
Khoảng bốn giờ chiều. Cảnh tượng diễn ra ngay bên ngoài tường thành London. Một ngày mát mẻ, dễ chịu, tuyệt vời, nắng vàng rực rỡ; cái kiểu ngày làm người ta muốn sống chứ chẳng muốn chết. Đám đông thì đông đúc kinh người và trải dài tít tắp; thế mà mười lăm thằng khốn khổ chúng tôi chẳng có nổi lấy một người bạn trong đó. Cảm giác đó mới đau xót làm sao, dù có nhìn theo cách nào đi nữa. Chúng tôi cứ ngồi đó, trên cái giàn giáo cao vút, làm bia đỡ đạn cho sự căm ghét và chế giễu của tất thảy kẻ thù. Chúng tôi đang được biến thành một chương trình giải trí ngày lễ. Họ dựng cả một khán đài hoành tráng cho tầng lớp quý tộc và thượng lưu, và họ đang ở đó đầy đủ cả, cùng với các quý bà của mình. Chúng tôi nhận ra kha khá người trong số đó.

Đám đông nhận được một tràng tiêu khiển ngắn ngủi bất ngờ từ phía nhà vua. Ngay khi chúng tôi vừa được tháo trói, ngài liền chồm dậy trong bộ giẻ rách tả tơi, gương mặt bầm dập chẳng còn nhận ra nổi, rồi dõng dạc tuyên bố mình là Arthur, Vua nước Anh, đồng thời đe dọa những hình phạt khủng khiếp của tội phản quốc lên đầu bất cứ kẻ nào có mặt ở đó nếu một sợi tóc trên cái đầu thiêng liêng của ngài bị đụng đến. Ngài ngạc nhiên và sửng sốt khi thấy họ phá lên cười như sấm dậy. Điều đó làm tổn thương lòng tự trọng của ngài, và ngài tự giam mình trong sự im lặng. Rồi, mặc cho đám đông nài nỉ ngài nói tiếp, và cố kích bác ngài bằng những tiếng huýt sáo, chế nhạo, và gào thét:
“Cho lão nói đi! Nhà vua! Nhà vua! Các hạ dân hèn mọn của lão đang đói khát những lời vàng ngọc thốt ra từ miệng vị Bệ hạ Rách Rưới Cao quý của chúng ta kìa!”
Nhưng chẳng ăn thua gì. Ngài khoác lên mình tất cả sự uy nghiêm rồi ngồi đó, bất động dưới cơn mưa khinh miệt và sỉ nhục. Ngài quả thực rất vĩ đại theo cách riêng của mình. Một cách đãng trí, tôi tháo băng trắng ra và quấn nó quanh cánh tay phải. Khi đám đông chú ý đến điều này, họ bắt đầu nhắm vào tôi. Họ nói:
“Chắc hẳn gã thủy thủ này là đại thần của lão—nhìn cái phù hiệu chức vụ đắt tiền của hắn kìa!”
Tôi cứ để mặc họ cho đến khi họ chán, rồi tôi mới lên tiếng:
“Đúng vậy, ta là đại thần của ngài, là Sếp đây; và ngày mai các ngươi sẽ được nghe những điều từ Camelot mà—”
Tôi chưa kịp nói hết câu. Họ đã nhấn chìm tôi trong những tiếng cười cợt khoái trá. Nhưng chẳng bao lâu sau thì im lặng hẳn; vì các vị cảnh trưởng London, trong bộ lễ phục chính thức, cùng các thuộc hạ, bắt đầu làm mấy động tác cho thấy công việc chuẩn bị bắt đầu. Trong bầu không khí tĩnh lặng theo sau đó, tội danh của chúng tôi được xướng lên, lệnh tử hình được đọc, rồi tất cả mọi người bỏ mũ xuống trong khi một vị linh mục lầm rầm cầu nguyện.
Rồi một nô lệ bị bịt mắt; đao phủ tháo dây thừng. Con đường bằng phẳng trải dài dưới chân chúng tôi, chúng tôi ở một bên, đám đông lố nhố vây kín bên kia—một con đường quang đãng, sạch sẽ, được cảnh sát giữ trống—sẽ tuyệt vời biết bao nếu thấy năm trăm kỵ binh của tôi phi ngựa ầm ầm lao đến! Nhưng không, điều đó bất khả thi. Tôi dõi theo sợi chỉ mỏng manh của con đường kéo dài ra xa—chẳng thấy bóng dáng kỵ sĩ nào, cũng chẳng có dấu hiệu nào cả.

Có một cú giật, gã nô lệ treo lủng lẳng; lủng lẳng và quằn quại kinh hãi, vì chân tay hắn không hề bị trói.
Một sợi dây thứ hai được tháo ra, chỉ trong chốc lát một nô lệ khác đã treo lủng lẳng.
Trong một phút, nô lệ thứ ba đang giãy giụa giữa không trung. Thật khủng khiếp. Tôi quay đầu đi một lát, và khi quay lại thì không thấy nhà vua đâu nữa! Họ đang bịt mắt ngài! Tôi tê liệt; tôi không thể cử động, tôi nghẹn đắng, lưỡi tôi cứng đờ. Họ bịt mắt ngài xong, dẫn ngài đến dưới sợi dây thừng. Tôi không thể rũ bỏ sự bất lực đang bám riết lấy mình. Nhưng khi thấy họ quàng thòng lọng vào cổ ngài, mọi thứ trong tôi như vỡ òa và tôi lao đến giải cứu—và ngay khi lao đi, tôi liếc nhìn ra xa thêm một lần nữa—lạy Chúa tôi! họ đây rồi, đang lao đến!—năm trăm hiệp sĩ mặc giáp, đeo thắt lưng đang đi xe đạp!
Cảnh tượng hoành tráng nhất từng thấy. Lạy Chúa, những chùm lông vũ bay phấp phới, ánh mặt trời chói lòa, lấp lánh phản chiếu từ đoàn xe đạp chằng chịt nan hoa nối đuôi nhau bất tận!
Tôi vẫy cánh tay phải khi Launcelot lao tới—ngài nhận ra mảnh vải của tôi—tôi xé toạc thòng lọng và băng quấn, rồi hét lớn:
“Quỳ xuống hết mau, lũ khốn, và chào nhà vua đi! Kẻ nào dám không làm, đêm nay sẽ phải ăn tối dưới địa ngục đấy!”
Tôi luôn dùng cái giọng cao sang đó khi đẩy kịch tính lên cao trào. Chà, thật là oai phong khi thấy Launcelot cùng đám thanh niên tràn lên cái giàn giáo đó rồi tống cổ mấy tay cảnh trưởng và đám tương tự xuống dưới. Và cũng thật sướng mắt khi thấy đám đông kinh ngạc đó quỳ rạp xuống, cầu xin sự sống từ chính nhà vua mà họ vừa mới chế giễu, sỉ nhục. Và khi ngài đứng đó, riêng một góc, đón nhận lòng tôn kính trong bộ đồ rách rưới, tôi tự nhủ, chà, thực ra phong thái và dáng vẻ của một vị vua quả có cái gì đó vô cùng vĩ đại, xét cho cùng thì là vậy.
Tôi vô cùng thỏa mãn. Nhìn lại toàn bộ tình huống, đây là một trong những màn trình diễn phô trương nhất mà tôi từng dàn dựng.
Và lát sau, Clarence xuất hiện, chính cậu ta! nháy mắt, rồi nói rất ra dáng thời nay:
“Bất ngờ ghê ha? Em biết là anh sẽ thích mà. Em đã cho đám trẻ luyện tập vụ này lâu rồi, bí mật đấy; chúng đang đói khát cơ hội để thể hiện đây mà.”
