Fedyor và tôi nói chuyện đến tận khuya, dù không có phút nào ở riêng. Mal hoặc Tolya hoặc Tamar luôn ở cạnh và trông chừng.
Fedyor khi trước đang phục vụ tại doanh trại gần Sikurk ở biên giới Đông Nam. Khi tin tức về thảm họa Novokribirsk lan đến tiền đồn thì binh sĩ của nhà vua đã phản bội Grisha, dựng họ dậy lúc nửa đêm và tổ chức những phiên xét xử để xác minh lòng trung của bọn họ. Fedyor đã đứng ra lãnh đạo mọi người trốn thoát.
“Đáng ra chúng tôi đã có thể giết họ,” anh nói. “Thay vào đó, chúng tôi chỉ giải thoát những người bị thương và bỏ chạy.”
Một vài Grisha không được vị tha như thế. Đã có những cuộc thảm sát ở Chernast và Ulensk khi binh sĩ ở đó tấn công thành viên của Hạ Quân. Lúc đó Mal và tôi đã lên tàu Verrhader, hướng về phía Tây, an toàn tránh khỏi biến loạn hai đứa đã góp phần tạo nên.
“Vài tuần trước,” anh tiếp lời, “người ta kháo nhau rằng cô đã trở về Ravka. Sắp tới sẽ còn nhiều Grisha đến tìm cô nữa.”
“Bao nhiêu?”
“Không biết được.”
Cũng như Nikolai, Fedyor tin rằng một số Grisha đang nương náu chờ nhận lệnh để được phục chức. Nhưng anh nghi ngờ đa phần đã tìm đến Hắc Y rồi.
“Ngài ấy là sức mạnh.” Fedyor bảo. “Là sự an toàn. Họ hiểu được điều đó.”
Hoặc có lẽ họ nghĩ rằng mình đã chọn theo phe thắng thế, tôi chán chường ngẫm nghĩ. Nhưng tôi biết lý do không chỉ có thể. Nếu tôi là họ thì cũng sẽ cảm nhận được hấp lực từ sức mạnh của Hắc Y thôi. Không phải đấy là nguyên nhân đoàn người hành hương bấu víu vào một vị thánh giả danh sao? Tại sao Thượng Quân vẫn khuất phục trước một vị vua bất tài? Đôi khi việc theo sau ai đó lại dễ dàng hơn.
Khi Fedyor xong chuyện, tôi yêu cầu người hầu mang bữa tối đến cho anh và khuyên anh chuẩn bị để về Os Alta lúc hừng đông.
“Tôi không biết chúng ta sẽ được đón nhận như thế nào đâu,” tôi báo trước.
“Chúng tôi sẽ sẵn sàng, moi soverenyi ,” anh ấy đáp rồi cúi chào.
Tôi giật mình khi nghe tước hiệu ấy. Trong tâm trí của tôi, nó vẫn còn thuộc về Hắc Y.
“Fedyor..Tôi mở lời trong lúc tiễn anh ra cửa. Rồi tôi khựng lại. Tôi không thể tin được điều mình sắp nói, nhưng rõ ràng Nikolai đã tạo nên ảnh hưởng với tôi - không biết là tốt hay xấu. “Tôi biết anh đi đường nhọc mệt, nhưng hãy cố sửa soạn một chút trước ngày mai. Chúng ta phải để lại ấn tượng tốt mới được.”
Anh ấy thậm chí chẳng chớp mắt - chỉ cúi chào lần nữa rồi đáp, “Dạ, soverenyi.” trước khi biến mất trong màn đêm.
Tuyệt, tôi nghĩ. Một mệnh lệnh vừa ban ra, mình chỉ phải nói tầm mấy ngàn câu nữa.
Sáng hôm sau, tôi mặc bộ kefta tinh xảo của mình rồi bước xuống cầu thang dinh thự cùng Mal và cặp sinh đôi. Huy hiệu hình mặt trời lấp lánh trên ngực họ, nhưng tất cả vẫn mặc áo vải thường dân. Nikolai có thể sẽ không thích, nhưng tôi muốn xóa mờ khoảng cách giữa Grisha và dân chúng Ravka.
Dù đã được cảnh cáo rằng có rất nhiều dân tị nạn và người hành hương ở Os Alta, nhưng lần này Nikolai không khăng khăng bắt tôi ngồi xe nữa. Gã muốn người ta nhìn thấy tôi tiến vào thành phố. Nhưng đấy không có nghĩa gã sẽ thôi khoa trương. Cả tôi và cận vệ đều ngồi trên những chú bạch mã xinh đẹp, và binh sĩ từ trung đoàn của gã đi bọc hai bên hông, mỗi người đều khoác trên mình gia huy hai con đại bàng của Ravka và những lá cờ vẽ hình mặt trời.
“Vẫn ý nhị như mọi khi,” tôi thở dài.
“Cô đánh giá cao sự khoe khoang của ta rồi,” gã đáp trả trong lúc leo lên lưng một con ngựa xám lốm đốm. “Nào, chúng ta cùng ghé thăm mái ấm duyên dáng thuở nhỏ của ta chứ?”
Buổi sáng hôm ấy rất ấm áp, và những ngọn cờ của đoàn diễu hành rũ xuống lặng im trong không gian tĩnh mịch khi chúng tôi chậm rãi hướng về kinh thành từ đường Vy. Thường thì những người trong hoàng gia sẽ dọn đến cung điện mùa hè ở vùng hồ để nghỉ mát. Nhưng Os Alta được bảo vệ cẩn mật hơn, nên họ chọn đến nấp bóng phía sau bức tường thành đôi nổi tiếng của nó.
Tôi cưỡi ngựa trong lơ đễnh. Tôi không ngủ đủ giấc và, dù còn lo sợ, nắng ấm buổi sớm cùng nhịp lắc lư đều đều của đoàn ngựa, kết hợp với tiếng vo ve của côn trùng xung quanh làm tôi cứ gà gật. Nhưng khi lên đến đỉnh đồi ở ngoại ô thị trấn thì tôi liền nhanh chóng tỉnh hẳn.
Ở phía xa, tôi nhìn thấy Os Alta, thành phố trong mơ, những đường xoắn ốc trắng tinh và gai góc giữa nền trời không mây gợn. Chặn giữa chúng tôi và kinh thành là những quân lính được trang bị vũ trang đứng thành nhiều hàng dài nối tiếp nhau, cục diện dàn trận vô cùng hoàn hảo. Hàng trăm binh sĩ Thượng Quân, dễ đến một ngàn người - bộ binh, kỵ binh, chỉ huy, lính thường. Nắng sáng lấp lánh trên cán gươm, và súng trường dựng đứng trên vai họ.
Một người đàn ông cưỡi ngựa dẫn trước họ. Anh ta mặc áo chỉ huy với đính đầy huy hiệu và ngồi trên lưng con ngựa lớn nhất tôi từng thấy. Phỏng chừng nó chở được những hai Tolya chứ không ít.
Nikokai dõi theo kỵ sĩ đang phi nước đại qua lại giữa hàng ngũ và thở dài. “À,” gã cất tiếng. “Hình như anh trai ta đến chào chúng ta đấy.”
Chúng tôi thong thả cưỡi ngựa xuống dốc, cuối cùng dừng lại trước đám đông binh sĩ đang tập hợp. Có vẻ đoàn diễu hành gồm con nhóc Grisha ương bướng cùng nhóm hành hương rách nát của chúng tôi đã mất vẻ hào nhoáng bậc nhất, bất chấp những bạch mã và cờ hiệu lộng lẫy theo sau. Nikolai thúc ngựa về trước, và anh trai gã phi nước kiệu đến đối diện.
Tôi từng gặp qua Vasily Lantsov vài lần ở Os Alta. Hắn cũng khá đẹp trai, dù không may thừa hưởng cái cằm bạc nhược của cha, và mí mắt trĩu nặng đến mức ai nhìn cũng tưởng hắn đang chán chường hoặc ngà ngà say. Nhưng bây giờ nom hắn đã thức tỉnh khỏi vẻ ngây ngây thường nhật rồi. Hắn ngồi thẳng lưng trên yên ngựa, cả người toát ra vẻ kiêu ngạo và cao sang. Đứng cạnh hắn, Nikolai nhìn trẻ dại quá đỗi.
Nỗi sợ nhói lên trong tôi. Nikolai lúc nào cũng nắm quyền kiểm soát trong mọi tình huống. Điều đó khiến tôi quên khuấy mất gã chỉ lớn hơn tôi và Mal vài tuổi, một thuyền trưởng thiếu niên mong được làm vị vua trẻ tuổi.
Nikolai rời triều đình những bảy năm, và tôi không nhớ mình có thấy Vasily trong khoảng thời gian đó không. Nhưng không có nước mắt hay câu chào lớn tiếng nào cả. Hai vị hoàng tử chỉ đơn giản xuống ngựa và siết tay ôm nhau trong thoáng chốc. Vasily quét mắt qua đoàn tùy tùng và cố ý dừng lại ở chỗ tôi.
“Vậy đây là cô gái được em xác nhận là Tiết Dương Sư?”
Nikolai nhướng mày. Anh trai vừa mở đường cho gã một cách vô cùng thuận lợi. “Chuyện này rất dễ để chứng minh mà.” Gã gật đầu với tôi.
Cô đánh giá cao sự khoe khoang của ta rồi. Tôi giơ tay lên và triệu hồi một luồng sáng chói lòa đổ ập trên đoàn binh sĩ như thác nước nóng ấm. Họ giơ tay lên, và vài người phải lùi lại vì đoàn ngựa ngoảnh đi và rên rỉ. Tôi để ánh sáng tàn lụi dần. Vasily khịt mũi.
“Em tốn công lắm nhỉ, em trai.”
“Anh không đoán được đâu, Vasya,” Nikolai hài lòng đáp trả. Vasily chúm miệng khó chịu trước cách gọi thiếu trang trọng của Nikolai. Gần như hắn đang tỏ vẻ nghiêm nghị. “Em ngạc nhiên khi thấy anh ở Os Alta đấy,” Nikolai tiếp tục. “Em tưởng anh sẽ đến Caryeva xem cuộc đua.”
“Anh đã ở đó,” Vasily nói. “Con ngựa lang xanh của anh đã trình diễn rất tuyệt vời. Nhưng khi nghe tin em trở về thì anh muốn đến đón.”
“Đã phiền anh rồi.”
“Hoàng tử trở về đâu phải chuyện nhỏ chứ,” Vasily đáp. “Dù chỉ là con thứ mà thôi.”
Sự nhấn mạnh trong câu nói quá rõ ràng, và nỗi sợ trong tôi lớn dần lên. Có khi Nikolai đã đánh giá thấp hứng thú của Vasily trong việc kế vị. Tôi không muốn tưởng tượng những sai sót hay tính nhầm khác của gã sẽ gây hậu quả gì cho chúng tôi nữa.
Nhưng Nikolai chỉ cười. Tôi nhớ đến lời khuyên của gã: Đáp lại khinh miệt bằng tiếng cười.
“Nên người con thứ phải học cách an phận với những gì mình có,” gã nói. Đoạn gã cho gọi một binh sĩ đang đứng nghiêm dưới hàng ngũ. “Trung sĩ Pechkin, ta nhớ đã gặp ông trong chiến dịch Halmhend. Chân ông hẳn đã lành rồi mới có thể đứng vững như bàn thạch như thế.”
Khuôn mặt người trung sĩ hiện rõ ngạc nhiên. “Dạ, moi tsarevich,” ông lễ phép đáp lời.
“‘Thưa ngài’ là được rồi, trung sĩ ạ. Ta là chỉ huy khi mặc bộ đồ này, không phải hoàng tử.” Khóe môi Vasily lại giật giật. Cũng như nhiều công tử quý tộc khác, hắn đã nhận nhiệm vụ danh dự và phục vụ quân ngũ một cách nhàn hạ trong lều chỉ huy ở rất xa chiến trường. Nhưng Nikolai đã nhập ngũ vào bộ binh. Gã tự thân nỗ lực để giành lấy huy hiệu và cấp bậc của mình.
“Vâng, thưa ngài,” người trung sĩ nói. “Nó chỉ hơi nhức lúc trời mưa thôi.”
“Vậy ta đoán quân Fjeda phải cầu bão hằng ngày mất. Ông đã xử đẹp khá nhiều tên trong bọn chúng mà, nếu ta nhớ không nhầm.”
“Và ngài cũng vậy, nếu tôi nhớ không nhầm,” người trung sĩ cười và bảo.
Tôi suýt bật cười. Chỉ bằng một cuộc hội thoại, Nikolai đã giành lấy quyền kiểm soát quân đội từ tay anh trai mình. Tối nay, khi binh sĩ họp nhau trong những quán rượu ở Os Alta hay chơi bài ở doanh trại, đây sẽ là chủ đề được họ bàn tán: vị hoàng tử đã nhớ tên một trung sĩ tầm thường, vị hoàng tử đã kề vai sát cánh với bọn họ trong chiến đấu mà không màng địa vị giàu sang.
“Anh trai,” Nikolai quay sang Vasily. “Chúng ta mau về cung để chấm dứt màn chào hỏi nhàm chán này đi. Em có một két rượu whiskey nước Kerch cần được uống, và em muốn anh cho lời khuyên về một con ngựa non em tìm thấy ở Ketterdam. Họ nói cha của nó là giống Dagrenner, nhưng em không chắc lắm.”
Vasily cố giấu vẻ hứng thú, nhưng hình như hắn không kiềm được. “Dagrenner? Có giấy chứng nhận không?”
“Anh cứ đến mà xem.”
Dù nét mặt vẫn còn dè chừng, nhưng Vasily liền nói vài lời với một trong số những sĩ quan chỉ huy và nhẹ nhàng leo lên lưng ngựa. Hai anh em sau đó đến dẫn trước đội hình, và đoàn diễu hành của chúng tôi lại tiếp tục di chuyển.
“Nhanh gọn lẹ,” Mal thì thầm với tôi trong lúc hai đứa đi ngang qua hàng ngũ binh sĩ. “Nikolai không phải thằng ngốc đâu.”
“Mình mong là vậy,” tôi tán thành. “Vì lợi ích của đôi bên.”
Càng đến gần kinh thành hơn, tôi càng vỡ lẽ những điều mà khách mời của Bá tước Minkoff đã nói. Một thành phố lều đã mọc lên xung quanh tường thành, và đoàn người nối thành hàng dài đợi trước cổng. Vài người đang cãi nhau với lính canh, hẳn là đòi được vào thành. Binh sĩ trang bị vũ trang vẫn đang canh gác từ dãy tường cũ có những lỗ châu mai - Sự phòng vệ rất tốt cho một đất nước đang chiến tranh, và lời nhắn chí tử để người dân bên dưới cư xử cho phải phép.
Dĩ nhiên, cổng thành rộng mở cho những hoàng tử của Ravka, và chúng tôi tiếp tục hành quân ngang qua đám đông không chút chùn chân.
Nhiều chiếc lều và xe chở hàng được đánh dấu bằng những hình vẽ mặt trời sơ sài, trong lúc đi xuyên qua khu cắm trại tạm bợ ấy, tôi nghe thấy tiếng la hét vốn sớm đã thành quen thuộc “Sankta Alina.”
Tôi thấy thật ngu ngốc khi làm vậy, nhưng vẫn ép mình nhấc tay lên vẫy chào, quyết tâm tỏ ra hợp tác một chút. Đoàn người hành hương reo hò và vẫy tay đáp lại, nhiều người chạy theo bắt kịp chúng tôi. Nhưng những người tị nạn khác chỉ im lặng đứng bên lề đường, biểu cảm hoài nghi và thậm chí thù địch thấy rõ.
Họ thấy những gì? Tôi tự hỏi. Một con bé Grisha được ưu đãi đang trở về cung điện xa hoa êm ấm của mình trên đồi, trong khi họ phải tự nhóm lửa nấu ăn và ngủ dưới bóng thành phố đã từ chối cho họ trú thân? Hay thứ gì tệ hại hơn? Một kẻ nói dối? Một kẻ lừa đảo? Một con bé dám gọi mình là thánh sống?
Tôi thấy biết ơn khi vào đến khu vực an toàn sau dãy tường thành.
Đoàn diễu hành bắt đầu giảm tốc độ sau khi vào thành. Thị trấn bên dưới sầm uất vô cùng, vỉa hè đông đúc người đi bộ tràn xuống đường và làm tắc nghẽn giao thông. Cửa sổ của các tiệm bán hàng được dán đầy biển hiệu cho biết sản phẩm nào còn hàng, và trước mỗi cánh cửa là những hàng người dài dằng dặc. Mùi nước tiểu và rác thải hôi thối bao trùm xung quanh. Tôi muốn đưa tay che mũi nhưng đành nhịn và thở bằng miệng thay thế.
Đám đông ở đây cũng reo hò và nhìn tôi trân trối, nhưng họ vẫn tế nhị hơn những người ở ngoài cổng.
“Không có người hành hương,” tôi nhận xét.
“Họ không được phép vào thành,” Tamar cất tiếng. “Lão Tư tế đã thay mặt Đức vua ra lệnh cấm những người bỏ đạo và môn đệ của mình trở về Os Alta.”
Lão Tư tế đã câu kết với Hắc Y để lật đổ ngai vàng. Dù sau đó hai người đã cắt đứt thì cũng không có lý do gì để Đức vua tin tưởng lão linh mục và giáo phái của lão hết. Bao gồm cả mày đấy, tôi tự nhắc bản thân. Mày chỉ là đứa ngu ngốc quay về Đại Điện và mong được khoan hồng thôi.
Chúng tôi băng qua con kênh rộng lớn và bỏ lại những ồn ã xô bồ của Hạ trấn phía sau. Tôi nhận ra căn chòi gác trên cầu đã được củng cố vững chắc, nhưng lúc đến gần thì có vẻ như Thượng Trấn không thay đổi gì mấy. Đại lộ rộng rãi vẫn vắng vẻ và yên bình, những tòa nhà oai nghiêm vẫn được gìn giữ cẩn thận. Chúng tôi băng ngang một công viên có những đàn ông và phụ nữ ăn mặc hợp thời đang tản bộ trên mặt đường lát đá hay hít thở khí trời trên xe ngựa. Trẻ con chơi ở babki, vú em theo trông chừng bên cạnh, và một cậu nhóc đội nón rơm ngồi trên lưng ngựa nhỏ với chiếc bờm thắt bím, dây cương được một người mặc đồng phục người hầu giữ cẩn thận.
Họ đều quay lại nhìn lúc chúng tôi đi ngang, nhấc nón, che miệng thì thầm, cúi đầu và nhún chào khi nhìn thấy Vasily và Nikolai. Họ có bình tĩnh và vô lo như vẻ ngoài không? Thật khó để nghĩ rằng mọi người ở đây đều ngơ ngác trước hiểm nguy đang đe dọa Ravka hay cơn bạo loạn bên kia cầu, nhưng càng khó để tôi nghĩ rằng họ đã tin tưởng Đức vua sẽ bảo vệ mình.
Chúng tôi đến cổng vàng của Đại Điện sớm hơn mong muốn. Tiếng cổng đóng sầm phía sau khiến tôi cảm thấy hoảng loạn. Lần cuối cùng tôi bước qua cổng là trên một cỗ xe ngựa chất đầy phông màn sân khấu, trốn chạy khỏi Hắc Y, một mình rong ruổi.
Nếu đây là cái bẫy thì sao? Tôi chợt nghĩ. Nếu không có sự ân xá nào từ Đức Vua? Nếu Nikolai chưa bao giờ có ý định cho phép tôi chỉ huy Hạ Quân? Nếu họ còng tay tôi và Mal bằng xích sắt và quăng hai đứa vào xà lim ẩm ướt nào đó thì sao?
Dừng lại tôi tự quở mình. Mày không còn là con nhóc bé bỏng hay run sợ trong đôi bốt được quân đội cấp cho nữa. Mày là Grisha, là Tiết Dương Sư. Họ cần mày. Và mày có thể đánh đổ toàn bộ cung điện này trước mặt họ nếu mày muốn. Tôi ngồi thẳng lưng và cố ổn định nhịp tim hơn.
Khi chúng tôi đến chỗ vòi phun nước có hình hai con đại bàng, Tolya đỡ tôi xuống ngựa. Tôi nheo mắt nhìn Đại Điện, những ban công trắng sáng chất chồng vật trang trí bằng vàng và tượng điêu khắc lớp này đến lớp khác. Nó vẫn xấu xí và kinh tởm giống trong trí nhớ của tôi.
Khuôn mặt Mal trông nhợt nhạt vô cùng. Tôi chùi bàn tay ẩm ướt lên kefta và theo sau hai vị hoàng tử, để lại đoàn tùy tùng phía sau.
Bên trong hành lang cung điện thinh lặng đáng sợ trong lúc chúng tôi băng qua hết phòng này đến căn phòng lấp lánh khác. Tiếng bước chân vọng lại trên sàn gỗ bóng loáng, và nỗi lo của tôi lớn dần lên theo từng bước. Ngay trước cửa dẫn vào phòng thiết triều, tôi thấy Nikolai hít một hơi sâu. Binh phục của gã sạch không tì vết, khuôn mặt điển trai hiện rõ đường nét của một vị hoàng tử trong truyện cổ tích. Bỗng dưng tôi thấy nhớ sống mũi gãy và đôi mắt màu lục nhạt nhòa của Sturmhond.
Cánh cửa bật mở và người hầu thông báo, “Tserarevich Vasily Lantsov và Đại Công Tước Nikolai Lantsov.”
Nikolai đã bảo tên chúng tôi sẽ không được thông báo nhưng cả hai cứ theo sau gã và Vasily. Bằng từng bước ngần ngại, chúng tôi nghe theo, giữ khoảng cách vừa đủ với hai vị hoàng tử.
Một tấm vải màu xanh nhạt trải dài khắp phòng. Ở đầu bên kia là một nhóm triều thần ăn mặc đỏm dáng và quân sư vây quanh một bệ đài nhô cao. Bên trên đặt hai ngai vàng hoàng kim giống hệt nhau, ngự nơi đó là Đức vua và Hoàng hậu của Ravka.
Không có linh mục nào , tôi nhận ra trong lúc đến gần hơn. Lão Tư tế lúc nào cũng luẩn quẩn đâu đó phía sau nhà vua, nhưng giờ lão lại vắng mặt một cách đáng ngờ. Hình như lão vẫn chưa bị thay thế bởi một quân sư tâm linh nào khác.
Đức vua trông yếu đuối và mỏng manh hơn lần cuối cùng tôi diện kiến. Lồng ngực nhỏ hẹp của ông như tự động hõm sâu vào bên trong, và bộ râu rũ rượi giờ đã lốm đốm xám tro. Nhưng thay đổi lớn nhất phải kể đến Hoàng hậu. Không còn Genya ở bên để trùng tu khuôn mặt, nhìn bà như già đi hai mươi tuổi chỉ trong vài tháng. Làn da của ba không còn căng mịn như xưa. Những nếp nhăn sâu hoắm bắt đầu xuất hiện xung quanh mũi và miệng, và đồng tử sáng ngời đã mờ dần thành màu xanh tự nhiên kém bắt mắt hơn. Bất kì thương cảm nào tôi dành cho Hoàng hậu đã bị che lấp bởi ký ức về cách bà ta đối xử với Genya. Có lẽ nếu bà không khi dễ người hầu của mình như vậy thì Genya đã không ấm ức mà về phe Hắc Y. Kết quả nhiều khi đã khác hẳn.
Khi chúng tôi đến đứng dưới chân đài, Nikolai cúi đầu thật sâu. “Moi tsar , gã chào. Moya tsaritsa. "
Đức vua và Hoàng hậu cúi xuống nhìn con trai của mình, giây phút ấy thật đằng đẵng và hoang mang. Rồi như có gì mong manh vừa vỡ òa bên trong Hoàng hậu, bà nhào khỏi ngai vàng và nhảy khỏi bậc thang trong bộ áo xúng xính những lụa là và ngọc trai.
“Nikolai! bà khóc nấc trong lúc ôm chặt con trai.
“Madraya,” gã mỉm cười và đáp, vòng tay ôm lấy bà.
Có tiếng xì xào từ phía triều thần và một vài tiếng vỗ tay. Nước mắt dâng đầy trong mắt Hoàng Hậu. Đấy là cảm xúc chân thật đầu tiên tôi từng thấy bà biểu lộ.
Đức vua chậm rãi đứng dậy, ông được đỡ bởi một người hầu vừa nhanh chóng đến bên và dắt ông xuống từng bậc thang trên bệ đài. Ông ta yếu lắm rồi. Tôi đoán chuyện kế vị sẽ được đề cập sớm hơn mình nghĩ.
“Lại đây, Nikolai, Đức vua cất tiếng, ông giơ tay về phía con trai. “Lại đây.
Nikolai vươn khuỷu tay về phía cha trong khi mẹ của gã vẫn đang siết lấy cánh tay còn lại, họ rời khỏi phòng thiết triều mà không buồn nhìn đến chúng tôi. Vasily theo sau. Mặt hắn vẫn điềm tĩnh, nhưng tôi vẫn kịp thấy cái mím môi ra điều hớt lẻo ấy.
Mal và tôi đứng đó, không biết nên làm gì tiếp theo. Thật tốt khi thành viên hoàng gia đã biến mất để họp mặt trong riêng tư, nhưng chúng tôi thì sao? Không ai bảo chúng tôi rời đi hay ở lại. Những quân sư của Đức vua dò xét chúng tôi bằng vẻ tò mò không giấu giếm.
trong khi các triều thần khác khúc khích và xầm xì. Tôi cố ngăn bản thân không ngọ nguậy và cố nghiêng đầu ngạo mạn, đấy là tôi mong thế.
Thời gian rề rề trôi. Tôi đói và mệt và khá chắc rằng một bên chân đã tê rần, nhưng chúng tôi vẫn đứng đợi. Có lúc tôi tưởng mình đã nghe tiếng la hét từ phía hành lang. Có lẽ bọn họ đang cãi xem nên để chúng tôi đứng bao lâu.
Cuối cùng, sau khoảng thời gian tưởng như gần một giờ, bốn người đã trở lại. Đức vua đang hào hứng. Khuôn mặt Hoàng hậu trắng bệch. Vasily trông xám xịt. Nhưng thay đổi dễ nhận ra nhất là Nikolai. Gã nhìn thanh thản hơn cũng như lấy lại được dáng vẻ huênh hoang tôi nhận ra lúc ở trên thuyền Volkvolny.
Họ biết rồi, tôi vỡ lẽ. Gã đã thú nhận mình là Sturmhond.
Đức vua và Hoàng hậu ngồi lại trên ngai vàng. Vasily đến đứng sau Đức vua, trong khi Nikolai đến đứng sau Hoàng hậu. Bà nhấc tay lên, tìm kiếm tay gã, và gã đặt nó lên vai bà. Đấy là cách một người mẹ đối xử với con mình. Tôi đã qua cái tuổi ao ước được gặp đấng sinh thành mà mình sẽ không bao giờ biết rồi, nhưng tôi vẫn cảm động vì cử chỉ ấy.
Ý nghĩ đa cảm của tôi rời khỏi tâm trí khi Đức vua nói, “Ngươi quá trẻ để dẫn dắt Hạ Quân.”
Ông còn không gọi đến tên tôi. Tôi cúi đầu công nhận. “Vâng, moi tsar”
“Ta rất muốn tử hình ngươi ngay lập tức, nhưng con trai ta bảo làm thế chỉ biến ngươi thành kẻ tử vì đạo.”
Tôi sững người. Lão Tư tế chắc thích lắm tôi nghĩ trong lúc nỗi sợ lan dọc khắp thân thể. thêm một hình minh họa vui vẻ trong cuốn sách đỏ: Sankta Alina trên giá treo cổ.
“Nó nghĩ chúng ta có thể tin ngươi,” Đức vua nói giọng run run. “Ta không chắc lắm. Chuyện ngươi trốn thoát khỏi Hắc Y có vẻ hư cấu, nhưng ta không thể chối rằng Ravka cần ngươi phụng sự.”
Ông ta nói như thể tôi là người giữ đất hay thư ký tỉnh vậy. Sám hối đi , tôi tự nhắc mình, và kiềm lại lời đáp trả mỉa mai.
“Được phục vụ Đức vua Ravka là vinh hạnh lớn nhất của thần,” tôi nói.
Hoặc Đức vua thích được nịnh bợ hoặc Nikolai đã làm rất tốt trong việc bào chữa cho tôi, vì Đức vua chỉ càu nhàu rồi bảo, “Được thôi. Tạm thời ngươi sẽ phục vụ ta dưới tư cách chỉ huy quân đội Grisha.”
Dễ dàng vậy thôi sao? “Thần...cảm tạ người, moi tsar Tôi lắp bắp tỏ vẻ kinh ngạc biết ơn.
“Nhưng nhớ lấy,” ông ta nói, vung vẩy ngón tay về phía tôi. “Nếu ta tìm thấy bất kì chứng cớ nào cho thấy ngươi đang xúi giục bọn chúng chống lại ta hay liên lạc với đầu lĩnh bỏ đạo thì ta sẽ treo cổ ngươi ngay, khỏi van xin phán xét gì hết.” Giọng ông ta cao vút lên thành tiếng rên la cáu kỉnh. “Dân chúng nói ngươi là thánh nữ, nhưng với ta ngươi chỉ là một đứa tị nạn khố rách áo ôm mà thôi. Hiểu chưa?!”
Một đứa tị nạn khố rách áo ôm và cứu cánh khả dĩ nhất để giữ lấy cái ngai vàng bóng loáng đó của ông tôi thầm nghĩ với cơn giận chợt dâng lên như sóng cồn, nhưng tôi cố dẹp tự ái và cúi đầu thấp nhất có thể. Hắc Y đã từng cảm thấy thế này ư? Khi bị bắt hạ mình và luồn cúi trước một tên ngốc phóng đãng?
Đức vua khẽ huơ bàn tay nổi đầy gân xanh của mình. Chúng tôi đã có thể rời đi. Tôi liếc sang Mal.
Nikolai hắng giọng. “Phụ vương,” gã nói, “Còn chuyện người dò đường.”
“Hử?” Đức vua hỏi lại, ông ta ngước lên như thể nãy giờ vẫn đang gà gật. “Người...? À, phải.” Ông ta hướng đôi mắt kèm nhèm của mình sang Mal và cất giọng thờ ơ, “Ngươi đã đào ngũ khỏi quân đồn và trực tiếp cãi lệnh chỉ huy. Tội này đáng bị treo cổ.”
Tôi liền rít vào một hơi sâu. Bên cạnh tôi, Mal đứng sững cả người. Một ý nghĩ xấu xa chợt nhảy vào đầu tôi: Nếu Nikolai muốn xóa sổ Mal thì đây là cách để thực hiện điều đó dễ dàng.
Tiếng lao xao sôi nổi vang lên từ đám đông vây quanh bệ đài. Tôi đã đưa hai đứa vào tình huống gì thế này? Tôi mở miệng, nhưng Nikolai đã cắt ngang trước khi tôi kịp phát biểu.
“Moi tsar,” gã cất giọng nhún nhường. “xin thứ lỗi, nhưng người dò đường đã giúp Tiết Dương Sư trốn khỏi tay kẻ phản bội muốn lật đổ ngai vàng.”
“Đấy là nếu cô ta có từng gặp nguy hiểm thật sự.”
“Con đã tận mắt nhìn thấy cậu ta chống lại Hắc Y. Cậu ấy là một người bạn đáng tin, và con nghĩ rằng những gì cậu ấy làm đều vì lợi ích của Ravka.” Môi dưới của Đức vua trề ra, nhưng Nikolai vẫn tiếp tục. “Con sẽ thấy an tâm hơn khi biết cậu ấy đang ở Tiểu Điện.”
Đức vua cau mày. Chắc lại nghĩ đến ăn trưa rồi đi ngủ, tôi nhủ thầm.
“Ngươi có muốn biện hộ gì không, nhóc con?” ông hỏi.
“Thần chỉ làm những gì mình nghĩ là đúng,” Mal bình thản đáp lại.
“Dường như con trai ta cảm thấy ngươi có lý do thích đáng.”
“Thần đoán bất kì người nào cũng sẽ nghĩ rằng lý do của mình thích đáng,” Mal bảo. “Nhưng ấy vẫn là đào ngũ.”
Nikolai nhướng mắt, và tôi thật muốn lay Mal thật mạnh cho tỉnh. Cậu ấy không thể bớt cương trực và thẳng thắn một lần à?
Đức vua càng cau có hơn. Chúng tôi chờ đợi.
“Tốt,” cuối cùng ngài nói. “Đuổi thêm một kẻ phản bội thì đã sao? Ngươi sẽ bị sa thải trong nhục nhã.”
“Nhục nhã?” tôi buột miệng.
Mal chỉ cúi chào và nói, “Tạ ơn ngài, moi tsar”
Đức vua biếng nhác huơ nhẹ tay. “Đi đi,” ông ta hờn dỗi ra lệnh.
Tôi định ở lại cãi cho ra lẽ, nhưng Nikolai đã trừng mắt nhìn cảnh báo, và Mal sớm đã quay đi. Tôi phải nhanh chóng đuổi theo trong lúc cậu ấy bước xuống lối đi trải thảm xanh.
Ngay sau khi rời khỏi phòng thiết triều và những cánh cửa đóng lại sau lưng, tôi liền lên tiếng, “Chúng ta sẽ nói chuyện với Nikolai. Chúng ta sẽ bảo anh ta đệ đơn thỉnh cầu Đức vua.”
Mal thậm chí chẳng buồn dừng bước. “Vô ích thôi,” cậu đáp. “Mình biết là sẽ thế này mà.”
Cậu ấy nói vậy, nhưng tôi nhận ra phần nào đó trong cậu vẫn còn hy vọng thông qua bờ vai ủ rũ ấy. Tôi muốn nắm lấy tay Mal để cậu đứng lại, nói rằng tôi xin lỗi, rằng chúng tôi sẽ tìm cách sửa chữa mọi thứ bằng cách nào đó. Thay vào đó, tôi nhanh chân bước bên cạnh, chật vật đuổi kịp cậu, không quên để ý những người hầu cận đang dõi theo cả hai ở mọi lối ra vào.
Chúng tôi đi ngược lại lộ trình vừa rồi trên hành lang bóng loáng của cung điện và bước xuống cầu thang lát đá cảm thạch. Fedyor và nhóm Grisha của anh ta đang đợi sẵn trên lưng ngựa. Họ đã cố chải chuốt tinh tươm nhất có thể, nhưng những bộ kefta sặc sỡ của họ trông vẫn còn chút bẩn. Tamar và Tolya đứng cách đó một khoảng ngắn, huy hiệu hình mặt trời tôi tặng họ lấp lánh trên áo vải dài thắt ngang lưng. Tôi hít một hơi sâu. Nikolai đã làm hết khả năng của mình. Bây giờ đến lượt tôi.