả một tách trà nữa.”
“Tốt lắm.” Walsh cảm kích đón lấy tách trà. “Bao nhiêu vậy?”
Trung sĩ Rogers dò lại danh sách. “Năm. Hai nữ và ba nam. Hai đứa con gái rõ ràng là bỏ trốn, đều tầm tuổi vị thành niên, rời nhà sau khi cãi vã với cha mẹ và mất hút luôn. Đứa bé hơn mười bốn tuổi, tên Mary Lucinda Pheps, còn gọi là Lucy. Nếu anh còn nhớ, chúng ta đã tổ chức tìm kiếm con bé, nhưng không phát hiện được gì.”
“Phải, tôi nhớ. Nhìn trên ảnh cứ như hai mươi nhăm tuổi”
“Chính là nó. Cha mẹ con bé thề thốt nó vẫn còn trinh, nhưng hóa ra nó đã nạo thai từ cúc mười ba tuổi. Đứa trẻ tội nghiệp ấy có lẽ giờ đang lang thang trên đường phố London.
“Đứa còn lại là Suzie Miller, mười tám tuổi. Lần cuối cùng có người trông thấy con bé là đâu tháng Năm, khi đi nhờ chiếc A31 của một gã lớn tuổi hơn. Có nhân chứng nói rằng, con bé đổ rạp lên người gã ta. Cha mẹ con bé muốn chúng ta coi đó là một vụ giết người, nhưng chẳng có bằng chứng nào và chúng ta cũng chưa tìm thấy xác chết.
“Về ba người đàn ông, một trong số đó có khả năng đã tự sát, mặc dù một lần nữa, chúng ta cũng không tìm thấy xác. Một người đã già và đi lang thang. Còn người thứ ba thì bỏ trốn.
“Người đầu tiên là Mohammed Mirahmadi, một gã trai trẻ người châu Á, hai mươi mốt tuổi, có tiền sử trầm cảm, từng năm lần cố tự sát. Bỏ nhà đi ba tháng trước. Chúng ta đã nạo vét lòng hồ khai thác đá gần đó nhưng không thu được gì.
“Ông già kia tên Keith Chapel, trốn khỏi viện dưỡng lão vào giữa tháng Ba, đến giờ đã gần năm tháng và vẫn chưa quay lại. Lạ lùng ở chỗ chẳng một ai nhìn thấy ông ta ở bất cứ nơi đâu. Người ta nói ông ta mặc một chiếc quần hồng sáng màu.
“Và cuối cùng là Daniel Clive Thompson, năm mươi hai tuổi, được vợ báo mất tích khoảng chín, mười tuần trước. Thanh tra Staley tiến hành điều tra vụ đó khá triệt để. Công việc kinh doanh của ông ta lụn bại, khiến phần lớn nhân viên lâm vào đường cùng. Staley cho rằng ông ta đã chuồn thẳng đến London. Lần cuối người ta nhìn thấy Thompson là khi ông ta xuống tàu ở ga Waterloo.” Anh ngước lên.
“Có ai trong số họ sống gần Streech không?”
“Một trong ba người đàn ông. Daniel Thompson. Địa chỉ: Larkfield, East Deller. Ngay gần ngôi làng, đúng không nhỉ?”
“Nhân dạng thế nào?”
“Cao 1m70, tóc xám, mắt vằn đỏ, vạm vỡ, mặc một bộ vest màu nâu, vòng ngực 111 centimét, giày nâu, cỡ 8. Thông tin khác: nhóm máu O, mang sẹo cắt ruột thừa, đeo hàm răng giả, hình xăm trên cả hai cẳng tay. Lần cuối trông thấy, 25 tháng Năm, ở Waterloo. Lần cuối vợ ông ta nhìn thấy chồng chính là ngày bà ta thả ông chồng xuống ga Winchester. Đó là tất cả những gì tôi có ở đây, nhưng Staley có lưu một tập hồ sơ về ông ta. Anh có cần tôi tìm về không”
“Không,” Walsh gầm lên giận dữ. “Đó là Maybury.” Ông nhìn Bom Rogers bước ra cửa. “Chết tiệt! Thật không khác gì hôm nào quên ô là y rằng trời mưa. Để danh sách lại cho tôi. Nếu dựa vào đó, chắc chắn cái xác là Maybury.” Ông đợi đến khi cánh cửa đóng lại, rồi ủ rũ nhìn chằm chằm vào phần mô tả về Daniel Thompson, gương mặt như già thêm mười tuổi.