Hễ có đêm sao sáng đẹp, là Palomar nói: Ta phải ra ngắm sao. Đúng thế, anh nói: Ta phải - bởi anh ghét cái sự phung phí và nghĩ, thực chẳng phải lẽ khi để phí cả cái lượng sao trời kia đang sẵn chờ. Anh nói “Ta phải”, cũng bởi anh không có nhiều kinh nghiệm trong việc ngắm sao và hành vi đơn giản này luôn luôn đòi hỏi ở anh một nỗ lực nhất định.
Cái khó đầu tiên là tìm được một chỗ từ đó cái nhìn của anh có thể rảo quanh cả vòm trời mà không bị ngăn trở và không bị ánh đèn choáng ngợp: chẳng hạn một bãi tắm vắng vẻ trên một bờ biển thật thấp.
Điều thiết yếu khác là phải đem theo một bản đồ thiên văn, không có nó, anh không thể biết mình đang nhìn gì; nhưng giữa các lần nhìn ấy, anh lại quên không biết phải định hướng vào đâu, nên anh bỏ ra khoảng nửa tiếng nghiên cứu trước phương hướng. Để giải mã tấm bản đồ trong bóng tối, anh còn phải mang theo một cái đèn pin nhỏ bỏ túi. Những lần đối chiếu thường xuyên giữa bầu trời và tấm bản đồ buộc anh phải bấm và tắt, rồi trong mỗi lần chuyển qua chuyển lại giữa ánh sáng và bóng tối, mắt anh gần như bị quáng và lần nào anh cũng phải chỉnh lại mắt nhìn.
Nếu Palomar sử dụng một ống kính thiên văn thì hẳn là vấn đề sẽ phức tạp ở một số mặt và đơn giản ở một số mặt; nhưng chính lúc này, kinh nghiệm về bầu trời mà anh quan tâm là thứ kinh nghiệm dưới mắt thường, giống các nhà hàng hải khi xưa và các mục đồng. Mắt thường đối với người cận thị như anh có nghĩa là cặp kiếng cận; để đọc tấm bản đồ anh phải gỡ kiếng, lại càng phức tạp khi cứ phải đưa và đẩy cặp kiếng lên trán và xuống sống mũi, rồi lại phải chần chừ dăm ba giây trước khi cặp thủy tinh thể định lại tiêu điểm, lên các vì sao thực hay các vì sao in. Trên bản đồ, tên những vì sao in bằng chữ đen trên nền xanh, cần phải gí sát cái đèn pin đang bật vào giấy mới có thể nhận ra. Khi ngước mắt nhìn bầu trời, anh thấy bầu trời đen rải rắc những nhấp nháy; lần hồi các vì sao mới định vị rõ ràng và bố trí theo các mô thức chính xác, rồi càng nhìn thì anh càng thấy các vì sao nổi hơn.
Thế rồi, các bản đồ thiên văn mà anh cần khảo là hai bản, không, đúng ra là bốn: một bản, rất tổng hợp, về bầu trời trong tháng, cho thấy rành rẽ một Bán Cầu Nam và một Bán Cầu Bắc; và một bản cho cả bầu trời, chi tiết hơn nhiều, cho thấy một dải dài những chòm sao trong cả năm ở khu vực trung tuyến của vòm trời, trong khi đó những chòm sao thuộc giải cầu phân chung quanh sao Bắc Đẩu được xếp vào một bản đồ phụ đính với bố cục xoay vòng. Nói cách khác, tìm ra vị trí một vì sao có nghĩa là phải đối chiếu nhiều bản đồ khác nhau và vòm trời, cộng với các động tác kèm theo: gỡ và đeo kính, bật và tắt đèn, giở và xếp bớt bản đồ, đi lạc và tìm lại được điểm qui chiếu.
Có lẽ đã nhiều tuần nhiều tháng lắm rồi kể từ cái lần gần đây nhất mà Palomar ngắm sao; bầu trời đã thay đổi cả chòm Gấu Lớn hay Đại Hùng (lúc này là vào tháng Tám) tỏa ra, gần như phủ phục trên những miện cây phía chân trời Tây Bắc; chòm Hiệp Sĩ chúi một góc lên sườn đồi cao, lôi theo cả cánh diều vĩ đại của chòm Tiểu Hùng; đúng phía Tây là chòm Chức Nữ, cao quí và đơn côi; nếu Chức Nữ là thế, thì chòm trên biển lại là Ngưu Lang và xa xa đàng kia là chòm Bạch Điểu, phát đi tia sáng sắc lạnh từ đỉnh trời.
Đêm nay bầu trời có vẻ đông đúc hơn bất kì tấm bản đồ nào; các lược đồ hình thể trên thực tế tỏ ra phức tạp hơn và kém rõ nét; mỗi chùm có thể chứa một tam giác hoặc một đường đứt đoạn nào đó mà bạn đang tìm; và mỗi lần ngước mắt nhìn một chòm sao thì hình như bạn thấy nó lại khang khác.
Để nhận ra một chòm sao, chứng cứ quyết định là xem chòm sao ấy đáp lại thế nào khi bạn gọi tên nó. Cái có tính thuyết phục - hơn cả việc đối khớp về tỉ lệ giữa những khoảng cách và hình thể trên trời vớ những khoảng cách và hình thể in trên bản đồ - là lời đáp mà cái điểm lấp lánh dành cho cái tên bạn gọi nó, sự mau mắn mà nó đồng nhất với cái âm gọi ấy để trở thành một vật duy nhất. Tên các vì sao, đối với chúng ta, những kẻ côi cút huyền thoại, có vẻ không hợp và tùy tiện; vậy mà không bao giờ bạn có thể coi chúng là có thể hoán đổi lẫn nhau. Khi một cái tên mà Palomar tìm được là một cái tên đúng, anh nhận ra ngay, bởi cái tên ấy mang lại cho vì sao cái tính tất yếu và hiển nhiên trước kia nó không có; hoặc ngược lại, nếu là một cái tên nhầm, vì sao sẽ đánh mất cái tên sau một vài giây, y như thể nó rũ cái tên ra khỏi lưng nó, và bạn không còn biết là vì sao ấy ở đâu và là vì sao nào.
Đôi lần, Palomar quyết định chọn Tóc Hoàng Hậu Berenice (chòm sao anh yêu thích) là đám sao này hoặc đám sao kia đang tỏa sáng từ phía chòm Rắn: nhưng anh không còn thấy rạo rực như những lần trước, khi nhận ra cái vật thể vừa hết sức lộng lẫy vừa hết sức thanh thoát này. Chỉ sau đó anh mới biết là mình không thể tìm ra, bởi vào mùa này, Tóc Hoàng Hậu Berenice không thấy được.
Vệt và đốm sáng vắt ngang hầu như trọn bầu trời; giải Ngân Hà tháng tám dày đặc, khắng khít, có thể nói, ràn cả ra hai bên luống; cái sáng cái tối pha trộn đến mức ngăn trở cả đến cái hiệu ứng phối cảnh của một bờ vực đen thẳm, từ trong đó các vì sao bật hiện trong cái trống không xa xăm khôn cùng; hết thảy mọi vật nằm trên một mặt bằng: đốm lóng lánh, mây ánh bạc, bóng tối.
Có phải đây là cái phép hình học không gian thiên văn chính xác mà nhiều lần Palomar cảm thấy cần nhờ cậy để gỡ mình khỏi Quả Đất, nơi của lắm sự rối rắm, thừa thãi, cẩu thả, và lẫn lộn? Khi anh thực sự thấy mình hiện diện dưới bầu trời đầy sao, thì mọi sự lại dường như đang vuột khỏi anh. Cả những điều mà anh tin là mình nhạy cảm nhất, cái sự cỏn con của thế giới chúng ta so với những khoảng cách bao la, cũng chẳng lập tức tăm hơi. Bầu trời là gì gì đó trên kia, bạn thấy nó hiện hữu, nhưng bạn không thể thu nhận được bất cứ một ý niệm gì về kích thước hoặc khoảng cách.
Nếu các thể sáng láng chất chứa cái bất định thì chỉ còn cách là phải phó thác cho bóng tối, cho các bãi sa mạc nhà trời. Còn gì ổn định hơn cái hư không? Thế mà cũng không thể chắc bẩm trăm phần trăm về cái hư không. Nơi Palomar nhìn ra được một khoảng trời thưa - một kẽ toạc, trống và đen - cũng là nơi anh đính cái nhìn của mình vào, như thể phóng luôn cả mình vào đó; thế mà, ngay cả trên ấy cũng bắt đầu hình thành vài hạt sáng, một ít lấm chấm hoặc vết hoe; nhưng anh không dám chắc là chúng có thật, hay tại mình ngỡ mình thấy. Có lẽ đó là một quầng sáng chập chờn quay, hiện ra khi ta nhắm mắt (bầu trời tối đen kia giống như cái bề trái của vành mí mắt cời đom đóm); có thể đó là cái ánh lóa của cặp kiếng cận; nhưng cũng có thể đó là một ngôi sao chưa biết, hiện lên từ cái đáy vực thăm thẳm nhất.
Quan sát các vì sao theo kiểu này truyền đạt một tri thức bất ổn và mâu thuẫn - Palomar nghĩ, ngược lại với tất cả những gì người xưa thu thập được. Phải chăng đó là do quan hệ của anh với bầu trời thì mang tính cách đứt đoạn và náo động, thay vì một tập quán an nhiên? Nếu anh buộc mình phải chiêm ngắm các chòm sao, đêm này qua đêm khác, năm này qua năm khác, theo dõi đường đi lối về và lẽ tiến thoái của chúng dọc theo các tuyến đường cong cong của vòm trời đen thẳm, thì có lẽ, cuối cùng, ngay cả anh cũng có thể chinh phục được một khái niệm gì đó về một thứ thời gian liên tục và bất biến, rạch ròi với thứ thời gian chóng vánh và vụn vỡ của các biến động trần thế. Nhưng lẽ nào chỉ cần quan tâm đến các cuộc xoay vần trên trời là cũng đủ để khắc ghi cái dấu ấn này trong ta? Hay trước hết, phải cần đến một cuộc cách mạng nội tâm, điều anh chỉ có thể giả định trong lí thuyết mà không có khả năng mường tượng các hiệu ứng nhận ra được trong cảm xúc và trong nhịp điệu tâm trí của mình?
Về cái tri thức huyền học thiên thể, anh chỉ đón nhận được dăm ba tia le lói. Thế còn về cái tri thức khoa học, những tiếng vang do báo chí loan truyền, thì sao? Cái anh biết anh ngờ: cái anh không biết anh giữ tinh thần trong trạng thái lửng lơ. Ngột ngạt, lại bất ổn, anh bực bội với những tấm bản đồ thiên văn, như thể anh bực bội với tập giờ giấc xe lửa khi phải lần dò các chuyến chuyển đổi sao cho thật khớp.
Kìa! Một mũi tên rực sáng vút ngang trời. Một vì sao đổi ngôi? Đấy là vào những đêm bạn thường thấy các vì sao rơi. Nhưng cũng rất có thể đó là một chiếc máy bay thương mại sáng đèn. Cái nhìn của Palomar gìn giữ trạng thái cảnh giác, dọn mình, buông xả mọi sự chắc ăn.
Palomar ở bờ biển tối đen đã được gần cả tiếng, ngồi trên một cái ghế bố, lúc xoay Nam, lúc hướng Bắc, thỉnh thoảng lại bật đèn pin, đưa các tấm bản đồ được trải trên lòng đầu gối lên sát mũi; rồi ngoái cổ và lại bắt đầu cuộc khảo sát, khởi đi từ Sao Bắc Đẩu.
Vài bóng đen lặng lẽ di chuyển trên bãi; một cặp tình nhân nhổm dậy từ một cồn cát, một người đánh cá đêm, một viên chức nhà đoan, một lái đò. Palomar chợt nghe tiếng xì xào. Anh nhìn quanh: cách anh ít bước, một túm người nho nhỏ đã tụm lại, đang theo dõi mọi động tác của anh, như đang theo dõi cơn co giật của một kẻ điên.