Chúng tôi dựa vào lan can và trượt xuống cho đến khi ngồi cạnh nhau, kiệt sức và sững sờ. Chúng tôi đã thoát khỏi Hắc Y, nhưng chúng tôi đang ở trên một con thuyền kì lạ, vây quanh là một nhóm Grisha loạn trí ăn mặc như thủy thủ và tru tréo như chó điên.
“Bồ không sao chứ?” Mal hỏi.
Tôi gật đầu. Vết thương trên vai như bị thiêu đốt, nhưng tôi không bị xây xước và cả người tôi run lên vì sử dụng năng lực lần nữa.
“Còn bồ?” Tôi hỏi lại.
“Chả xước xát chút nào,” Mal ngạc nhiên đáp lại.
Con thuyền lướt sóng bằng tốc độ không thể tin nổi, nó được lái bởi Tiết Khí Sư và một vài người nữa mà giờ tôi mới nhận ra là Tiết Hải Sư. Khi nỗi sợ và chấn động từ trận chiến đã nguôi ngoai, tôi nhận ra cả người mình ướt nhẹp. Răng tôi bắt đầu va lập cập vào nhau. Mal vòng tay ôm lấy tôi, và một lúc sau một thuyền viên đi đến quăng cho cả hai tấm chăn giữ ấm.
Cuối cùng, Sturmhond điều khiển cho thuyền đi chậm lại để chỉnh lại buồm. Nhóm Tiết Khí Sư và Tiết Hải Sư buông lỏng tay rồi ngả lên người nhau, hoàn toàn kiệt sức. Việc triệu hồi năng lượng đã khiến khuôn mặt họ phát sáng, đôi mắt như bùng cháy.
Con thuyền chậm lại rồi nhẹ nhàng đu đưa trong bầu không khí yên lặng bất chợt.
“Canh gác cho kỹ,” Sturmhond ra lệnh, Privyet bảo một thủy thủ leo lên đài quan sát với ống nhòm. Mal và tôi từ từ đứng dậy.
Sturmhond bước đến chỗ đoàn Etherekalki đương mệt nhoài, vỗ lưng từng Tiết Khí Sư và Tiết Hải Sư rồi thì thầm vài câu với họ. Tôi thấy gã cho những thủy thủ bị thương đi xuống hầm, nơi tôi nghĩ họ sẽ được chữa trị bởi một lương y trên tàu hay Thiện Tâm Y. Gã thuyền trưởng dường như có thuộc hạ là Grisha ở mọi cấp bậc.
Rồi Sturmhond sải chân về phía tôi, đưa tay rút dao khỏi thắt lưng. Tôi giơ tay lên trong lúc Mal đứng chặn trước mặt, chĩa nòng súng lên ngực Sturmhond. Ngay lập tức, tôi nghe tiếng gươm tuốt khỏi vỏ và súng được lên nòng xung quanh từ thủy thủy đoàn.
“Bình tĩnh đi, Oretsev,” Sturmhond trấn an và bước chậm lại. “Ta tốn công tốn của biết bao để đưa cậu lên thuyền rồi, giờ để cậu bị súng bắn thủng mấy lỗ trên người thì tiếc lắm.” Gã xoay cán dao lại đưa cho tôi. “Này là cho con quái thú.”
Hải Long. Tôi suýt đã quên nó trong lúc kích động vì trận chiến.
Mal ngần ngại rồi cẩn trọng hạ súng xuống.
“Bỏ vũ khí xuống,” Sturmhond ra lệnh cho thủy thủ đoàn. Họ giắt súng vào thắt lưng và hạ gươm xuống.
Sturmhond gật đầu với Tamar. “Kéo nó lại đây.”
Theo sự điều khiển của Tamar, một nhóm thuyền viên nhoài người qua lan can và tháo dỡ một dải dây thừng rối rắm. Họ thở hắt ra rồi từ từ kéo con rồng băng lên mạn thuyền. Nó rớt thịch xuống sàn, vẫn còn thoi thóp giãy chết trong lưới bạc. Nó quẫy mạnh người, hàm răng khổng lồ táp vào không trung. Chúng tôi lùi lại ngay lập tức.
“Theo như ta biết thì cô phải là người kết liễu nó,” Sturmhond cất tiếng, gã đưa dao cho tôi một lần nữa. Tôi nhìn gã thuyền trưởng, tự hỏi không biết gã hiểu được bao nhiêu về những bộ khuếch đại nói chung và bộ khuếch đại từ Hải Long nói riêng.
“Làm đi,” gã bảo. “Chúng ta phải di chuyển ngay lập tức. Thuyền của Hắc Y hiện đang tê liệt, nhưng nó sẽ không ở trạng thái đó lâu đâu.”
Lưỡi dao trong tay Sturmhond lờ mờ ánh lên trong nắng. Thép của Grisha. Không hiểu sao tôi lại chẳng thấy ngạc nhiên mấy.
Dù vậy, tôi vẫn chần chừ.
“Ta vừa để mất mười ba trợ thủ đắc lực,” Sturmhond khẽ nói. “Đừng bảo ta rằng sự hy sinh ấy là vô ích.”
Tôi nhìn con rồng. Nó nằm co giật trên sàn, không khí phập phồng dưới mang, đôi mắt đỏ mờ đục nhưng thịnh nộ vẫn hằn sâu. Tôi nhớ đến ánh nhìn u tối và bình thản của con hươu đực, chút thốt hoảng thinh lặng trong giây phút cuối cùng của nó.
Con hươu đã sống lâu trong trí nhớ của tôi đến nỗi, khi bước ra khỏi bụi cây và đặt chân lên bình nguyên đầy tuyết, nó khiến tôi cảm thấy rất quen thuộc, thân thương. Hải Long chỉ là một kẻ lạ, một truyền thuyết nhiều hơn hiện thực, dù thân thể vỡ nát của nó là minh chứng rõ ràng nhất cho sự thật đau thương ấy.
“Đằng nào nó cũng chả sống nổi đâu,” gã thuyền trưởng cố giục.
Tôi nắm lấy cán dao. Bỗng nhiên tôi cảm thấy tay mình nặng trịch. Đây là sự nhân từ sao? Ắt hẳn nó không giống với ân huệ mà tôi đã ban cho con hươu Morozova.
Rusalye. Hoàng tử bị nguyền rủa, người bảo hộ Xương Đạo. Trong những câu chuyện kể, nó dụ dỗ những thiếu nữ đồng trinh leo lên lưng mình rồi đưa họ ra ngoài khơi, lớn giọng cười vui át cả tiếng sóng, cho đến khi họ ở quá xa bờ để có thể kêu cứu. Rồi nó lặn xuống, kéo họ theo mình đến cung điện dưới đáy biển. Những cô gái ấy sau đó đều qua đời vì không có gì để ăn ngoài san hô và ngọc trai. Rusalye khóc thương và hát bài ca tưởng niệm trước xác của họ, rồi lại trồi lên bờ để tìm kiếm một hoàng hậu khác.
Chỉ là chuyện kể thôi , tôi nhủ thầm. Nó không phải hoàng tử, chỉ là một con vật bị thương.
Hai bên thân Hải Long căng phồng lên. Nó cắn càn vô vọng trong không trung. Có hai cây lao cắm trên lưng nó, máu chảy tràn từ miệng vết thương. Tôi giơ dao lên, không biết phải làm gì, không biết phải đâm vào đâu. Cánh tay tôi run rẩy. Con rồng băng thốt lên tiếng thở khò khè đầy thương cảm, một tiếng vọng yếu ớt từ bài ca diệu kì trước đó.
Mal sải chân đến trước. “Giết nó đi, Alina,” giọng cậu ấy khàn đặc. “Vi Chúa.”
Cậu ấy kéo con dao khỏi tay tôi và quăng nó xuống sàn. Rồi cậu nắm tay tôi đặt nó lên một cán lao trên lưng con rồng. Một cách dứt khoát, chúng tôi cắm nó vào sâu hơn.
Con rồng băng rùng mình rồi nằm bất động, máu chảy ồ ạt khắp boong tàu.
Mal nhìn xuống tay mình rồi lau chúng lên chiếc áo rách tả tơi và quay đi.
Tolya và Tamar tiến về phía trước. Bụng tôi quặn lại. Tôi biết điều gì sắp xảy ra. Không đúng , một giọng nói chợt vang lên trong đầu. Cô có thể bước đi. Cứ mặc kệ nó.
Một lần nữa, tôi có cảm giác mọi chuyện đang diễn ra quá nhanh. Nhưng tôi không thể vứt một bộ khuếch đại như thế xuống biển được. Con rồng đã phải bỏ mạng rồi. Và sở hữu bộ khuếch đại không có nghĩa là tôi sẽ sử dụng nó.
Vảy của con rồng có màu trắng sáng ánh sắc cầu vồng, trừ một dải vây duy nhất bắt đầu từ giữa mắt kéo đến đỉnh đầu rồi chạy dọc xuống bờm - nó có màu vàng kim.
Tamar rút dao khỏi thắt lưng và, với sự giúp đỡ của Tolya, tuốt sạch vảy rồng. Tôi không dám nhìn đi chỗ khác. Khi xong việc, họ đưa tôi bảy cái vảy nguyên vẹn còn đẫm máu.
“Hãy cúi đầu mặc niệm cho những người đã bỏ mạng hôm nay,” Sturmhond nói. “Những thủy thủ gan dạ. Những chiến binh trung thành. Cầu cho họ được biển khơi đưa đến nơi an nghỉ và được chào đón trong vòng tay thánh thần ở bến bờ xán lạn hơn.”
Gã lặp lại kinh cầu cho thủy thủ bằng tiếng Kerch, rồi Tamar lẩm nhẩm những lời đó theo ngôn ngữ nước Shu. Chúng tôi đứng cúi đầu lặng im trên con thuyền trôi nổi. Tôi nghẹn ngào không nói nên lời.
Lại thêm nhiều người phải chết và một sinh vật huyền thoại cổ xưa phải ra đi, thân xác bị mạo phạm bởi vũ khí thép của Grisha. Tôi đặt tay lên làn da óng ánh của Hải Long. Nó lạnh lẽo và trơn tuột dưới những đầu ngón tay. Đôi mắt đỏ lòm giờ đã vô hồn và mờ đục. Tôi siết chặt những chiếc vảy ánh vàng trong lòng bàn tay, cảm nhận từng góc cạnh đâm vào da thịt. Thánh thần nào sẽ chờ đợi một thực thể như thế này?
Một phút dài đằng đẵng trôi qua, rồi Sturmhond thì thầm, “Thánh thần chào đón họ.”
“Thánh thần chào đón họ,” thủy thủ đoàn lặp lại.
“Chúng ta phải đi thôi,” Sturmhond khẽ nói. “Tàu đánh cá voi bị thủng nhưng Hắc Y vẫn còn một vài Tiết Khí Sư và Sáng Chế Gia, mà có khi bọn quái vật của hắn đã được huấn luyện để sử dụng đinh và búa nữa là. Chúng ta không thể mạo hiểm được.” Gã quay sang Privyet. “Cho đoàn Tiết Khí Sư vài phút nghỉ ngơi và báo cáo thiệt hại rồi bắt đầu giong buồm đi tiếp.”
“Dạ, kapitan,” Privyet đáp lệnh bằng giọng chắc nịch. Rồi anh ta chần chừ. “Kapitan...người ta có thể trả giá cao cho vảy của con rồng, không cần biết màu sắc thế nào.”
Sturmhond cau mày, nhưng rồi gã gật đầu. “Cứ lấy tùy thích rồi dọn sạch boong tàu và lên đường đi. Ngươi biết tọa độ rồi đấy.”
Vài thủy thủ bèn nhảy tới xác con rồng để cắt hết vảy của nó. Tôi không thể nhìn cảnh tượng này được. Tôi quay lưng đi, ruột gan như quặn lại.
Sturmhond đến bên cạnh tôi.
“Đừng nghĩ xấu về họ quá,” gã nói và ngoái nhìn phía sau vai.
“Tôi không nghĩ xấu về họ,” tôi độp lại. “Anh mới là thuyền trưởng.”
“Và họ có ví tiền cần lấp đầy, cha mẹ họ hàng cần được ăn. Bọn ta mất gần phân nửa thuyền viên mà chẳng được lợi lộc gì để bù đắp lại điều đó. À nói vậy không có nghĩa là cô không đáng giá đâu.”
“Tôi có vai trò gì ở đây?” Tôi hỏi. “Sao anh lại giúp chúng tôi?”
“Cô có chắc là ta đã làm thế không?”
“Trả lời đi, Sturmhond,” Mal chen vào cuộc đối thoại. “Tại sao anh lại săn đuổi Hải Long chỉ để đưa nó cho Alina?”
“Ta không săn đuổi Hải Long. Người ta săn đuổi là cô.”
“Đó là lý do anh nổi loạn và chống đối Hắc Y?” Tôi hỏi. “Để bắt giữ tôi?”
“Người ta không gọi đấy là nổi loạn khi ở trên thuyền của mình.”
“Anh muốn gọi là gì cũng được,” Tôi chào thua. “Chỉ cần giải thích thôi.”
Sturmhond ngả người ra sau, chống tay lên lan can và nhìn xuống boong tàu. “Lẽ ra ta có thể giải thích cho Hắc Y nếu anh ta hỏi - nhưng may sao, anh ta không hề để tâm - nguy cơ trong chuyện thuê một người đã vất bỏ danh dự của mình chính là việc cô sẽ bị bán đứng bất cứ lúc nào.”
Tôi há hốc mồm. “Anh phản bội Hắc Y vì tiền sao?”
“Nói ‘phản bội’ nghe đao to búa lớn quá. Ta có quen biết gì hắn đâu.”
“Anh điên rồi,” tôi nói. “Anh biết hắn ta có thể làm gì mà. Không có giải thưởng nào đáng để trả giá vậy đâu.”
Sturmhond nhăn nhở. “Cứ chờ xem sao đã.”
“Hắc Y sẽ đuổi cùng giết tận anh.”
“Thế thì cô và ta có điểm chung rồi, đúng không? Hơn nữa, ta thích được theo đuôi bởi một kẻ thù quyền năng. Tự dưng thấy mình quan trọng hẳn lên.”
Mal khoanh tay và dò xét gã thuyền trưởng. “Tôi chả biết nên gọi anh là điên rồ hay ngu ngốc nữa.”
“Ta có nhiều điểm tốt lắm,” Sturmhond tự hào. “Cũng khó chọn đấy.”
Tôi lắc đầu. Gã này mất trí rồi. “Nếu Hắc Y bị bán đứng thì ai là người đã thuê anh? Anh sẽ đưa chúng tôi đi đâu?”
“Trả lời cho ta câu này đã,” Sturmhond nói rồi lục lọi túi áo choàng. Gã lôi ra một quyển sách màu đỏ và ném nó cho tôi. “Tại sao Hắc Y lại đem theo thứ này bên mình? Hắn ta không giống một kẻ ngoan đạo cho lắm.”
Tôi bắt lấy quyển sách rồi lật nó lại, nhưng tôi sớm đã nhận ra nó là cái gì. Tựa đề mạ vàng trên bìa lóe lên trong nắng.
“Anh lấy trộm nó sao?” Tôi hỏi.
“Cùng một vài văn kiện trong buồng ngủ của hắn. Mặc dù về cơ bản , đấy là buồng ngủ của ta nên nói lấy trộm có vẻ không đúng đâu.”
“Về cơ bản” tôi giận dữ nhìn gã, “buồng ngủ ấy thuộc về người thuyền trưởng cũ của chiếc tàu đánh cá mà anh đã cướp về.”
“Cũng đúng,” Sturmhond thừa nhận. “Nếu không thích làm Tiết Dương Sư nữa thì cô nên theo nghề thầy cãi đi. Vì cô có khuynh hướng bắt bẻ người khác mà.
Nhưng chắc ta phải nói cho cô biết rằng quyển sách này thuộc về cô đấy.”
Anh ta đưa lật sách ra. Tên của tôi được viết ở bìa trong: Alina Starkov.
Tôi cố giữ vẻ mặt bình thản, nhưng tâm trí đột nhiên trở nên hỗn loạn. Đây là Istorri Sanktya , là quyển sách mà lão Tư Tế đã đưa tôi nhiều tháng trước trong thư viện của Tiểu Điện. Hắc Y hẳn đã lục soát phòng sau khi tôi trốn khỏi Os Alta, nhưng sao lại là quyển sách này? Và lý do anh ta quan tâm đến việc tôi có đọc nó hay không là gì?
Tôi lướt qua vài trang. Quyển sách được vẽ minh họa rất đẹp, mặc dù tranh ảnh trong đấy quá ghê rợn cho một câu chuyện thiếu nhi. Có cảnh mấy vị Thánh đang hoạt động từ thiện: Thánh Feliks cạnh nhành táo. Thánh nữ Anastasia trên đất Arkesk hoang tàn bệnh dịch hạch. Nhưng hầu hết đều là tranh vẽ các vị Thánh tử vì đạo: Thánh nữ Lizabeta bị kéo lê và phanh thây, Thánh Lubov bị chặt đầu, Thánh Ilya bị xiềng xích. Tôi sững người. Lần này tôi không thể che giấu cảm xúc của mình.
“Thú vị nhỉ?” Sturmhond nói. Gã ta dùng ngón tay thon dài gõ lên trang giấy. “Trừ khi ta đoán lầm, còn không thì đây chính là sinh vật chúng ta vừa bắt được.”
Không còn che giấu gì nữa: Phía sau thánh Ilya, tung hoành giữa sóng nước trên mặt hồ hoặc biển lớn, là hình dạng đặc trưng của Hải Long. Nhưng đấy không phải tất cả. Không hiểu sao tôi cố ngăn mình giơ tay lên chạm vào chiếc vòng cổ.
Tôi đóng sách lại và nhún vai. “Chỉ là chuyện kể thôi.”
Mal ném cho tôi cái nhìn kinh ngạc. Tôi không biết cậu ấy đã thấy trang sách ấy chưa.
Tôi không muốn đưa Istorii Sanktya lại cho Sturmhond, nhưng gã ta nghi ngờ tôi đủ rồi. Tôi ép mình trả lại cuốn sách, mong rằng gã không nhận ra tay tôi đang run rẩy.
Sturmhond nhìn tôi một lúc lâu, rồi đứng thẳng người và xua tay. “Cứ giữ lấy, nó là của cô mà. Chắc cô cũng biết rồi, ta rất trân trọng những vật dụng cá nhân. Chưa kể cô cũng cần có gì để giải sầu tới khi đến được Os Kervo.”
Mal và tôi cùng giật mình.
“Anh đưa chúng tôi đến Tây Ravka sao?” Tôi hỏi.
“Ta sẽ đưa cô đến gặp người đã thuê ta, ta chỉ có thể nói vậy thôi.”
“Ông ta là ai? Ông ta muốn gì ở tôi?”
“Cô có chắc đấy là đàn ông không? Lỡ đâu ta đem nộp cô cho Hoàng Hậu Fjerda thì sao?”
“Thật à?”
“Không. Nhưng người thông thái là người có tư tưởng rộng mở.”
Tôi thở phì phèo tức giận. “Anh có bao giờ trả lời người ta đàng hoàng không vậy?!”
“Khó nói lắm. Ây, ta lại thế nữa rồi.”
Tôi quay sang Mal, nắm đấm siết chặt. “Mình sẽ giết gã này.”
“Trả lời đi, Sturmhond,” Mal gầm gừ.
Sturmhond nhướng mày. “Có hai điều cậu cần biết,” gã nói, và lần này tôi nhận ra âm điệu sắc bén trong giọng của gã. “Một, thuyền trưởng không thích bị kẻ khác ra lệnh trên chính thuyền của mình. Hai, ta muốn đưa ra thỏa thuận với cậu.”
Mal khịt mũi. “Sao chúng tôi phải tin anh?”
“Cậu không có nhiều lựa chọn đâu,” Sturmhond thoải mái đáp lời. “Ta thừa biết hai người có thể đánh đắm thuyền và vùi chúng ta xuống lòng đại dương, nhưng ta mong cả hai sẽ cho người khách hàng này một cơ hội. Hãy nghe anh ta nói. Nếu cậu không thích đề nghị của anh ta thì ta thề sẽ giúp cả hai bỏ trốn. Đưa hai người đến bất kì đâu trên thế giới.”
Tôi không thể tin những gì mình vừa nghe. “Vậy là anh đâm sau lưng Hắc Y, rồi lại trở mặt và phản bội khách hàng mới của mình sao?”
“Không hề,” Sturmhond phản đối, trông gã như bị xúc phạm thật sự. “Khách của ta chỉ trả tiền để đưa hai người về Ravka, không phải để giữ hai người ở đó. Muốn vậy phải thêm tiền đó.”
Tôi đưa mắt nhìn Mal. Cậu ấy nhún vai và nói, “Anh ta nói dối như cuội và có khả năng là một gã điên, nhưng anh ta nói đúng. Chúng mình không có nhiều lựa chọn.”
Tôi xoa xoa hai bên thái dương, cảm thấy một cơn đau đầu đang kéo tới. Tôi mệt mỏi và hoang mang đủ rồi, và cách nói của Sturmhond làm tôi muốn bắn người. Tốt hơn là bắn gã ta. Nhưng gã đã cứu chúng tôi khỏi Hắc Y, và khi xuống khỏi thuyền của gã Mal và tôi có thể tìm cách chạy trốn sau. Tạm thời tôi chỉ nghĩ được có thế.
“Được,” tôi quyết định.
Gã mỉm cười. “Thật tốt khi biết hai người sẽ không nhận chìm thuyền chúng ta.” Gã đưa tay ngoắt một thuyền viên đang luẩn quẩn gần đó.
“Gọi Tamar đến đây và bảo rằng từ giờ cô ấy sẽ ngủ chung với Tiết Dương Sư,” gã ra lệnh. Rồi gã chỉ về phía Mal. “Cậu ta có thể ngủ với Tolya.”
Trước khi Mal kịp mở miệng phản đối, Sturmhond đã chặn trước. “Luật trên thuyền này là thế. Ta cho các người tự do loanh quanh trên Vokvolny đến khi về Ravka, nhưng ta mong hai người sẽ không vì cá tính hào phóng này mà được đằng chân lân đằng đầu. Thuyền có luật lệ còn ta cũng có giới hạn của mình.”
“Cả anh và tôi,” Mal nghiến răng độp lại.
Tôi đặt tay lên cánh tay của Mal. Dù tôi thấy an toàn hơn khi hai đứa ở cùng nhau nhưng giờ không phải lúc cãi tay đôi với gã thuyền trưởng. “Kệ đi,” tôi nói. “Mình sẽ ổn thôi.”
Mal nhăn mặt, rồi cậu ấy quay lưng bỏ về phía bên kia boong tàu và biến mất sau đống hỗn độn những dây thừng và vải buồm. Tôi nhón bước định theo sau.
“Cô nên để cậu ta yên thì hơn,” Sturmhond nói. “Mấy dạng này cần nhiều thời gian để nghiền ngẫm bất hạnh và đổ tội cho bản thân lắm. Không sẽ lại cáu kỉnh cho xem.”
“Anh có bao giờ nghiêm túc không vậy?”
“Chỉ trừ lúc bắt buộc thôi. Sống vậy chán lắm.”
Tôi lắc đầu. “Người khách này...”
“Đừng thắc mắc vô ích. Không nói chắc cô cũng biết đã có nhiều người đề nghị với ta rồi. Bọn họ điên cuồng tìm kiếm từ lúc cô biến mất ở Vực Tối. Tất nhiên, đa số cho rằng cô đã chết. Thường họ làm vậy để ép giá thôi. Cô cũng đừng nghĩ đấy là xúc phạm.”
Tôi nhìn sang phía bên kia boong tàu, nơi thủy thủ đoàn đang nhấc xác của con rồng qua lan can. Họ cất giọng hò dô một cách nặng nhọc rồi lăn nó trở qua thành tàu. Hải Long rớt xuống biển với tiếng ầm vang dội. Chỉ như vậy, Rusalye đã biến mất, bị đại dương nhấn chìm.
Một tiếng huýt sáo dài vang lên. Thủy thủ đoàn tản về vị trí của mình, và nhóm Tiết Khí Sư bước đến thế chỗ. Vài giây sau, những cánh buồm bung tỏa như đóa hoa trắng nở rộ - con thuyền một lần nữa lại lên đường, hướng về phía đông nam về Ravka, về nhà.
“Cô sẽ làm gì với mấy cái vảy?” Sturmhond hỏi.
“Tôi không biết.”
“Không biết? Dù đẹp trai rạng ngời như vầy nhưng ta không phải loại tốt mã não rỗng như cách mình hành xử đâu. Hắc Y muốn cô đeo chúng trên người.”
Vậy tại sao anh ta lại không giết nó ? Khi Hắc Y xuống tay với con hươu đực và đeo chiếc vòng Morozova cho tôi, anh ta đã ràng buộc tôi cả đời. Tôi rùng mình, nhớ lại cảm giác bị anh ta tìm đến kết nối ấy, nắm giữ năng lượng trong khi tôi vô dụng đứng đó. Vảy của con rồng cũng sẽ giúp anh ta kiểm soát tôi như vậy sao? Nhưng nếu thế sao anh ta không chiếm lấy nó?
“Tôi đã có một bộ khuếch đại rồi,” tôi nói.
“Một vật quyền năng, nếu tin đồn là thật.”
Bộ khuếch đại mạnh nhất trong lịch sử tự cổ chí kim. Hắc Y đã bảo với tôi như vậy, và tôi đã tin anh ta. Nhưng nếu không chỉ có thế? Nếu tôi chỉ mới chạm vào một mảnh nhỏ trong giới hạn năng lượng của con hươu đực thì sao? Tôi lắc đầu. Chuyện này thật điên rồ.
“Chúng ta không thể ghép những bộ khuếch đại với nhau.”
Ta đọc sách rồi, gã đáp. Có vẻ có thể mà.
Tôi chợt thấy quyển Istorii Sanktya trong túi mình nặng trĩu. Hắc Y sợ rằng tôi sẽ nhận ra bí mật của Morozova thông qua một cuốn sách thiếu nhi sao?
“Anh không hiểu mình đang nói gì đâu,” tôi bảo Sturmhond. “Không có Grisha nào sở hữu bộ khuếch đại thứ hai. Hiểm họa...”
“Ây, tốt nhất cô đừng dùng từ đó khi ở cạnh ta. Ta có xu hướng quan tâm thái quá đến hiểm họa nha.”
“Không phải loại hiểm họa này,” tôi cương quyết đáp trả.
“Tiếc thật,” gã lẩm bẩm. Ta không nghĩ con thuyền này sẽ chịu được một trận chiến nữa nếu bị Hắc Y đuổi kịp. Một bộ khuếch đại thứ hai có khi sẽ giúp cân bằng lực lượng. Hoặc tốt hơn là kéo phe ta về thế có lợi. Ta ghét phải đánh nhau công bằng lắm.”
“Hoặc anh ta có thể giết tôi rồi nhấn chìm tàu hoặc tạo ra một Vực Tối khác, hay cái gì đó tệ hơn.”
“Cô cũng mồm miệng thật đấy.”
Tôi đút tay vào túi, lần mò chạm vào góc cạnh ẩm ướt của những chiếc vảy. Tôi không có nhiều thông tin, và kiến thức của tôi và Grisha thì sơ sài hết cỡ. Nhưng quy luật này lúc nào cũng rõ ràng: Một Grisha, một bộ khuếch đại. Tôi nhớ lại đoạn triết lý mà mình bị ép phải đọc: “Tại sao một Grisha chỉ có thể sở hữu một bộ khuếch đại? Thay vào đó ta sẽ trả lời câu hỏi này: Thế nào là vô hạn? Chính là vũ trụ và lòng tham của con người.” Tôi cần thời gian suy nghĩ.
“Anh sẽ giữ lời chứ?” Cuối cùng tôi nói. “Anh sẽ giúp chúng tôi trốn thoát phải không?” Tôi chả hiểu sao mình lại hỏi nữa. Dĩ nhiên gã ta sẽ không nói ra nếu có dự định phản bội chúng tôi rồi.
Tôi tưởng gã sẽ đáp lại bằng mấy câu bông đùa, nên tôi khá ngạc nhiên khi nghe gã chất vấn, “Cô nóng lòng muốn bỏ rơi đất nước mình lần nữa đến thế sao?”
Tôi sững người. Trong lúc đó, đất nước của cô đang lầm than. Hắc Y đã buộc tội tôi ruồng bỏ Ravka. Anh ta đã sai về nhiều thứ, nhưng không hiểu sao tôi lại cảm thấy anh ta đúng trong chuyện này. Tôi đã phó mặc quê hương mình cho Vực Tối tàn nhẫn, một lão vua nhu nhược và những bạo chúa tham lam như Hắc Y và gã Tư Tế. Giờ đây nếu tin đồn là đúng thì Vực Tối đang mở rộng và Ravka đang suy tàn. Vì chiếc vòng cổ. Vì tôi.
Tôi ngẩng lên nhìn mặt trời, cảm nhận gió biển vờn trên da, đoạn tôi nói, “Tôi nóng lòng được tự do.”
“Chừng nào Hắc Y còn sống thì cô sẽ không bao giờ được tự do. Cả đất nước cô cũng vậy. Cô biết điều đó mà.”
Tôi đã nghĩ Sturmhond là một kẻ tham lam hoặc ngu ngốc, nhưng tôi chưa bao giờ cân nhắc đến khả năng gã là một người yêu nước cả. Dù gì gã cũng là người Ravka, và những chuyến phiêu lưu của gã mang lại rất nhiều tiền, có lẽ chúng đã được dùng để đóng góp cho quê hương nhiều hơn những gì lực lượng Hải Quân kém cỏi của Ravka có thể làm.
“Tôi muốn được lựa chọn,” Tôi nói.
“Cô sẽ có,” gã đáp lời. “Nhân danh một kẻ nói dối và giết người.” Đoạn gã bước về bên kia boong tàu nhưng rồi lại quay về phía tôi. “Cô nói đúng một điều, Tiết Dương Sư ạ. Hắc Y là một kẻ thù quyền năng. Cô nên nghĩ đến việc hợp tác với những cộng sự quyền năng khác đi.”
Tôi không muốn gì hơn ngoài chuyện lôi quyển Istorii Sanktya khỏi túi và dành cả giờ để phân tích bức họa thánh Ilya, nhưng Tamar đã đứng đợi từ sớm để hộ tống tôi đến phòng ngủ của cô.
Thuyền hai buồm của Sturmhond không giống với con tàu buôn cồng kềnh đã đưa tôi và Mal đến Novyi Zem hay chiếc tàu đánh cá voi chông chênh mà cả hai vừa bỏ lại phía sau. Nó là một con thuyền có cấu trúc xinh đẹp, bóng bẩy và được trang bị vũ khí nặng. Tamar kể rằng Sturmhond đoạt được nó từ tay một tên hải tặc Zemeni đang tấn công tàu bè của Ravka ở gần khu cảng thuộc bờ biển phía nam. Gã thích nó đến mức dùng nó làm tàu đô đốc của mình và đổi tên con thuyền thành Volkvolny, Sói Biển.
Sói. Chó săn của giông bão. Con chó màu đỏ trên cờ tàu. Ít nhất giờ tôi đã hiểu sao thủy thủ đoàn lúc nào cũng tru tréo và gào rú rồi.
Không ngóc ngách nào trên thuyền không được tận dụng. Thuyền viên ngủ trên boong. Trường hợp hỗn loạn nổ ra thì võng ngủ của họ có thể được xếp gọn lại để đại bác thế chỗ. Tôi đã đúng về chuyện không cần một phẫu thuật gia otkazatsya nếu có Tâm Y trên thuyền. Phòng ở và kho trữ thuốc của lương y được biến thành chỗ ngủ của Tamar. Căn buồng chật hẹp vừa đủ chỗ mắc hai chiếc võng và kê một cái tủ. Trên tường treo mấy chiếc kệ chứa đầy thuốc mỡ và tinh dầu chưa dùng, bột Asen và Antimon kim loại.
Tôi cố giữ thăng bằng trên một chiếc võng, chân đặt dưới sàn, tâm trí vẫn tập trung vào quyển sách bìa đỏ giấu trong áo khoác trong lúc nhìn Tamar giở nắp rương lên và cởi bỏ vũ khí trên người: một dây đeo súng ngắn ngang ngực, hai cây rìu mảnh dẻ giắt bên hông, một con dao găm giấu trong giày bốt và một con nữa trong túi đựng quấn quanh đùi. Cô ấy là một bộ giáp di động.
“Tôi thấy tội cho bạn của cô,” Cô ấy nói trong lúc lôi ra thứ gì trông như một chiếc vớ nhét đầy bi sắt. Nó rớt xuống đáy tủ với một tiếng “Bịch.” lớn.
“Tại sao?” Tôi hỏi, chân di thành vòng tròn trên sàn.
“Anh tôi ngáy như sấm ấy.”
Tôi cười to. “Mal cũng vậy.”
“Vậy họ có thể biểu diễn một màn ngáy đôi,” Cô ấy biến mất rồi nhanh chóng quay trở lại với một xô nước. “Tiết Hải Sư đã đổ đầy thùng nước rồi,” cô giải thích. “Nếu cô muốn tắm thì cứ dùng thoải mái.”
Nước sạch thường là một sự xa xỉ trên thuyền, nhưng tôi đoán họ chẳng việc gì phải tiết kiệm nếu có các Grisha ở đây.
Cô ấy nhúng đầu vào xô nước rồi vò rối mái tóc đen ngắn của mình. “Người dò đường ấy, cậu ta đẹp trai đấy.”
Tôi đảo mắt. “Lại còn không.”
“Không phải gu của tôi, nhưng vẫn đẹp trai.”
Tôi nhướng mày. Theo kinh nghiệm của tôi, Mal lúc nào cũng là gu của mọi người. Nhưng tôi sẽ không hỏi Tamar mấy câu riêng tư đó. Nếu Sturmhond không đáng để tin tưởng thì thuộc hạ của gã cũng vậy, và tôi không muốn thân thiết với ai trong bọn họ cả. Tôi đã có bài học nhớ đời với Genya, và chỉ một tình bạn tan vỡ là đủ rồi. Thay vào đó, tôi nói, “Có người nước Kerch trên thuyền nữa. Không phải họ nghĩ rằng phụ nữ trên thuyền sẽ đem lại xui xẻo sao?”
“Sturmhond làm những gì ngài ấy muốn.”
“Và chúng...không làm cô khó chịu?”
Tamar cười toe, hàm răng trắng đều lóe lên tương phản với làn da màu đồng. Cô ấy gõ tay lên chiếc răng cá mập đeo trên cổ, và tôi nhận ra đấy là một bộ khuếch đại. “Không,” cô ấy đơn giản đáp lời.
“À.”
Rồi trước khi tôi kịp chớp mắt, cô ấy đã rút thêm một con dao từ tay áo. “Cái này cũng tiện nữa,” cô ấy nói.
“Cô muốn làm gì cũng được sao?” tôi khẽ thở hắt.
“Tùy hứng.” Rồi cô ấy xoay dao lại và đưa nó cho tôi. “Ngài Sturmhond đã ra lệnh cấm mọi người làm phiền cô, nhưng nếu có gã nào say xỉn hay quên thì...chắc cô tự biết bảo vệ bản thân chứ?”
Tôi gật đầu. Tôi không đi loanh quanh với tầm ba chục con dao giấu trong người, nhưng tôi cũng không hoàn toàn vô dụng.
Cô ấy nhúng đầu xuống xô nước lần nữa, rồi đề nghị. “Họ đang chơi xúc xắc trên boong và tôi sẵn sàng vào cuộc rồi. Cô có thể tham gia nếu thích.”
Tôi không quan tâm đến mấy trò bài bạc nhậu nhẹt cho lắm, nhưng lời mời ấy vẫn rất hấp dẫn. Toàn thân tôi vẫn nhức nhối sau khi sử dụng năng lực chống lại bọn nichevoya. Lần đầu tiên trong nhiều tuần qua tôi cảm thấy bồn chồn và đói meo một cách lành mạnh. Nhưng tôi lắc đầu. “Không, cảm ơn.”
“Tùy cô vậy. Tôi có mấy món nợ cần đòi. Privyet đã cược rằng chúng tôi sẽ không qua khỏi. Tôi thề lúc cả bọn leo qua lan can tàu mặt anh ta rầu rĩ như đưa đám ấy.”
“Anh ta cược rằng cô sẽ bị giết sao?” Tôi ngạc nhiên hỏi.
Cô ấy cười to. “Tôi không trách anh ta. Chống lại Hắc Y và Grisha của hắn sao? Ai cũng biết làm thế là tự sát. Thủy thủ đoàn còn bốc thăm xem ai sẽ là người lãnh nhận vinh quang ấy nữa là.”
“Và cô với anh trai mình tình cờ gặp xui?”
“Chúng tôi?” Tamar dừng lại trước cửa. Tóc của cô ấy vẫn còn ẩm, và nụ cười ma mãnh của một Độc Tâm Y lóe lên dưới ánh đèn. “Chúng tôi chẳng rút cái gì cả,” cô ấy nói trong lúc bước khỏi phòng. “Là tự nguyện cả đấy.”
Tôi không cớ cơ hội nói chuyện riêng với Mal đến tận khuya hôm ấy. Chúng tôi được mời đến dự bữa tối cùng Sturmhond trong buồng của gã, và đấy là một bữa ăn kì lạ. Thức ăn được dọn lên bởi một quản gia, một hầu cận với lối phục vụ hoàn hảo, ông ấy lớn tuổi hơn tất cả mọi người trên thuyền. Chúng tôi ăn ngon hơn nhiều tuần trước đó: bánh mì nóng hổi, cá tuyết, củ cải ngâm giấm và một loại rượu lạnh có vị ngọt khiến đầu tôi xoay vòng vòng ngay sau khi nhấp vài ngụm nhỏ.
Tôi ăn rất nhiều, hễ sử dụng năng lực xong là tôi lại đói bụng, nhưng Mal chỉ ăn chút ít và nói còn ít hơn cho đến khi Sturmhond nhắc đến những loại vũ khí mình đang mang về Ravka. Lúc ấy Mal mới tỏ ra hứng thú và họ dành cả buổi ăn để nói về súng, lựu đạn và vài phương thức gây nổ hay ho. Tôi không tài nào tập trung được. Trong lúc hai người tán nhảm về súng liên châu được dùng ở chiến tuyến Zemeni thì tất cả những gì tôi nghĩ đến là mấy cái vảy trong túi và dự định của mình với chúng.
Tôi có dám sở hữu một bộ khuếch đại thứ hai không? Tôi đã lấy mạng con rồng biển - nghĩa là sức mạnh của nó thuộc về tôi. Nhưng nếu mấy cái vảy này hoạt động tương tự như chiếc vòng Morozova thì tôi cũng có thể chia sẻ sức mạnh của con rồng. Tôi có thể đưa mấy cái vảy cho một Độc Tâm Y của Sturmhond, Tolya chẳng hạn, rồi cố kiểm soát anh ta như cách mà Hắc Y đã từng làm với tôi. Tôi có thể ép gã thuyền trưởng đưa chúng tôi về lại Novyi Zem. Nhưng thú thật thì đấy không phải điều tôi muốn.
Tôi nhấp thêm ngụm rượu nữa. Tôi cần nói chuyện với Mal.
Để phân tán tư tưởng, tôi chuyển qua xem xét đồ nội thất trong phòng của Sturmhond. Mặt bàn làm việc đặt vô số bản đồ, một miếng kính lục phân, một bản vẽ kì quái trông như kí họa một con chim làm bằng kim loại có cánh bằng khớp nối. Bàn ăn lấp lánh sứ nước Kerch và đá pha lê. Nhãn hiệu trên mấy chai rượu được viết bằng một thứ tiếng xa lạ mà tôi không biết. Toàn là đồ ăn cắp , tôi nhận ra. Sturmhond đã vơ vét rất nhiều cho mình.
Về phần gã thuyền trưởng, tôi nhân dịp này để quan sát gã thật kĩ lần đầu tiên. Gã nhìn lớn hơn tôi tầm bốn, năm tuổi, và có gì đó rất quái dị ở khuôn mặt gã này. Cằm quá nhọn. Đôi mắt mờ đục màu xanh lục, mái tóc đỏ rực kỳ quặc. Mũi của gã giống như đã bị đấm gãy rồi chữa lành nhiều lần. Có một lúc, gã bắt gặp tôi đang nhìn mình, và tôi thề là gã đã quay mặt đi để né ánh đèn.
Quá nửa đêm chúng tôi mới rời khỏi phòng Sturmhond. Tôi dồn Mal lên boong đến một chỗ biệt lập ở mũi thuyền. Tôi biết trên đài quan sát đang có nhiều thủy thủ đứng canh gác, nhưng tôi không chắc chừng nào mình mới có cơ hội gặp riêng cậu ấy nữa.
“Mình thích anh ta, Mal nói, chân đi hơi lảo đảo vì món rượu đã uống. “Ý mình là, anh ta nói quá nhiều, và có lẽ anh ta sẽ trộm cả giày của bồ, nhưng anh ta không phải người xấu, và hình như anh ta biết rất nhiều về..
“Bồ im đi được không? tôi thì thầm. “Mình muốn cho bồ thấy cái này
Mal lờ đờ nhìn tôi. “Không cần bất lịch sự thế đâu
Tôi tảng lờ cậu ấy và lôi cuốn sách đỏ từ túi áo ra. “Nhìn này, tôi mở sách ra và rọi sáng khuôn mặt hoan hỉ của thánh Ilya.
Mal sững người. “Con hươu đực, cậu ấy nói. “Và Rusalye Tôi nhìn cậu ấy chăm chú quan sát bức họa và nhận ra giây phút cậu ấy hiểu được vấn đề. “Thánh thần ơi, cậu ấy thở hắt ra. “Còn một cái nữa.