11
Các thông báo chốc chốc lại được gửi qua, người của Walsh tụ tập trên bãi cỏ trước hầm trữ đông để báo cáo. Giờ là lúc ấm áp nhất trong ngày. Cả nhóm đều vui mừng khi được cởi áo khoác, ngồi hoặc nằm dài trên mặt đất, chẳng khác nào các thành viên trong một gia đình đang đi nghỉ trên bãi biển. McLoughlin nằm ngửa, nhíu mày nhìn khoảng không như một người cha lo lắng cho lũ trẻ huyên náo ở tít phía xa. Không màng đến nhu cầu của ai khác ngoài bản thân, Robinson đang hạnh phúc đánh chén một gói sandwich, khiến bầu không khí giống hệt trong buổi picnic.
Phía sau họ, những bụi mâm xôi một thời sum sê như tấm rèm xanh lộng lẫy giờ nằm im lìm chảy nhựa giữa đống ngổn ngang toàn cành cây gãy nát và tàn úa dưới ánh mặt trời.
Walsh lôi khăn tay ra lau mồ hôi trán. “Nói xem, các cậu đã thu hoạch được những gì nào,” ông gầm gừ trong khoảng không tĩnh lặng như thể vừa nhắc một lần và bị lờ đi. Chân ông giạng ra, cuốn sổ ghi chép nằm trên mặt đất giữa hai đầu gối. Ông lật sang một trang trắng. “Giày,” ông dùng bút chì ghi lại rồi gõ nhẹ vào đôi giày nâu trong chiếc túi bên cạnh. “Ai đã lên ngôi nhà rồi?”
“Tôi, thưa sếp,” một người trong đội tìm kiếm của Jones lên tiếng. “Fred Phillips đi giày cỡ 10 và đôi bàn chân ông ta to bè, chiều ngang phải gần bằng chiều dài. Ông ta đã cởi bốt cho tôi xem.” Cậu cười khùng khục khi nhớ lại. “Khung người ông ta to như voi, nên bàn chân cũng to như chân voi vậy.” Cậu bắt gặp ánh mắt của Walsh và vội cúi nhìn đôi giày trong túi. “Không thể. Tôi không nghĩ mấy ngón chân quá khổ ấy lại nhét vừa vào thứ này. Jonathan Maybury thì đi cỡ 9.” Cậu nhìn lên. “Nhân tiện, cậu ta và con gái nhà Goode vừa về, thưa sếp. Giờ hai đứa đang ở với mẹ chúng.”
Walsh lẩm bẩm nói ông đã biết chuyện đó và ghi nhanh các con số. “Được rồi, Robinson, cậu có gì?”
Trung sĩ nhét miếng sandwich cuối cùng vào miệng và móc tập giấy ghi chép ra. “Thăng cấp rồi,” anh thì thào với người kế bên.
“Là sao?” Walsh lạnh lùng hỏi.
“Xin lỗi sếp, gió ấy mà,” Robinson đáp, giở vội mấy trang giấy. “Tôi đã đào trúng một mỏ vàng, thưa sếp. Tôi sẽ ghi lại tất cả vào báo cáo, nhưng những điểm quan trọng gồm có: Một, khu rừng là điểm hò hẹn ưa thích của các cặp đôi trong vùng, việc này diễn ra nhiều năm nay rồi. Hai, David Maybury đã phát hàng trăm tờ rơi, trên đó có bản đồ khu đất và lược sử nơi này.” Anh liếc nhìn Walsh. “Hắn muốn thu hút khách du lịch và đưa tờ rơi cho bất cứ ai trong làng có thể phát tán chúng.”
“Mẹ kiếp,” Walsh cáu kỉnh. “Cậu có bản sao nào không?”
“Vẫn chưa có. Chủ quán rượu đã kể với tôi về chuyện đó và giờ ông ta đang cố tìm lại. Nếu thấy, ông ta sẽ gọi cho tôi.”
“Còn gì khác không?”
“Thứ lỗi cho tôi, sếp à, tôi vừa mới bắt đầu mà,” Nick Robinson than vãn. “Tôi đã hỏi về những người lạ. Vài người nhớ có nhìn thấy một lão già lang thang quanh ngôi làng khoảng hai đến ba tháng trước nhưng tôi không thể xác định được mốc thời gian cụ thể. Lão ta có tiền vì đã mua vài ly trong quán rượu.”
“Tôi có ngày tháng đây, thưa sếp,” Williams háo hức chen ngang. “Lão ta đã gõ cửa hai căn hộ ở khu cư xá để hỏi xin thức ăn và tiền. Người đầu tiên là một bà lão tên Hogarth, bà này cho lão một cái sandwich. Người thứ hai, cô Fowler, đã đuổi lão đi cùng một tràng chửi rủa vì lão đến vào đúng bữa tiệc sinh nhật con trai cô ta. Ngày 27 tháng Năm,” cậu ta nói nốt với vẻ đắc thắng. “Tôi cũng có mô tả chi tiết nữa. Không quá khó để tìm ra lão ta đâu. Mũ nỉ cũ màu nâu, áo khoác xanh, và đây là điểm mấu chốt, quần hồng sáng màu.”
Trông Walsh có vẻ hồ nghi. “Rõ ràng chẳng liên quan gì. Đám lang thang ở đây vào mùa hè nhiều như lá trên rừng. Họ cứ dựa theo hướng mặt trời và đi dọc các tuyến đường có cảnh đẹp như khách du lịch vậy. Còn gì nữa không?”
Robinson thoáng thấy một tia châm biếm trong mắt McLoughlin như xác nhận những điều anh đang nghĩ, rằng ông già này lại giở chứng nữa rồi. Chúa cứu rỗi linh hồn ông ta, anh thầm nhủ. Cứ như chơi với một cái yoyo vậy, phút trước còn văng cao, phút sau đã rớt xuống. Nếu bình thường, hẳn với tất cả những nỗ lực ban sáng, anh đã được nhận một cái vỗ vai khen ngợi. Nhưng tình hình này, một lời khích lệ thôi cũng đã may mắn lắm rồi. Anh quay lại với cuốn sổ ghi chép. “Tôi lần theo manh mối được cung cấp và đã nói chuyện với một trong những người sử dụng chỗ bao cao su kia,” anh tiếp tục. “Ông ta đến đây với bạn gái khi thời tiết còn ấm áp, thường vào khoảng 11 giờ…”
“Tên,” Walsh quát.
“Xin lỗi, thưa sếp. Tôi đã hứa sẽ không tiết lộ tên ông ta trừ phi quá cần thiết cho việc khởi tố, và phải nhận được sự cho phép từ người đó.” Với Robinson, lời đe doạ sẽ treo dái anh lên của Paddy Clarke chẳng phải chuyện đùa. Tên đàn ông to lớn đó không đưa ra lý do gì biện minh cho hành động lang chạ của mình, nhưng Robinson cũng đoán được ít nhiều khi thấy bà Clarke đột nhiên trở về đúng lúc anh rời đi. Bà ta to lớn, đẫy đà và độc đoán với nụ cười lạnh tanh cùng đôi mắt hà khắc. Một nữ thần đầu rắn mặc quần. Chúa chứng giám, chẳng ai có thể trách Paddy khi muốn thứ gì đó mềm mại, ngọt ngào và phục tùng để thi thoảng ôm ấp.
“Tiếp đi,” Walsh nói.
“Tôi đã hỏi xem ông ta có nhìn thấy điều gì bất thường trên này trong vòng sáu tháng qua không. Ông ta nói nhìn thấy thì không, nhưng nghe, thì có. Theo ông ta, bình thường ở đây khá im ắng, chỉ có tiếng cú hoặc tiếng chó sủa từ đằng xa, đại loại thế.” Anh soát lại cuốn sổ. “Có hai lần, vào hai tuần đầu tiên của tháng Sáu, theo như ông ta nhớ được, ông ta và bạn gái đã ở đây… Để tôi trích lời ông ta, thưa sếp, ‘Sợ đến bĩnh ra quần trước thứ âm thanh kinh khủng nhất từng nghe thấy trong đời. Như tiếng linh hồn gào khóc dưới địa ngục’. Lần đầu tiên, bạn gái ông ta hoảng loạn đến mức bỏ chạy thục mạng. Ông ta cũng ba chân bốn cẳng chạy theo và khi họ ra đến đường, người phụ nữ bảo rằng cô ta đã bỏ quên quần lót ở đó.”
Tiếng cười khúc khích vang lên như một làn gió nhẹ thổi qua bãi cỏ. Ngay cả Walsh cũng mỉm cười. “Họ có biết là gì không?”
“Lần thứ hai thì họ đã phát hiện ra, khi quay lại vào một tuần sau đó. Âm thanh nọ tiếp diễn nhưng với cường độ thấp hơn nhiều. Lần này, người đàn ông ôm chặt lấy bạn gái và bảo cô ta lắng nghe. Ông ta nghĩ đó là tiếng mèo gào, có thể cả tiếng gầm gừ nữa. Ông ta không biết chính xác âm thanh phát ra từ đâu, chỉ biết là khá gần.” Anh nhìn Walsh. “Họ còn đến nhiều lần, nhưng không bắt gặp tình trạng đó nữa.”
McLoughlin cựa mình. “Có một bầy mèo hoang trong điền trang,” anh nói. “Đánh nhau vì cái xác. Nếu đúng như vậy và ngày tháng là chính xác, bước đầu, chúng ta có thể xác định một mốc thời gian cụ thể. Nạn nhân đã bị giết hại vào tuần cuối của tháng Năm hoặc tuần đầu tiên của tháng Sáu.”
“Nhân chứng của cậu có chắc về ngày tháng mình cung cấp không?” Walsh hỏi Robinson.
“Khá chắc. Ông ta sẽ kiểm tra lại với cô bạn gái nhưng ông ta nhớ việc đó diễn ra trong khoảng thời gian nóng nực đầu tháng Sáu. Ông ta nói, vào cả hai lần đó, mặt đất khô như rang, đến mức hai người họ không cần lót gì bên dưới để nằm lên cả.”
Walsh ghi chú vào tập giấy. “Thế thôi à?”
“Tôi thu được vài thông tin khá mâu thuẫn về ba người phụ nữ ở đây. Phần lớn mọi người đều đồng ý rằng họ có quan hệ đồng tính và đã cố quyến rũ các thiếu nữ trong làng. Nhưng có hai người - theo quan điểm của tôi là hai người khôn ngoan hơn cả - nói rằng những lời đồn ấy chỉ là mớ rác rưởi ác tâm. Một bà lão khoảng bảy, tám mươi, và biết họ khá rõ, còn người kia là nguồn tin ban nãy của tôi. Ông ta bảo Anne Cattrell có vô số người tình và cô ta có thể dạy Fiona Richmond vài bài học về việc làm tình nữa kìa.” Anh rút một điếu thuốc ra và châm lửa, rồi liếc nhìn McLoughlin qua làn khói. “Nếu đúng là vậy, thưa sếp, thì nó sẽ đưa đến một góc độ mới đế phá án. Tội ác tình ái, hay bất cứ điều gì mà người Pháp gọi. Tôi có ấn tượng rằng cô ta đã cố hết sức để khiến chúng ta nghĩ mình chỉ hứng thú với phụ nữ. Tại sao thế? Bởi cô ta đã xử một gã tình nhân ghen tuông và không muốn chúng ta tìm ra điểm kết nối ở đây.”
“Kẻ tuồn tin cho cậu toàn nói vớ vấn,” McLoughlin bình luận không buồn kiêng nể. “Mọi người đều biết họ đồng tính. Chết tiệt, tôi vẫn nhớ vài chuyện cười về vụ đó đây này.” Chuyện rằng mấy cửa hàng chuyên bán đồ người lớn còn nhận được tiền tài trợ từ họ nữa. “Khó mà tin được cô nàng Cattrell lại bịa đặt đế lừa chúng ta về việc đó. Và nếu không đúng, tại sao họ phải giả vờ như thế? Họ được lợi gì chú?”
Walsh nhồi thuốc vào tẩu, giọng gay gắt. “Vấn đề của cậu, Andy ạ, là cậu khái quát hoá quá nhiều. Thực tế mà mọi người đều biết chưa chắc đã là sự thật. Ai cũng nghĩ anh tôi là một tên khốn keo kiệt cho đến khi ông ấy qua đời và mọi người phát hiện, ông đã trả hai trăm bảng một năm trong suốt mười lăm năm để tài trợ cho việc ăn học của vài đứa trẻ da đen ở châu Phi.” Ông gật đầu khen ngợi Robinson. “Có lẽ cậu sẽ tìm hiếu được ít nhiều từ đó đấy, Nick ạ. Cá nhân tôi cóc thèm quan tâm xu hướng tình dục của họ là gì, và khách quan mà nói, tôi thấy họ cũng chẳng buồn đếm xỉa những điều người ta nói hoặc nghĩ.” Ông trừng mắt với McLoughlin rồi trầm ngâm châm tẩu. “Điều đó lý giải vì sao họ chẳng bận tâm phủ nhận hay xác nhận điều gì hết. Nhưng tôi rất hứng thú với việc Anne Cattrell đã cố nhồi vào đầu chúng ta vụ đồng tính nữ ngay khi chúng ta bước chân tới đây. Động cơ của cô ta là gì?” Walsh chìm vào im lặng.
Robinson chờ một lúc. “Hãy để tôi thử nói chuyện với cô ta, thưa sếp. Với người mới, cô ta có thể sẽ cởi mở hơn. Cũng có mất gì đâu.”
“Tôi sẽ suy nghĩ về việc đó. Những người khác có tin gì không?”
Một cảnh sát giơ tay lên. “Thưa sếp, hai người tôi tới hỏi chuyện nói, một đêm, họ đã nghe thấy tiếng phụ nữ thổn thức. Nhưng họ không thể nhớ cách đây bao lâu nữa.”
“Hai người cùng nhà à?”
“Không, vậy nên tôi mới nghĩ thông tin này đáng được nhắc tới. Hai nhà khác nhau. Có vài căn nhà ngay trên đường East Deller, gần điền trang. Cả hai người đều nhớ đã nghe thấy tiếng phụ nữ khóc, nhưng họ cho qua vì nghĩ chỉ là một cặp đôi đang giận dỗi nhau. Không ai nhớ chính xác thời điểm.”
“Đến gặp họ thêm lần nữa đi,” Walsh đột ngột cắt ngang. “Cả cậu nữa, Williams. Tìm hiểu xem lúc sự việc xảy ra, họ có đang xem ti vi không, chương trình phát lúc đó là gì, hay họ đang dùng bữa tối? Hoặc nếu họ đã đi ngủ, thì muộn chừng nào, họ có tỉnh giấc vì trời quá nóng, hay bên ngoài đang mưa không? Bất cứ điều gì cho chúng ta manh mối về thời gian và ngày tháng. Nếu không phải cô ta khóc vì vừa giết một người đàn ông thì là bởi vừa chứng kiến cảnh hắn ta bị giết.” Ông loạng choạng đứng dậy và thu gom sổ sách cùng áo khoác. “McLoughlin, cậu đi với tôi. Chúng ta sẽ nói chuyện với bà Thompson. Jones, cậu cùng đội của cậu thu dọn ở đây và đem mọi thứ về sở. Các cậu có thể nghỉ một tiếng. Sau đó, tôi muốn cả đội quay trở lại đây để rà soát ngôi nhà. Các cậu sẽ tìm thấy lệnh khám nhà của toà án trên bàn tôi. Cầm chúng theo.” Ông nói với Jones rồi quay sang Nick Robinson. “Được rồi, chàng trai, cậu sẽ đến và tỉ tê trò chuyện tình dục với cô Cattrell, nhưng đừng để lộ gì cả. Nếu đúng cô ta đã lừa phỉnh chúng ta, tôi muốn làm cho ra lẽ.”
“Cứ giao cho tôi, thưa sếp.”
Walsh nở nụ cười gian xảo hệt như loài bò sát. “Chỉ cần nhớ một điều, Nick ạ. Trước đây, cô ta đối phó với đám đặc vụ dễ như trở bàn tay. Nên cậu cũng chẳng phải dạng ghê gớm gì đâu.”
Cánh cửa mở ra sau ít phút. Người xuất hiện là một phụ nữ nhỏ thó, sầu não, mặc chiếc váy đen dài tay và cài cúc cao đến cổ. Đôi mắt bà ta u buồn và cái miệng nhăn nhúm. Một cây thánh giá bằng vàng trên sợi dây chuyền nằm giữa bộ ngực phẳng lì. Bà ta chỉ cần thêm chiếc mũ nỉ và một cuốn Kinh Thánh để mở là có thể biến thành bức chân dung hoàn hảo của nỗi thống khổ tận cùng rồi.
Walsh chìa thẻ ngành ra. “Bà Thompson phải không?”
Bà ta gật đầu nhưng không buồn nhìn tấm thẻ.
“Tôi là chánh thanh tra Walsh và đây là trung sĩ McLoughlin. Chúng tôi có thể vào được không? Chúng tôi muốn hỏi vài câu về việc chồng bà mất tích.”
Bà Thompson bặm môi lại vẻ khổ sở. “Nhưng tôi đã nói với cảnh sát tất cả những gì tôi biết rồi,” bà thều thào, đôi mắt ầng ậng nước. “Tôi không muốn nghĩ về chuyện đó nữa.”
Walsh thầm than thở trong lòng. Vợ ông chắc hẳn cũng sẽ như thế, nếu lỡ có chuyện gì xảy đến với ông. Không chịu đựng nổi, khóc lóc, kích động. Ông mỉm cười thân thiện. “Chúng tôi sẽ chỉ phiền bà một chút thôi,” ông hứa.
Bất đắc dĩ, bà ta kéo cửa rộng ra và chỉ về phía phòng khách. Dù là phòng khách, nhưng theo McLoughlin cảm nhận thì cách gọi này có vẻ không chính xác lắm. Nơi này sạch đến mức ám ảnh và không có bất cứ thứ gì thể hiện tính cách hoặc dấu ấn cá nhân. Không sách, không đồ trang trí, không tranh ảnh, thậm chí còn không có cả ti vi. Anh ngầm so sánh nó với căn phòng sinh động và đây màu sắc của Anne Cattrell. Nếu cá tính của chủ nhân được thể hiện qua cách bài trí phòng khách, thì anh có thể chắc chắn về chuyện ai là người thú vị hơn. Sống với bà Thompson sẽ giống như sống với một cái vỏ rỗng.
Họ ngồi trên những chiếc ghế sạch bong. Bà Thompson ghé vào mép sofa, vần vò một chiếc khăn ren, chốc chốc lại chấm lên mắt. Walsh rút tẩu khỏi túi áo, liếc quanh căn phòng như thể lúc này mới có thời gian chú ý đến nó, rồi lại cất cái tẩu đi.
“Chồng bà đang đi giày cỡ bao nhiêu?” Ông hỏi.
Bà Thompson mở to mắt, chằm chằm nhìn viên chánh thanh tra như thế ông vừa đưa ra một lời đề nghị khiếm nhã. “Tôi không hiểu,” bà ta thì thầm.
Walsh càng lúc càng thấy khó chịu. Cũng khó trách Thompson dù ông ta có bỏ đi thật. Người phụ nữ này quá lố bịch. “Chồng bà đang đi giày cỡ bao nhiêu?” ông kiên nhẫn hỏi lại.
“Đang?” Bà chủ nhà lặp lại. “Đang ư? Vậy là ông đã tìm thấy chồng tôi rồi sao? Tôi cứ chắc mẩm ông ấy đã mất.” Bà ta đột nhiên tươi tắn hẳn. “Ông ấy mất trí nhớ, phải không? Đó là cách giải thích duy nhất. Ông ấy sẽ chẳng bao giờ rời bỏ tôi đâu, ông biết đấy.”
“Không, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy ông ấy, bà Thompson ạ,” chánh thanh tra kiên quyết nói. “Nhưng bà đã thông báo rằng ông nhà mất tích và chúng tôi đang nỗ lực hết sức để lần ra dấu vết ông ấy. Sẽ giúp ích hơn nhiều nếu chúng tôi biết cỡ giày của ông nhà. Bản báo cáo mất tích nói ông ấy đi giày cỡ 8. Có đúng không?”
“Tôi không biết,” bà Thompson lơ đãng nói. “Ông ấy luôn tự đi mua giày.” Bà ta liếc nhìn Walsh và bất ngờ thay, rụt rè nhoẻn miệng cười.
McLoughlin nhoài người tới trước. “Bà có thể đưa chúng tôi lên tầng không, bà Thompson, và chúng tôi sẽ tìm được con số chính xác qua những đôi giày ông ấy bỏ lại?”
Bà ta co rúm người. “Tôi không thể, tôi không biết cậu. Lần trước là một nữ cảnh sát trẻ cơ mà. Cô ấy đâu? Tại sao cô ấy không ở đây?”
Walsh đếm nhẩm đến mười để cố bình tĩnh lại và chắc mẩm Daniel Thompson hẳn phải là một vị thánh. “Hai người kết hôn bao lâu rồi?” Ông tò mò hỏi.
“Ba mươi hai năm,” bà ta thì thầm.
Người đàn ông đó quả thật từng là một vị thánh, ông nghĩ. “Vậy bà có thể lên đó và mang xuống đây một đôi giày của ông ấy không?” Ông đề nghị. “Trung sĩ McLoughlin và tôi sẽ ở dưới này chờ bà.”
Bà Thompson đồng ý ngay và rời khỏi phòng, đóng sầm cửa lại như thể cánh cửa này bằng cách nào đó sẽ ngăn họ cưỡng bức bà trong phòng ngủ. Walsh nhướng mày. “Bà ta cần đi kiểm tra đầu óc.”
McLoughlin trả lời với vẻ nghiêm túc. “Bà ấy bị bệnh. Có vẻ việc ông chồng mất tích đã khiến bà ấy mất phương hướng. Anh không nghĩ chúng ta nên giúp đỡ bà ấy sao?”
Walsh ngẫm nghĩ. “Có phải cha sở ở cách đây mấy nhà không? Chúng ta sẽ dừng lại một chút trên đường trở về điền trang.”
Họ ngước lên khi cánh cửa lại mở ra và bà Thompson xuất hiện với một đôi giày da đen bóng áp chặt vào ngực. “Cỡ 8, và hẹp bề ngang. Tôi chưa bao giờ nhận ra bàn chân ông ấy nhỏ nhắn đến thế. Ông ấy đâu có thấp, ông biết đấy.”
Bất đắc dĩ, Walsh mở va li và lấy túi nhựa đựng đôi giày nâu ra. Ông đặt lên lòng bàn tay và đưa cho người phụ nữ kiểm tra. “Đây có phải là giày của chồng bà không, bà Thompson? Bà có nhớ chồng bà từng đi đôi giày nào như thế này không?”
Bà ta trả lời dứt khoát. “Chắc chẳn là không rồi. Chồng tôi chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đi giày phối màu như thế cả.”
“Những mảng trắng là do bị dính bùn, bà Thompson ạ, không phải da màu trắng. Đôi giày này vốn chỉ có màu nâu.”
“Ồ.” Bà ta tiến lại gần hơn, ngắm nghía một lúc rồi lắc đầu. “Không, tôi chưa bao giờ nhìn thấy. Chắc chắn không phải giày của Daniel. Ông ấy chỉ có một đôi giày nâu thôi, và đã đi vào cái ngày…” Bà ta nấc khẽ, và chấm mẫu khăn ren đẫm nước lên mắt. “… cái ngày ông ấy biến mất. Một đôi giày Ý đắt tiền mũi nhọn. Không như đôi này. Ông ấy rất quan tâm đến hình thức.”
Walsh đặt đôi giày vào cặp. “Khi khai báo về vụ mất tích, bà cho biết thời gian gần đó, ông ấy có chút lo lắng về chuyện kinh doanh. Chính xác thì là gì?”
Bà Thompson tránh xa Walsh như thể ông vừa cố chạm vào bà. “Daniel sẽ không rời bỏ tôi đâu.”
“Đương nhiên là không rồi, bà Thompson, nhưng áp lực công việc thường khiến người ta hành động bất thường. Có lẽ ông ấy không thể giải quyết các rắc rối nên cần thời gian ở một mình để tự tìm cách vượt qua. Có phải ý bà là vậy không?”
Nước mắt lại tuôn ra như suối, bà Thompson khoác lên mình nỗi tuyệt vọng như một chiếc áo len đã cũ sờn, luôn được mang theo từ thời thơ ấu và cảm thấy thoải mái dù nó xấu xí. Bà ta ngồi sụp xuống sofa. “Việc làm ăn đổ bể,” bà giải thích. “Ông ấy nợ tiền khắp nơi. Trợ lý của ông ấy cố gắng thu xếp nhưng các chủ nợ vẫn tiếp tục gọi điện cho tôi. Tôi chẳng thể làm gì cả. Tôi bảo họ ông ấy chết rồi.”
“Làm sao bà biết?” Walsh dịu dàng hỏi.
“Ông ấy sẽ chẳng bao giờ rời bỏ tôi đâu, một khi ông ấy còn sống”.
Walsh nhìn McLoughlin và hất đầu về phía cửa. Họ đứng dậy. “Cảm ơn vì đã dành thời gian cho chúng tôi, thưa bà Thompson. Còn một điều nữa. Chồng bà có bao giờ đến điền trang Streech hay có giao dịch gì với những người ở đó không?”
Môi bà ta bặm lại giận dữ. “Nơi ở của những ả xấu xa?” Walsh gật đầu. Bà Thompson sờ lên cây thánh giá. “Daniel thà vào hang hùm còn hơn để tội lỗi của họ vấy bẩn tâm hồn.” Bà ta hôn lên cây thánh giá và bắt đầu cởi cúc trên chiếc váy.
“Hẳn rồi,” Walsh lên tiếng với vẻ xấu hổ. “Chúng tôi sẽ tự ra.”
Andy McLoughlin dừng chân nơi cửa phòng khách và quay lại nhìn bà ta. “Chúng tôi sẽ nhờ cha sở đến đây thăm bà, bà Thompson ạ. Nói chuyện với ông ấy có thể giúp bà vơi bớt phần nào.”
Lắng nghe hai viên cảnh sát trình bày nỗi quan ngại, cha sở lộ rõ vẻ hoang mang. “Thành thật mà nói, tôi chẳng thể làm được gì đâu. Tin tôi đi, mọi người trong khu này đều năng lui tới để giúp đỡ bà Thompson rồi. Bác sĩ và nhân viên xã hội cũng sẵn lòng hỗ trợ, nhưng họ đều bó tay nếu chính bà ấy không đề nghị được giúp đỡ về mặt sức khoẻ tâm thần. Bà ấy không điên, ông thấy đấy, không hề điên, năng lực trí óc vẫn bình thường, chỉ là bị trầm cảm thôi. Thực tế, có vẻ bà ấy đã đối mặt với sự cố khá tốt là đằng khác.” Yết hầu của ông nhô lên hạ xuống. “Chỉ khi có người đến thăm, đặc biệt nếu là đàn ông, bà ấy mới hành động… ờ… lạ lùng như thế. Bác sĩ đảm bảo sớm muộn bà ấy cũng sẽ vượt qua được thôi.” Ông siết hai tay. “Sự thật là cả tôi và bác sĩ đều không muốn đến đó nữa. Có vẻ bà ấy đang dần thể hiện chứng cuồng tôn giáo và tình dục rồi. Tôi sẽ bảo vợ tôi đến, dù chân thành mà nói, lần gần đây nhất vợ tôi gặp bà ấy cũng chẳng vui vẻ gì. Bà ấy lu loa rằng đã nhìn thấy tôi trong nhà thờ và trên người chỉ mang mỗi giày với tất.” Yết hầu của ông như dồn lên đến tận cằm. “Người phụ nữ đáng thương. Quả là một bi kịch với bà ấy. Cứ để đó. Tôi đảm bảo rồi bà ấy sẽ chấp nhận sự thật rằng Daniel đã biến mất. Chỉ là vấn đề thời gian thôi. Hẳn phải có cách chứ. Cứ để đó cho tôi.”
Trung sĩ Robinson nhấn chuông cửa ở phần chái nhà của Anne và chờ đợi. Cánh cửa hé mở và một giọng nói vang lên “Mời vào”. Anh bước xuôi đến căn phòng cuối hành lang. Anne đang ngồi bên bàn, cây bút chì gài trên tai, một chân đi bốt gác lên ngăn kéo đế mở và gõ nhịp theo bài hát Jumping Jack Flash* phát ra từ chiếc đài. Cô ngước lên và vẫy anh ngồi vào chiếc ghế trống. “Tôi là Anne Cattrell,” cô nói rồi lấy cây bút chì xuống, bắt đâu sửa lỗi mấy trang bản thảo. Bài viết Cực khoái âm đạo - Sự thật hay tưởng tượng đang được hoàn thiện trên năm tờ A4.
Robinson ngồi xuống và tự giới thiệu. “Trung sĩ Robinson.”
Anne mỉm cười. “Tôi có thể giúp gì cho anh?”
Chết tiệt, anh thầm nghĩ, cô ta rất được - còn hơn cả được. Với mái tóc đen ngắn và đôi mắt to dài, cô khiến anh nhớ tới Audrey Hepburn, trong khi lời kể của McLoughlin lại khiến anh hình dung ra một con mụ xấu xí dị hợm. “Không có gì,” anh nói, “chỉ vài điều hơi nhạy cảm thôi.”
“Cứ nói đi. Tôi để nhạc như vậy liệu có ảnh hưởng không?”
“Không. Đó là một trong những bài yêu thích của tôi,” Robinson thành thật trả lời. “Là thế này, cô Cattrell ạ, cả cô và phần lớn người dân trong làng Streech đều nói rằng cô và các bạn là những người đồng tính.”
“Tiếp đi.”
“Thế nhưng, khi tôi nhắc đến điều đó với ông Clarke ở quán rượu sáng nay, ông ấy đã cười khùng khục và bảo rằng cô chắc chắn là người dị tính, dù lời lẽ có hơi khác với cách diễn đạt của tôi.”
“Chính xác thì ông ta đã nói những gì?” Anne tò mò hỏi.
Anh để ý chiếc gạt tàn đầy ứ trên bàn. “Cô có phiền nếu tôi hút thuốc không, cô Cattrell?”
Cô mời anh một điếu. “Cứ tự nhiên!” và im lặng nhìn anh châm thuốc.
“Ông ấy bảo số người tình của cô còn nhiều hơn cả những bữa tối tôi được ăn nóng sốt,” anh nói nhanh.
Anne cười khúc khích. “Phải, cái câu sáo rỗng đó nghe có vẻ giống Paddy. Thế nên anh muốn biết tôi có đồng tính không, và nếu không thì vì sao tôi lại tạo ra ấn tượng như thế, phải không?” Anh gần như nghe được tiếng trí óc cô đang điên cuồng hoạt động.
“Vì sao một người phụ nữ lại cho người ta lý do khinh miệt mình, trừ phi là để đánh lạc hướng?” Cô chĩa cây bút chì về phía anh. “Hẳn anh nghĩ tôi đã giết một trong những người tình của mình và bỏ hắn ta thối rữa trong hầm trữ đông.” Đôi bàn tay của cô nhỏ và thanh mảnh như tay một đứa trẻ.
“Không,” Robinson đánh bạo nói dối. “Thành thật mà nói, câu trả lời của cô là gì cũng không mấy quan trọng. Chỉ là chúng tôi thắc mắc thôi.” Anh tiếp tục, thử gợi chuyện. “Ngoài ra, tôi lấy được nhiều thông tin chỗ ông Clarke hơn bất cứ ai khác quanh đây, và tôi không tin ông ấy nói dối.
“Anh thông minh đấy,” Anne tán thưởng. “Trong những vấn đề không liên quan đến tình dục, ông ta hiểu biết hơn nhiều so với tất cả người dân ở đây cộng lại.”
“Thế sao?” Anh hỏi.
“Bà vợ có ở đó khi ông ta nói chuyện với anh không?”
Anh lắc đầu. “Cuộc nói chuyện của chúng tôi riêng tư. Ông ấy bảo đã chán ngấy những điều tha… ờ, rác rưởi mà người ta nói về ba cô rồi.”
“Thối tha?” Anne tử tế thêm vào.
“Phải.” Robinson cười toe toét như trẻ con. “Thực ra, tôi đã gặp bà Clarke lúc ra về. Bà ấy làm tôi sợ vãi tè.”
Anne châm thuốc. “Bà ấy từng là một nữ tu xinh đẹp. Sau một lần gặp nhau trong nhà thờ, Paddy đã tìm mọi cách tán tỉnh và thuyết phục bà ấy phá vỡ lời thề với Chúa. Bà vợ chẳng bao giờ tha thứ cho chồng mình vì chuyện đó. Càng có tuổi, bà ấy càng mất dần vẻ duyên dáng và cứ phát tướng lên. Bà ấy nghĩ việc không có con chính là sự trừng phạt của Chúa.”
Vẻ ngạc nhiên của Robinson khiến Anne thích thú.
“Cô lừa tôi đúng không?” Anh không thể tin nổi bà Clarke đã từng xinh đẹp.
Đôi mắt đen của Anne sáng lấp lánh. “Sự thật cả đấy.” Cô phả khói thuốc ra khoảng không. “Mười lăm năm trước, bà ấy đã thiêu Paddy trong ngọn lửa ái tình. Tàn lửa giờ vẫn còn. Thi thoảng bùng lên khi bà ấy quên mất mình là ai, dù Paddy không thể nhìn thấy. Ông ấy chỉ thấy bề ngoài và quên mất rằng chín phần mười vẻ đẹp của bà ấy nằm ẩn sâu bên trong.”
“Cô có thể nói thế về bất cứ ai,” Robinson đáp.
“Anh cũng vậy mà.”
Bài Jumping Jack Flash được thay bằng Mother’s Litter Helper*. Anne nhịp chân theo điệu nhạc mới.
Robinson đợi một lúc nhưng cô không nói tiếp. “Thế thông tin ông Clarke nói về cô có đúng không, cô Cattrell?”
“Về mặt số liệu thì sai, trừ phi mẹ anh chẳng bao giờ chuẩn bị cho anh một bữa tối nóng sốt, nhưng nhìn chung vẫn khá chính xác.”
“Thế tại sao cô lại bảo với trung sĩ McLoughlin rằng mình đồng tính?”
Cô lại ghi chú bằng bút chì lên giấy. “Tôi có nói đâu,” cô không buồn ngẩng lên. “Anh ta chỉ nghe những gì muốn nghe thôi.”
“Cậu ấy không phải người xấu.” Câu nói chẳng hề ăn nhập, và Robinson tự hỏi tại sao mình cần bảo vệ cho McLoughlin cơ chứ. “Gần đây cậu ấy vừa trải qua vài sóng gió.”
Anne nhìn lên. “Anh ta là bạn anh à?”
Robinson nhún vai. “Tôi cho là thế. Cậu ấy giúp đỡ tôi, đứng lên ủng hộ tôi vài lần. Lúc rảnh rỗi, chúng tôi cũng hay đi nhậu với nhau.”
Anne cảm thấy câu trả lời của anh thật đáng thất vọng. Ai lại đi lắng nghe một người đàn ông cần tâm sự chứ? Phụ nữ có bạn bè. Đàn ông dường như chỉ có bạn nhậu mà thôi. “Dù tôi nói ra thì cũng chẳng có gì khác biệt,” cô bảo anh. “Trong trường hợp này, dẫu hàng đêm chúng tôi có ăn nằm với phụ nữ hay đàn ông thì cũng đâu quan trọng gì. Cũng có thể,” cô hướng cây bút chì về phía giá sách, “chúng tôi lên giường đơn giản vì sở thích đọc sách cho nhau nghe lúc ngủ. Khi anh tháo gỡ được vụ giết người, anh sẽ thấy tôi nói đúng thôi.” Cô lại cúi xuống, tiếp tục công việc biên tập.