
Tôi, Clarence, phải chắp bút cho ngài ấy. Sếp đề nghị hai chúng tôi ra ngoài xem có giúp được gì cho những kẻ bị thương hay không. Tôi ra sức ngăn cản kế hoạch này. Tôi bảo rằng nếu quân địch đông, chúng ta cũng chẳng giúp được mấy, vả lại, dại dột lắm mới chui đầu vào giữa vòng vây của chúng. Thế nhưng, đã quyết điều gì là Sếp ít khi đổi ý; vậy nên chúng tôi ngắt dòng điện ở hàng rào, dắt theo đội hộ tống, trèo qua những bức tường thành bằng xác các hiệp sĩ, rồi tiến ra bãi chiến trường. Gã bị thương đầu tiên cầu xin sự giúp đỡ đang ngồi tựa lưng vào một đồng đội đã chết. Khi Sếp cúi xuống hỏi han, gã nhận ra ngài và đâm ngài một nhát. Gã hiệp sĩ đó là Ngài Meliagraunce, tôi phát hiện ra sau khi giật tung chiếc mũ sắt của hắn. Chắc chắn gã sẽ chẳng còn cơ hội cầu xin ai nữa đâu.
Chúng tôi khiêng Sếp vào hang và hết lòng chăm sóc vết thương cho ngài, cũng may là không nghiêm trọng lắm. Trong công việc này, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ của Merlin, dù lúc đó chẳng ai hay biết. Lão cải trang thành một bà già, trông như một mụ nông dân quê mùa, hiền lành. Với khuôn mặt bôi nâu và cạo nhẵn nhụi, lão xuất hiện vài ngày sau khi Sếp bị thương, nài nỉ xin được nấu nướng cho chúng tôi, bảo rằng dân làng của mụ đã bỏ đi theo mấy trại lính mới của quân địch, còn mụ thì đang chết đói. Sếp đã hồi phục khá tốt, ngài thường giết thời gian bằng cách hoàn thiện nốt bản ghi chép của mình.
Có mụ ta giúp, chúng tôi thấy nhẹ nhõm hơn hẳn vì cũng đang thiếu người. Bạn thấy đấy, chúng tôi đang mắc kẹt trong một cái bẫy—cái bẫy do chính mình giăng ra. Cứ ở yên trong này thì lũ xác chết sẽ giết sạch chúng tôi; còn nếu ra khỏi hàng rào phòng thủ, chúng tôi sẽ chẳng còn là kẻ bất bại nữa. Chúng tôi đã chiến thắng; nhưng giờ đây, đến lượt chúng tôi lại bị khuất phục. Sếp hiểu điều đó; tất cả chúng tôi đều hiểu. Nếu có thể đến một trong những trại lính mới đó để thỏa hiệp với quân địch—vâng, thì Sếp không đi được, mà tôi cũng chẳng xong, vì tôi là một trong những người đầu tiên đổ bệnh do không khí độc hại bốc ra từ hàng ngàn xác chết kia. Rồi những người khác cũng ngã xuống, cứ thế, cứ thế. Ngày mai...
Ngày mai. Nó đã tới rồi. Và đi cùng với nó là hồi kết. Khoảng nửa đêm, tôi thức giấc và thấy mụ già ấy đang thực hiện những động tác kỳ quặc trong không khí quanh đầu và mặt của Sếp, tôi tự hỏi chuyện quái gì đang xảy ra. Mọi người, trừ gã trực máy phát điện, đều đang chìm trong giấc ngủ; xung quanh im phăng phắc. Mụ ta ngưng cái trò ma thuật nhảm nhí đó lại, rồi rón rén bước về phía cửa. Tôi quát lên:
“Dừng lại! Mụ làm cái trò gì đấy?”
Mụ khựng lại, rồi thốt lên với chất giọng đầy thỏa mãn nham hiểm:
“Các ngươi từng là kẻ chiến thắng; giờ các ngươi đã bị khuất phục! Những kẻ khác đang chết dần—cả ngươi nữa. Tất cả các ngươi sẽ chết ở nơi này—từng người một—trừ hắn. Hắn đang ngủ... và sẽ ngủ suốt mười ba thế kỷ. Ta là Merlin!”
Sau đó, lão ta lên cơn cười sằng sặc một cách ngớ ngẩn, loạng choạng như kẻ say rượu, rồi bất ngờ lao sầm vào một trong những sợi dây điện của chúng tôi. Cái miệng lão vẫn đang ngoác ra; hình như lão vẫn còn đang cười. Tôi đoán cái bản mặt đó sẽ giữ nguyên nụ cười hóa đá ấy cho tới khi cái xác biến thành bụi.
Sếp chẳng hề nhúc nhích—ngủ như một hòn đá vậy. Nếu hôm nay ngài không tỉnh dậy, chúng tôi sẽ hiểu đó là loại giấc ngủ gì, và khi ấy, thi hài ngài sẽ được đưa tới một góc hẻo lánh nào đó trong hang, nơi chẳng ai tìm thấy để mạo phạm. Còn chúng tôi—à thì, tất cả đã thỏa thuận rằng nếu bất cứ ai trong chúng tôi thoát khỏi nơi này, người đó sẽ viết lại sự thật vào đây, và trung thành giấu tập Bản thảo này cùng với Sếp, vị thủ lĩnh đáng kính của chúng tôi, dù ngài còn sống hay đã mất, vì đây là tài sản của ngài.

HẾT BẢN THẢO

VĨ THANH CUỐI CÙNG CỦA M.T.
Trời đã hửng sáng khi tôi đặt tập Bản thảo xuống. Cơn mưa gần như đã tạnh, thế gian xám xịt và buồn bã, cơn bão kiệt sức đang thút thít, nức nở trước khi chìm vào giấc ngủ. Tôi đi tới phòng của người lạ, lắng nghe ở cửa, cánh cửa đang khép hờ. Tôi nghe thấy tiếng anh ta, nên tôi gõ cửa. Không có tiếng trả lời, nhưng tôi vẫn nghe thấy tiếng nói. Tôi hé nhìn vào. Anh ta nằm ngửa trên giường, lảm nhảm đứt quãng nhưng đầy vẻ kích động, đôi tay khua khoắng không ngừng, bồn chồn như những người bệnh đang trong cơn mê sảng. Tôi rón rén bước vào và cúi xuống nhìn anh ta. Những lời thì thầm và kêu than của anh vẫn tiếp tục. Tôi lên tiếng—chỉ một lời thôi, để thu hút sự chú ý của anh. Đôi mắt lờ đờ và khuôn mặt tái nhợt của anh bỗng chốc bừng sáng vì vui sướng, biết ơn, hạnh phúc, chào đón:

“Ồ, Sandy, cuối cùng thì em cũng đến—anh đã mong chờ em biết bao! Ngồi cạnh anh đi—đừng rời bỏ anh—đừng bao giờ rời xa anh nữa nhé, Sandy, không bao giờ nữa. Tay em đâu?—đưa cho anh nào, cưng, để anh nắm lấy nó—đấy—giờ thì mọi chuyện đều ổn cả, mọi sự đều bình yên, và anh lại thấy hạnh phúc rồi—chúng mình lại hạnh phúc rồi, phải không Sandy? Em mờ ảo quá, mơ hồ quá, em chỉ là một làn sương, một đám mây, nhưng em đang ở đây, và thế là quá đủ đầy phước lành rồi; và anh đang nắm tay em đây; đừng rút tay ra nhé—chỉ một chút thôi mà, anh sẽ không giữ lâu đâu... Có phải đứa trẻ đó không?... Alo-tổng đài!... cô ấy không trả lời. Có lẽ đang ngủ chăng? Khi nào cô ấy dậy thì mang con bé đến đây, để anh được chạm vào tay, vào mặt, vào tóc con, rồi nói lời tạm biệt... Sandy! Ừ, em vẫn ở đó. Anh vừa lạc mất một lúc, cứ tưởng em đi mất rồi... Anh ốm lâu chưa nhỉ? Chắc là lâu lắm rồi; với anh, cảm giác như đã mấy tháng trời ấy. Và những giấc mơ nữa! Những giấc mơ thật lạ lùng và kinh khủng, Sandy! Những giấc mơ chân thực như đời thực—tất nhiên là mê sảng thôi, nhưng sao mà thật quá! Trời đất, anh cứ tưởng nhà vua đã băng hà, tưởng em đang ở Gaul mà không về được, tưởng có một cuộc cách mạng nổ ra; trong cơn cuồng loạn kỳ quái của những giấc mơ ấy, anh tưởng rằng Clarence, anh và một nhóm học viên của mình đã chiến đấu và tiêu diệt toàn bộ giới hiệp sĩ của nước Anh! Nhưng đó vẫn chưa phải là điều lạ lùng nhất. Anh cứ như một sinh vật đến từ thời đại xa xôi chưa được sinh ra, tận nhiều thế kỷ sau này, mà điều đó cũng chân thực y như những chuyện khác! Vâng, dường như anh đã bay ngược từ thời đại đó trở về thời của chúng ta, rồi lại bay tới đó, và bị bỏ lại, một kẻ xa lạ cô độc trong nước Anh kỳ lạ kia, với vực thẳm của mười ba thế kỷ ngăn cách anh với em! giữa anh với mái nhà và bạn bè! giữa anh với tất cả những gì anh trân quý, tất cả những điều khiến cuộc đời này đáng sống! Thật kinh khủng—kinh khủng hơn tất cả những gì em có thể tưởng tượng, Sandy ạ. À, hãy canh chừng anh, Sandy—đừng rời xa anh một giây phút nào—đừng để anh mất trí thêm lần nữa; cái chết chẳng là gì cả, cứ để nó đến, nhưng đừng với những giấc mơ đó, đừng với sự tra tấn của những giấc mơ gớm ghiếc ấy—anh không thể chịu đựng thêm lần nào nữa đâu... Sandy?...”
Anh ta nằm lảm nhảm những điều không mạch lạc một lúc lâu; rồi sau đó nằm im lìm, dường như đang dần lìa xa cõi đời. Một lát sau, những ngón tay anh bắt đầu cử động, bứt rứt trên tấm chăn, và qua dấu hiệu đó, tôi biết hồi kết đã cận kề. Với tiếng khò khè đầu tiên của tử thần trong cổ họng, anh hơi chồm dậy, dường như đang lắng nghe: rồi anh nói:
“Tiếng kèn?... Là nhà vua! Cầu kéo đâu! Vào vị trí chiến đấu!—tất cả ra...”
Anh đang cố gắng thực hiện "hiệu ứng" cuối cùng của mình; nhưng anh chưa bao giờ hoàn thành được nó.
