Palomar có cái may này: hưởng hè ở một nơi có nhiều tiếng chim hót. Khi anh ngồi trên cái ghế bố và “làm việc” (thật ra anh còn có một cái may khác: anh có thể nói, mình đang làm việc ở những nơi và trong các tư thế thích hợp cho việc nghỉ ngơi hoàn toàn; hay đúng hơn, anh đang phải gánh chịu cái bản án này: cảm thấy bị buộc không được ngưng làm việc, ngay cả trong lúc nằm dài dưới những gốc cây vào một buổi sáng tháng tám), những con chim khuất bóng trên các nhành cây trình tấu cho anh nghe một trong những danh mục biểu hiện âm thanh đa dạng nhất, chụp lên anh một không gian âm học bất quy tắc, gián đoạn, chấm phá sắc cạnh, nhưng trên một cái nền cân đối giữa các âm khác nhau, không âm nào trội hơn âm kia về cường độ hoặc tần số, và tất cả các âm đan kết thành một mạng đồng nhất, gắn bó không phải bằng hòa âm mà bằng tính thanh thoát và trong suốt. Cho đến giờ cao điểm của cái nóng, khi vô số côn trùng hăng hái áp đặt sự khống chế tuyệt đối của chúng bằng chuyến rung láy chấn động không khí, chiếm giữ có hệ thống thời gian và không gian qua tiếng réo bồi inh ỏi và huyên thuyên của những con ve sầu.
Tiếng hót bầy chim có phần thay đổi tùy theo sự chú ý thính giác của Palomar: lúc thì anh xa xôi như một thành tố của cái nền trầm lặng lẽ, lúc thì anh chú tâm phân biệt điệu thức này với điệu thức kia, kết hợp chúng trong những thể loại ngày càng phức tạp hơn: chíp chíp ở dạng cấu trúc chấm, láy rền giữa hai nốt một ngắn một dài, huýt ngắn, rung rung, ục ục, những đợt thác nho nhỏ, lúc đổ lúc ngừng, nối đuôi tuôn những nốt nhạc; các chuyển cung xoắn tít, ngả ập trên chính chúng; cứ thế và cứ thế cho đến khi thật là ríu rít líu lo.
Về một sự phân loại ít chung chung hơn, Palomar không đạt: anh không thuộc dạng người khi nghe một tiếng chim hót là có thể nhận ra tiếng hót ấy thuộc loại chim nào. Anh thấy cái dốt của mình như một cái tội. Cái biết mới mà loài người đang thu thập không thể bù đắp cho cái biết được phổ biến chỉ qua sự trực tiếp truyền miệng, mà một khi mất đi thì không thể tìm lại và tiếp tục lưu truyền: không quyển sách nào có thể dạy những điều chỉ có thể học khi còn thơ ấu, lúc bạn chú tâm lắng tai để mắt vào điệu hót đường bay của các con chim, và lúc bạn tìm được ai đó kịp thời biết đặt cho chúng một cái tên. Thay vì trau dồi sự chính xác danh pháp và chia loài, Palomar lại thích thường xuyên đeo đuổi sự chính xác không thể chắc, khi định nghĩa cái uốn giọng chuyển cung, cái óng ánh âm sắc, cái tạp hợp điệu thức: tức là cái không thể xác định. Lúc này, hẳn là anh đã chọn điều ngược lại, rồi nương theo dòng suy tưởng được tỉnh thức qua tiếng hót bầy chim, anh thấy đời mình hình như là một chuỗi nối tiếp những cơ duyên lỡ làng.
Giữa tiếng ríu rít của bầy chim, giọng hót chim sáo tách biệt hẳn ra, không thể lẫn với các loài chim khác. Những con chim sáo đến vào bóng xế chiều nay là hai con, chắc chắn là một cặp, có thể cùng cặp của năm ngoái, như mọi năm vào mùa này. Mỗi chiều, khi nghe một tiếng hót gọi nhau, cất lên qua hai nốt, như thể của một người muốn báo là mình vừa đến, Palomar ngẩng đầu tìm quanh xem ai đã gọi anh; rồi chợt nhớ là đã đến giờ của các con sáo. Chẳng mấy chốc anh nhận ra chúng: chúng đang bước đi trên cỏ, như thể thiên chức thực của chúng là của loài động vật hai chân và chúng đang vui sướng thiết lập một sự tương đồng với con người.
Tiếng huýt con chim sáo có cái này đặc biệt: giống hệt tiếng huýt của người, của một người không thật khéo khi huýt, nhưng lại tìm được lí lẽ để huýt, một lần, chỉ một lần thôi, mà không có ý tiếp tục, và họ thực hiện với một vẻ dứt khoát nhưng khiêm tốn và nhã nhặn, như thể để bảo đảm niềm phúc lạc cho người lắng nghe tiếng huýt ấy.
Sau một chút, tiếng huýt lặp lại - từ cùng một con sáo hoặc từ con sáo bạn đời - nhưng luôn luôn như thể đây là lần đầu mà con sáo nảy ra ý muốn huýt. Nếu đúng là một mẩu đối thoại, thì mỗi lời đối đáp hệt như được buông ra sau một suy ngẫm dài. Nhưng có phải đây là một mẩu đối thoại, hay mỗi con sáo chỉ huýt cho chính nó mà không cho con kia? Thế rồi, trong bất kì trường hợp nào, liệu chúng có phải là những câu hỏi và những câu trả lời (cho con sáo kia hoặc cho chính nó), hay chỉ là sự khẳng định lại cái điều gì đó vốn luôn là thế (sự góp mặt của chính con sáo, sự tùy thuộc vào một chủng loại, một giới tính, một lãnh thổ) hay không? Có lẽ cái giá trị của lời phát biểu đơn nhất này là ở chỗ nó được một cái mỏ lập lại tiếng huýt, là ở chỗ nó không bị bỏ quên trong cái quãng lặng giữa hai tiếng huýt.
Hoặc giả, toàn thể cuộc đối thoại là để nói cho con sáo kia rằng “tớ ở đây”, và độ dài của quãng lặng là để thêm vào câu huýt cái ý nghĩa của một sự “vẫn thế”, để bảo rằng: “tớ vẫn ở đây, tớ vẫn là tớ”. Rồi giả dụ rằng ý nghĩa của thông điệp là ở cái quãng lặng chứ không phải ở tiếng huýt thì làm sao? Vậy thì chính sự yên lặng mới là cái mà các con sáo nói chuyện với nhau à? (Tiếng huýt, trong trường hợp này chỉ là tín hiệu của một cách chấm câu, của một công thức kiểu “xong rồi, tiếp đi chứ”). Một yên lặng, bề ngoài giống một yên lặng khác, có thể biểu đạt hàng trăm ý khác nhau; giống như một tiếng huýt cũng vậy. Chuyện trò bằng yên lặng hoặc bằng tiếng huýt luôn luôn là chuyện khả đĩ; vấn đề là hiểu nhau. Hoặc có lẽ chẳng ai có thể hiểu ai: mỗi con sáo tin rằng nó đã để vào tiếng huýt một ý nghĩa cơ bản cho nó, chỉ có nó là hiểu; còn con sáo kia chỉ đáp lại điều gì đó chẳng chút liên hệ gì với điều con sáo trước đã nói; một cuộc đối thoại giữa hai kẻ điếc, một cuộc chuyện trò chẳng ra đầu ra đuôi.
Thế nhưng, cuộc đối thoại giữa con người thì có gì khác? Chị vợ Palomar cũng có mặt trong vườn, đang tưới các cây thủy cự. Chị ta thốt: “A! chúng đây rồi”, một lời thông báo thừa thãi (nếu hiểu ngầm là anh chồng đã bắt đầu nhìn các con sáo rồi) hoặc giả (nếu anh chồng chưa thấy) điều không thể hiểu được, nhưng thật ra, đấy là để chị ta khẳng định cái quyền ưu tiên của chị ta trong việc quan sát những con sáo (bởi vì, thực ra chính chị mới là người đầu tiên phát hiện những con sáo, rồi báo cho anh chồng biết những thói quen của chúng) và để nhấn mạnh cái sự xuất hiện luôn luôn đúng hẹn của chúng mà chị đã từng ghi nhận nhiều lần.
“Suỵt!”, Palomar lên tiếng, vẻ như cản chị vợ đừng nói lớn làm giật mình các con sáo (một lối ngăn ngừa vô tích sự, bởi vì các con sáo chồng sáo vợ đã quá quen thuộc với sự có mặt và giọng nói của anh chồng chị vợ Palomar) nhưng trên thực tế, đó là bởi anh chồng muốn giành cái quyền ưu tiên của chị vợ trong lúc chứng tỏ rằng mối quan tâm của anh ta đối với các con sáo là lớn hơn chị vợ nhiều.
Sau đó chị vợ nói: Mới từ hôm qua đến giờ mà đã khô cỏng khô queo - có ý chỉ cái luống hoa chị đang tưới, một thông tin tự nó thừa thãi nhưng để chứng tỏ rằng - trong lúc huyên thiên nói và đổi đề tài câu chuyện - mối thâm tình của chị với các con sáo là sâu sắc và phóng khoáng hơn anh chồng nhiều. Song, dẫu sao, nhờ những đối đáp này mà Palomar hình dung được một bức tranh toàn cảnh thái bình, rồi lấy làm cảm kích chị vợ, bởi vì nếu chị khẳng định với anh là vào thời điểm này không có gì quan trọng đáng phải lo, thì anh có thể mê mẩn trong công việc của anh (lao động giả đò hoặc lao động cật lực). Palomar để một đôi phút trôi qua và tìm cách tung ra một thông điệp trấn an, nhằm bắn tin cho chị vợ biết rằng công việc của anh (lao động dưới mức hoặc lao động quá mức) đang tiến hành như thường lệ: cho mục tiêu này, anh phát ra một chuỗi bậm bực: - … trật mất rồi... thật là công cốc... lại từ đầu vậy... đúng rồi! đúng rồi!... đúng cái con khỉ khô ấy... - những lời phát ngôn ấy, nếu gộp lại toàn bộ có lẽ sẽ truyền đạt một thông điệp kiểu “anh đang bận lắm em ạ!” để dự phòng trường hợp lời đối đáp cuối cùng của chị vợ chuyên chở một quở trách úp mở, đại loại: “Anh cũng có thể nghĩ đến việc tưới vườn một chút chứ lị”.
Tiền đề của các cuộc trao đổi bằng miệng này là cái ý tưởng cho rằng niềm cảm thông hoàn hảo giữa một cặp vợ chồng cho phép họ hiểu nhau mà không cần phải đứng đó mà ra điệu ra bộ nhằm xác định mọi sự một cách chính xác. Nhưng nguyên tắc này được cặp vợ chồng Palomar đưa vào thực tế rất khác nhau: chị vợ biểu lộ mình bằng những câu nói hoàn tất nhưng hay bóng hay gió hoặc có vẻ sấm truyền thần bí, nhằm thử thách sự nhanh nhảu về khả năng liên tưởng của anh chồng và sự đồng điệu về suy nghĩ của anh ta với chị (điều không mấy hiệu quả); ngược lại, Palomar, từ tính cách độc thoại nội tâm mù sương của mình, hay rải ra đây đó những âm thanh rành rọt như để thổ lộ rằng, nếu những âm thanh ấy không mang lại cái hiển nhiên của một ý nghĩa hoàn tất, thì ít ra chúng cũng mang lại cái hiển nhiên tranh-sáng-tranh-tối của một trạng thái nội tâm.
Ấy vậy mà chị Palomar lại chối từ không nhận những bậm bà bậm bực này như một diễn ngôn và để nhấn mạnh việc không tham gia, chị ta hạ giọng: - Suỵt...! Anh lại làm chúng sợ bây giờ... - quẳng lại anh chồng cái suỵt mà anh chồng tin rằng chính anh mới là kẻ có quyền áp đặt lên chị vợ để mà khẳng định cái sự tiên phong của mình trong chuyện quan tâm đến các con sáo.
Sau cú dứt điểm bàn thắng về mình, chị vợ quay vào nhà. Trên sân, những con sáo đang mổ cỏ, chắc chắn chúng xem những mẩu đối thoại của anh chồng chị vợ Palomar tương đương như những tiếng huýt của chúng. Rất đáng để chúng ta giới hạn vào tiếng huýt - vị Palomar ngẫm nghĩ. Đến đây, một viễn cảnh tư tưởng thật là hứa hẹn mở ra cho Palomar, đối với anh, sự không thống nhất giữa hành vi con người và phần còn lại của vũ trụ luôn luôn là một nguồn thống khổ. Tiếng huýt bình đẳng giữa con người và con chim sáo, đúng! nó hiện ra cho anh như một chiếc cầu bắc ngang bờ vực thẳm.
Nếu con người đầu tư vào tiếng huýt toàn bộ cái thông thường họ tin vào lời nói và nếu con sáo rung láy trong tiếng huýt toàn bộ cái không-nói vốn là tình cảnh tồn tại tự nhiên của nó, đúng! vậy là ta đã bước đầu lấp bằng sự ngăn cách giữa... giữa cái gì và cái gì? Thiên nhiên và văn hóa à? Im lặng và lời nói ư? Palomar luôn hi vọng rằng sự im lặng bao hàm điều gì đó nhiều hơn cái ngôn ngữ có khả năng biểu lộ. Nhưng nếu chính ngôn ngữ mới thực là điểm đến của mọi sự trên đời thì làm sao? Hoặc giả, mọi sự trên đời, suốt từ thuở khởi nguyên của thời gian, là ngôn ngữ, thì phải thế nào? Đến đây, Palomar lại rơi vào khắc khoải.
Sau khi chăm chút lắng nghe tiếng huýt của con sáo, anh thử lặp lại tiếng huýt một cách trung thực nhất. Một im lặng hoang mang theo sau, như thể thông điệp của anh cần một cuộc khảo sát kĩ lưỡng; rồi một tiếng huýt y hệt hồi thanh. Palomar không biết đấy có phải là một lời đáp cho anh, hay lại là một chứng cứ, rằng tiếng huýt của anh biết mấy là khác, nên những con sáo chẳng bận tâm tí nào và chúng lại tiếp tục cuộc đối thoại giữa chúng như chẳng có gì xảy ra.
Anh ta và các con sáo, cứ thế mà huýt, cứ vậy mà hỏi, trong hoang mang.