Sắp đến lúc tốt nghiệp rồi, công tác chuẩn bị cho luận văn tốt nghiệp cũng phải bắt đầu thôi.
Luận văn tốt nghiệp không thể làm qua loa cho có được, nếu xào lại cơm nguội, không chút sáng tạo, kết quả bình thường, không có tính nguyên bản thì tuyệt đối không thể đạt yêu cầu.
Hơn nữa, điểm số được chia thành xuất sắc, khá, trung bình, liên quan trực tiếp đến nơi phân công công tác sau khi tốt nghiệp, không một ai dám lơ là.
Thực ra chọn đề tài luận văn cũng chẳng quan trọng lắm, có khối sinh viên làm luận văn tốt nghiệp về Marx, luận bàn tư tưởng của ông rất ra dáng, vậy mà sau này lại đi làm thuê cho các nhà tư bản lớn.
Giáo sư Ngô là người đặt nền móng cho ngành vật lý điện tử. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ viện Triều, Chí nguyện quân tịch thu được một loại vũ khí kỳ lạ của bọn Mỹ nhưng không biết công dụng của nó. Khi đó Quân ủy đã giao cho Giáo sư Ngô nghiên cứu, mới biết đó là kính nhìn đêm hồng ngoại, có thể nhắm bắn người trong đêm tối.
Ngô Toàn Đắc không những giải mã được bí mật của tia hồng ngoại, mà còn tự chế tạo ra kính nhìn đêm hồng ngoại tương tự, tính ra thì đó là một thành tích đáng nể vào thời điểm bấy giờ.
Lý Hòa chỉ biết ngưỡng mộ và kính phục. Ở thời sau, thứ này chỉ cần một xưởng làm hàng nhái hay xưởng LED bất kỳ cũng làm ra được, nhưng vào thời điểm này, không biết đã phải tốn bao nhiêu tâm huyết, gom góp từng chút một mới thành hình.
Việc tham gia chọn đề tài của giáo sư nào là do phân bổ ngẫu nhiên, lần phân bổ này của Lý Hòa rõ ràng khác hẳn với kiếp trước.
Lý Hòa bị phân về dưới quyền Giáo sư Ngô Toàn Đắc - Chủ nhiệm Bộ môn Vật lý Điện tử, cần phải đến đó để chọn đề tài.
Lý Hòa không biết ai cùng nhóm với mình, nên đành tự mình đến khoa Điện tử tìm Giáo sư Ngô. Gõ cửa bước vào, thấy Giáo sư đang cặm cụi viết gì đó trên bàn.
Lý Hòa đứng bên cạnh một lát, thấy đối phương không có phản ứng gì, đành lên tiếng: "Giáo sư Ngô, em đến để chọn đề tài ạ."
Giáo sư Ngô ngẩng đầu lên nói: "Đề tài nghiên cứu sao lại là ta đưa cho các em? Đề tài là do các em đọc sách mà đúc kết được, rồi tự mình hệ thống hóa các kiến giải ra. Nếu ta mà có đề tài hay, tại sao ta không tự viết? Lại nhường cho các em?"
Lý Hòa biết tính khí ông già này, hay nói thẳng, đành bất lực đáp: "Chẳng phải đây là thông lệ của trường sao ạ, nếu em được tự làm chủ, em chắc chắn sẽ tự cho mình điểm xuất sắc."
Giáo sư Ngô bỗng cười bảo: "Trong lớp ta lúc nào em cũng ngủ gật, nếu không phải vì thấy em học cũng khá, thì ngày nào ta cũng treo em lên mà mắng. Giải tích cao cấp của em cũng khá, sao không nghĩ đề tài về các môn liên ngành, ví dụ như phương trình phát triển một loại và biến dạng phổ, ánh xạ nén, những cái này đều cần đến giải tích cao cấp để giải quyết."
Lý Hòa không nhịn được mà đưa tay lau mồ hôi lạnh trên trán. Đây toàn là những cái hố khổng lồ, dù em có biết kết luận thì không có lượng lớn dữ liệu thực nghiệm chi tiết cũng vô dụng, cũng chẳng viết nổi. Điều này có nghĩa là mình phải ở trong phòng thí nghiệm một hai tháng, trước khi tốt nghiệp khỏi làm gì được nữa.
Cậu vội vàng hỏi: "Thật sự có thể tự chọn đề tài luận văn sao ạ?"
"Đương nhiên, ta lừa em làm gì? Nhưng đề tài em viết phải được ta đồng ý mới được." Để Lý Hòa tự chọn đề tài thật, cậu lại đâm ra do dự.
Lý Hòa tự tin nói: "Đề tài của em là Nghiên cứu động lực học phóng hệ thống pháo phản lực."
Giáo sư Ngô nghi hoặc hỏi: "Đề tài này lớn lắm, viết không tốt là trượt đấy, em nghĩ kỹ chưa?"
Lý Hòa gật đầu, đây là nghề cũ của mình, không dám nói là xuất sắc nhưng chắc chắn làm không tệ, cậu đáp thẳng: "Em nghĩ kỹ rồi, chính là đề tài này, em không đổi nữa."
Lý Hòa chọn đề tài này cũng là để bù đắp sự nuối tiếc của bản thân. Kiếp này chưa chắc có cơ hội gặp lại đồng nghiệp cũ, bạn bè cũ, nhưng cũng chẳng cản trở việc mình lặng lẽ đóng góp chút sức lực. Nhớ năm 83, mình vừa mới đi làm, lúc đó Giải phóng quân đang đấu pháo phản lực với người Việt Nam ở biên giới, Tổng tham mưu đã hạ nhiệm vụ phải phát triển thế hệ pháo phản lực mới thích ứng với nhu cầu chiến trường.
Thời đó, những người mới như cậu đều mệt đến mức không thẳng nổi lưng, thậm chí còn trẻ mà đã mắc bệnh dạ dày một thời gian, huống chi là những nhà nghiên cứu năm sáu mươi, thậm chí bảy tám mươi tuổi.
Đánh giá một loại đạn pháo phản lực có tiên tiến hay không, chủ yếu có ba chỉ tiêu: tầm bắn, độ chính xác, và uy lực.
Khi đó nghiên cứu muôn vàn khó khăn, không biết đã mở bao nhiêu cuộc họp nghiên cứu. Đơn giản nhất là vỏ động cơ đạn pháo phản lực rắn, dùng thép ống không mối hàn nhập khẩu từ bọn Nga ngố, cả trong lẫn ngoài đều cần phải gia công tiện. Loại thép này vừa cứng vừa dai, rất khó gia công, làm bao nhiêu người lo lắng đến bạc cả tóc.
Một đám người gần như ăn ngủ ngay bên cạnh máy tiện. Lý Hòa lúc đó là kẻ độc thân nên cũng chẳng sao, cơ thể cũng chịu đựng được, nhưng có nhiều người đều là gia đình con cái đề huề, sức khỏe lại không tốt, phải cắn răng mà trụ lại. Nghĩ đến đây, Lý Hòa lại cảm khái vô cùng.
Chính sự kiên trì khổ sở của nhóm người này mới khiến pháo phản lực Trung Quốc sau này phát triển đến mức tột cùng, đúng là "tang tâm bệnh cuồng", khiến người ta phải kinh hãi. Trong lĩnh vực này, người Trung Quốc nhận mình là thứ hai, thật sự không ai dám nhận là thứ nhất.
Tiết chính trị từng có một chương như thế này, gọi là gì mà tính chủ quan năng động của con người ấy.
Giải thích thô thiển một chút thì chính là "điêu ti" nếu nỗ lực thì cũng có thể nghịch tập. Ví dụ như không tiền không xe không nhà, có cha có mẹ, nhưng chỉ cần cần cù phấn đấu chịu khó làm lụng, thì chưa chắc đã kết thúc trong cảnh "hỷ đương điệt" (vui vẻ làm cha người khác). Những ví dụ như vậy đã diễn ra trên thân của pháo phản lực Trung Quốc, vậy mà lại làm nên loại pháo phản lực bá đạo nhất thế giới.
Một gã nghèo kiết xác lại lật ngược thế cờ với bọn cao phú soái, thật sự không thể tưởng tượng nổi.
Cuối cùng, nhiều loại pháo phản lực kiểu cũ sửa sang một chút là bắt đầu đem bán kiếm tiền, bán chạy khắp thế giới.
Lý Hòa chuẩn bị bài luận văn này chú trọng vào phân tích động lực học phóng và nghiên cứu trọng lượng nhẹ cấu trúc pháo phản lực, thực ra chính là bám sát thông số của pháo phản lực kiểu 89.
Còn về loại pháo phản lực 40 nòng bánh lốp tiên tiến hơn phía sau thì khỏi cần nghĩ tới, những cái này đã liên quan đến hệ thống điều khiển tự động, bao gồm thiết bị định hướng, máy tính chuyên dụng, cảm biến, phần mềm... hiện tại không có điều kiện đó.
Giáo sư Ngô thấy Lý Hòa kiên trì như vậy liền lấy một tờ bảng biểu ra, viết tên Lý Hòa và tiêu đề luận văn lên, rồi bảo: "Em cứ làm đề cương cho ta xem trước đã, nếu không viết nổi thì trước khi bảo vệ vẫn còn cơ hội đổi đề tài, chứ không thì không kịp đâu."
Khoảng thời gian tiếp theo Lý Hòa đều bắt đầu đến thư viện viết luận văn. Viết luận văn đối với sinh viên bình thường có thể cần vài tháng, nếu không thì căn bản chẳng viết ra được nội dung thực chất nào.
Nhưng đối với Lý Hòa mà nói, việc viết nội dung chẳng có chút khó khăn nào, cậu làm quen tay, sửa tới sửa lui ba bốn lượt, cũng chỉ mất một tuần là viết xong hơn bốn vạn chữ.
Nhưng điều khiến cậu phiền nhất chính là việc sắp xếp danh mục tài liệu tham khảo, từ luận văn tài liệu, tài liệu tham khảo là thứ bắt buộc phải có.
Người khác viết luận văn đều là bước một tìm kiếm tài liệu, bước hai mới là soạn thảo luận văn, còn các bước viết lách của cậu thì làm ngược lại với người ta.
Thư viện vẫn theo kiểu thẻ thủ công truyền thống, tìm tài liệu tạp chí phiền phức vô cùng, nhất là tài liệu tiếng nước ngoài.
Nhưng khi Lý Hòa đang khổ sở tìm tài liệu trong thư viện, một anh bạn khoa Ngôn ngữ học bên cạnh dường như còn đau khổ hơn, hai người ngồi cạnh nhau vài ngày nên cũng dần quen biết.
Lý Hòa đùa giỡn hỏi: "Các cậu học ngôn ngữ à, thật giỏi quá, biết mấy thứ tiếng rồi? Konnichiwa, Sawasdee, Arigato?"
Chàng trai liếc trắng mắt, gắt gỏng: "Nói với cậu bao nhiêu lần rồi, tôi là Ngôn ngữ học! Không phải là học ngôn ngữ."
"Quả nhiên là thế, vẽ sơ đồ cây phân tích cấu trúc câu là việc hạnh phúc nhất trên đời đúng không!", Lý Hòa nhìn đống "bùa chú" loằng ngoằng kia, phải đạt đến cảnh giới nào mới ngộ ra được vẻ đẹp cấu trúc ấy đây! (Còn tiếp.)