Theo lệ thường, sáng hôm sau họ tiến hành bơm nước dằn tàu; và kì diệu thay, một lượng dầu không nhỏ đã trào lên theo dòng nước; những thùng chứa dưới hầm hẳn đã bị thủng một lỗ lớn. Sự lo lắng bao trùm, và Starbuck xuống khoang cabin để báo cáo tình hình bất lợi này.[21]
[21] Đối với các tàu săn cá nhà táng có trữ lượng dầu đáng kể trên tàu, việc đưa một đường ống xuống khoang và tưới nước biển lên các thùng chứa là một nhiệm vụ định kỳ nửa tuần một lần; sau đó, tùy theo khoảng thời gian khác nhau, lượng nước này sẽ được bơm ra khỏi tàu. Nhờ vậy, các thùng chứa được giữ cho ẩm ướt và khít chặt; đồng thời qua sự thay đổi của lượng nước bơm ra, các thủy thủ có thể dễ dàng phát hiện bất kỳ sự rò rỉ nghiêm trọng nào ở phần hàng hóa quý giá.
Bấy giờ, từ phía Nam và Tây, tàu Pequod đang tiến gần đến Formosa và quần đảo Bashee, nơi nằm giữa một trong những lối thoát nhiệt đới từ vùng biển Trung Hoa ra Thái Bình Dương. Do đó, Starbuck tìm thấy Ahab với một bản đồ chung về các quần đảo phương Đông được trải rộng trước mặt; cùng một bản đồ riêng biệt khác thể hiện dải bờ biển phía đông dài của các đảo Nhật Bản—Niphon, Matsmai và Sikoke. Với chiếc chân ngà mới trắng như tuyết được tì lên chân bàn có bắt ốc, và trong tay cầm một con dao gấp có lưỡi như chiếc dao tỉa cây dài, lão già kì lạ ấy, với tấm lưng quay về phía cửa hầm tàu, đang nhăn trán và lần giấu những hải trình xưa cũ của mình.
“Ai ở đấy?” Lão nghe tiếng bước chân ngoài cửa nhưng không ngoảnh lại. “Trên boang! Cút đi!”
“Thuyền trưởng Ahab hiểu lầm; là tôi đây. Dầu dưới hầm đang bị rò rỉ, thưa ngài. Chúng ta phải dựng ròng rọc Burton lên và dỡ khoang thôi.”
“Dựng ròng rọc Burton và dỡ khoang ư? Ngay lúc chúng ta sắp đến Nhật Bản đây mà; lại phải dừng tàu ở đây cả tuần để săm soi mấy cái đai thùng mục rữa ấy à?”
“Hoặc là làm thế, thưa ngài, không thì trong một ngày chúng ta sẽ lãng phí số dầu còn nhiều hơn cả lượng ta kiếm được trong cả năm. Những gì chúng ta đã lặn lội đi hai mươi ngàn dặm để lấy thì rất đáng để gìn giữ, thưa ngài.”
“Phải, rất đáng; nếu như chúng ta lấy được nó.”
“Tôi đang nói về số dầu ở dưới hầm, thưa ngài.”
“Còn ta thì chẳng hề nói hay nghĩ gì về điều đó cả. Cút đi! Cứ để nó rò rỉ! Bản thân ta đây cũng đang rò rỉ toàn thân đây này. Phải! Rò rỉ chồng lên rò rỉ! Không chỉ đầy những thùng rủi ro, mà những cái thùng rỉ nước ấy lại nằm trên một con tàu cũng rỉ nước; và đó mới là hoàn cảnh bi đát hơn nhiều so với con tàu Pequod này, hỡi anh bạn. Thế nhưng ta chẳng thèm dừng lại để bịt chỗ rò của mình; bởi vì ai mà tìm được nó trong cái thân tàu ngập chìm sâu thẳm ấy; hay làm sao hy vọng bịt được nó, dẫu có tìm thấy đi chăng nữa, giữa cơn giông bão gầm rú của cuộc đời này? Starbuck! Ta sẽ không cho kéo ròng rọc lên đâu.”
“Các chủ tàu sẽ nói gì đây, thưa ngài?”
“Cứ để các chủ tàu đứng trên bờ biển Nantucket mà gào thét át cả những cơn bão dữ. Ahab thì màng gì chứ? Chủ tàu, chủ tàu á? Cậu cứ lải nhải mãi bên tai ta về mấy tay chủ tàu keo kiệt ấy, cứ như thể bọn chúng là lương tâm của ta vậy. Nhưng nhìn đây này, chủ nhân thực sự duy nhất của bất cứ thứ gì chính là người chỉ huy nó; và hãy nghe cho rõ, lương tâm của ta nằm ở chính cái sống tàu này.—Lên boang!”
“Thuyền trưởng Ahab,” người phó soái với khuôn mặt đỏ bừng lên nói, bước sâu hơn vào khoang cabin, với một sự cả gan mang vẻ cung kính và dè dặt kỳ lạ đến mức dường như không những tìm cách che giấu mọi biểu hiện dù là nhỏ nhất ra bên ngoài, mà ngay trong thâm tâm anh cũng tỏ ra hoài nghi chính mình; “Một người tốt hơn tôi hoàn toàn có thể bỏ qua cho ngài những điều mà anh ta sẽ đủ sức tức giận nếu đó là một người trẻ tuổi hơn; phải, và là một người có cuộc sống hạnh phúc hơn, Thuyền trưởng Ahab.”
“Quỷ tha ma bắt! Ngươi mà cũng dám có gan suy xét đến ta ư?—Lên boang!”
“Không, thưa ngài, xin đừng; tôi khẩn khoản đấy. Và tôi thực sự dám—dám nhẫn nhịn! Chẳng lẽ chúng ta không thể thấu hiểu nhau hơn trước kia sao, Thuyền trưởng Ahab?”
Ahab vớ lấy khẩu súng hỏa mai đã lên đạn từ chiếc giá đỡ (vật dụng quen thuộc trong cabin của hầu hết các tàu săn cá Nam Hải), và chĩa thẳng về phía Starbuck, quát lớn: “Chỉ có một Thượng Đế làm Chúa tể muôn loài trên mặt đất, và chỉ có một Thuyền trưởng làm chủ con tàu Pequod này.—Lên boang!”
Trong một khoảnh khắc, nhìn ánh mắt lóe sáng và đôi gò má bừng bừng lửa giận của người phó soái, suýt chút nữa người ta đã tưởng rằng anh thực sự phải hứng chịu luồng đạn từ nòng súng đang chĩa thẳng vào mình. Thế nhưng, nén lại cảm xúc, anh nửa bình thản đứng thẳng lên, và khi bước ra khỏi khoang, anh dừng lại trong giây lát rồi cất lời: “Ngài đã xúc phạm chứ không phải lăng mạ tôi, thưa ngài; nhưng vì điều đó, tôi không xin ngài phải dè chừng Starbuck; ngài có nghe cũng chỉ cười trừ mà thôi; thế nhưng mong Ahab hãy tự đề phòng chính Ahab; hãy cảnh giác với bản thân ngài đi, lão già kia.”
“Hắn ngày càng gan lì, nhưng dù sao vẫn phải tuân lệnh; một sự gan lì đầy thận trọng đấy chứ!” Ahab lầm bầm khi Starbuck khuất bóng. “Hắn vừa nói gì nhỉ—Ahab hãy đề phòng Ahab—có ẩn ý gì trong đó đây!” Rồi vô thức dùng khẩu súng hỏa mai làm gậy chống, với vầng trán hằn lên những nét đăm chiêu, lão đi lại quanh căn cabin nhỏ; nhưng chẳng mấy chốc, những nếp nhăn dày trên trán lão dãn ra, và cất súng trở lại giá, lão bước lên boang tàu.
“Cậu quả là một anh chàng quá đỗi tốt bụng, Starbuck,” lão khẽ nói với người phó soái; rồi cất cao giọng ra lệnh cho toàn thể thủy thủ đoàn: “Hạ buồm đỉnh và thu gọn các cánh buồm chính, từ mũi đến lái; đảo trục buồm chính lại; dựng ròng rọc Burton lên, và tiến hành dỡ khoang chính.”
Có lẽ thật vô ích khi cố phỏng đoán chính xác vì sao, đối với Starbuck, Ahab lại hành xử như vậy. Đó có thể là một phút lương tâm chợt lóe lên trong lòng lão; hoặc đơn giản chỉ là một sách lược khôn ngoan trong hoàn cảnh ấy, một sách lược tuyệt đối không cho phép xuất hiện dù chỉ là dấu hiệu nhỏ nhất của sự bất tuân công khai, dẫu có thoáng qua đi chăng nữa, ở viên sĩ quan hàng đầu vô cùng quan trọng trên tàu của mình. Dù thế nào đi nữa, các mệnh lệnh của lão vẫn được thi hành; và hệ thống ròng rọc Burton đã được kéo lên.