Sáng sớm hôm sau, tôi đi tìm David trên nóc Tiểu Điện, nơi bắt đầu khởi công những chiếc đĩa gương khổng lồ của anh ta. Anh ta dựng một chỗ làm việc tạm thời dưới bóng râm của một trong những mái vòm, và chỗ ấy đã sớm bừa bộn những mảnh vụn lấp lánh cùng bản vẽ. Cơn gió thoáng qua làm nếp giấy khẽ xao động. Tôi nhận ra nét bút nguệch ngoạc của Nikolai ở bên lề một trang giấy.
“Mọi chuyện sao rồi?” Tôi hỏi.
“Tốt hơn,” anh ta đáp, nghiên cứu bề mặt bóng loáng của chiếc đĩa gần nhất. “Tôi nghĩ mình đã tính toán đúng độ cong. Chúng ta sắp được thử nghiệm rồi.”
“Sớm cỡ nào?” Chúng tôi vẫn đang tiếp nhận những bản báo cáo mâu thuẫn về tung tích của Hắc Y, nhưng dù anh ta vẫn chưa kiến tạo xong quân đội của mình thì cũng không lâu đâu.
“Mấy tuần nữa,” David nói.
“Lâu vậy sao?”
“Hoặc thử nghiệm sớm, hoặc thử nghiệm thành công,” anh ta càu nhàu.
“David, tôi cần biết...”
“Tôi đã nói với cô tất cả những gì mình biết về Morozova.”
“Không phải ông ta,” tôi phân bua. “Không hẳn. Nếu. nếu tôi muốn tháo chiếc vòng cổ thì phải làm thế nào?”
“Không thể.”
“Không phải bây giờ. Nhưng sau khi chúng ta.”
“Không,” David trả lời mà không buồn nhìn tới tôi. “Nó không giống những bộ khuếch đại khác. Cô không thể cứ tháo nó ra được. Cô phải phá hủy nó, làm rối cấu trúc của nó. Kết quả sẽ rất thê thảm.”
“Thê thảm thế nào?”
“Tôi không chắc lắm,” anh ta nói. “Nhưng tôi chắc Vực Tối so với nó chỉ là vết cắt giấy mà thôi.”
“Ồ,” tôi nhỏ giọng. Vậy chiếc vòng tay cũng giống thế. Dù tôi đang trở thành thứ gì, giờ đã không còn đường quay đầu. Tôi hằng mong những ảo ảnh là hậu quả từ vết cắn của nichevoya , rằng bằng cách nào đó triệu chứng sẽ thuyên giảm khi vết thương dần hồi phục. Nhưng có vẻ chuyện đó sẽ không xảy ra. Mà dù có thế, tôi vẫn sẽ bị trói buộc với Hắc Y qua chiếc vòng cổ mãi mãi. Một lần nữa, tôi thắc mắc sao anh ta không tự tay giết chết Hải Long và gắn kết chúng tôi chặt chẽ hơn.
David cầm một lọ mực lên và bắt đầu xoay nó trong tay. Anh ta trông thật khốn khổ. Không chỉ khốn khổ , tôi nghĩ. Tội lỗi. Anh ta đã rèn nên kết nối này, đã đặt xiềng xích này quanh cổ tôi vĩnh viễn.
Một cách nhẹ nhàng, tôi lấy lọ mực khỏi tay anh ta. “Nếu anh không làm thế, Hắc Y cũng sẽ tìm người khác.”
Anh ta co rúm người, cử chỉ xen lẫn gật đầu và nhún vai. Tôi đặt lọ mực xuống sát cạnh bàn, nơi những ngón tay bối rối của anh ta không với tới được, rồi quay lưng bỏ đi.
“Alina...?”
Tôi dừng chân và ngoái nhìn anh ta. Hai má anh ta trở nên đỏ bừng. Luồng gió ấm áp thổi tung chân tóc rối bù. Ít nhất mái tóc cắt ngắn xấu xí ấy đang dài ra.
“Tôi nghe nói, tôi nghe nói Genya cũng có ở trên thuyền. Với Hắc Y.”
Tôi chợt thấy tiếc cho Genya. Vậy ra David cũng không hoàn toàn ngờ nghệch.
“Đúng vậy,” tôi nói.
“Cô ấy không sao chứ?” Anh ta hỏi trong hy vọng.
“Tôi không biết,” tôi thú nhận. “Cô ấy vẫn ổn khi chúng tôi trốn thoát.”
Nhưng nếu Hắc Y biết cô ấy đã tốt bụng để chúng tôi rời đi, tôi không biết anh ta sẽ xử lý cô ấy thế nào. Tôi tần ngần. “Tôi đã năn nỉ cô ấy đi cùng.”
Mặt anh ta trầm lại. “Nhưng cô ấy đã ở lại?”
“Tôi nghĩ cô ấy cho rằng mình không có lựa chọn,” tôi nói. Tôi không thể tin bản thân đang bào chữa cho Genya, nhưng tôi không thích David coi thường cô ấy.
“Tôi đáng ra...” anh ta hình như không biết cách kết câu.
Tôi muốn nói gì đó để an ủi, để yên tâm. Nhưng quá khứ của tôi đã có nhiều sai lầm đến nỗi tôi không thể nào nghĩ đến điều gì hay ho nữa.
“Chúng ta chỉ có thể cố gắng hết sức thôi,” tôi nói nghe như dở hơi.
Khi ấy David đã nhìn tôi, ân hận rõ rệt trên khuôn mặt. Dù có nói gì đi nữa, chúng tôi đều biết sự thật phũ phàng. Chúng tôi nỗ lực hết mình. Chúng tôi cố gắng. Và thường thì, nó chẳng tạo nên khác biệt gì cả.
Tôi đem theo tâm trạng u ám của mình đến dự buổi họp tiếp theo ở Đại Điện. Kế hoạch của Nikolai dường như đang có hiệu quả. Dù Vasily vẫn lê xác đến phòng hội động để tham dự cuộc họp với các bộ trưởng, hắn ngày càng đi trễ hơn, và thi thoảng tôi còn bắt gặp hắn ngủ gật nữa. Có lần hắn không xuất hiện, Nikolai đã lôi hắn khỏi giường, hào hứng yêu cầu hắn thay trang phục và nói chúng tôi không thể tiến hành mà không có hắn. Vasily rõ ràng còn say rượu đã qua được nửa cuộc họp, nghiêng ngả ngồi ngay đầu bàn, trước khi hắn lao ra hành lang để nôn thốc nôn tháo vào một chậu hoa bóng loáng.
Hôm nay, cả tôi cũng chật vật giữ mình tỉnh táo. Mọi cơn gió đều biến mất, và dù cửa sổ mở thì phòng hội đồng đông đúc vẫn ngột ngạt không chịu nổi. Cuộc họp kéo dài lê thê đến khi một trong những đại tướng thông báo số lượng đang dần cạn kiệt của binh lính Thượng Quân. Đội ngũ bị hao hụt do chết chóc, đào ngũ, và nhiều năm chiến tranh khốc liệt, và với một đất nước sắp có chiến sự trên ít nhất một tiền tuyến hiện giờ, tình hình đang rất hiểm nghèo.
Vasily phẩy tay lười biếng và nói, “Có gì đâu mà cuống cả lên thế? Cứ giảm độ tuổi nhập ngũ là xong.”
Tôi ngồi thẳng lưng hơn. “Tới mức nào?” tôi gặng hỏi.
“Mười bốn? Mười lăm?” Vasily đề nghị. “Hiện giờ là bao nhiêu rồi?”
Tôi nghĩ đến tất cả những ngôi làng mà Nikolai và tôi đã đi qua, những nghĩa trang kéo dài hàng dặm. “Sao không hạ xuống mười hai cho rồi?” Tôi cáu tiết.
“Không người nào quá trẻ để phục vụ đất nước hết,” Vasily tuyên bố.
Tôi không biết ấy là do kiệt sức hay thịnh nộ, nhưng ngôn từ đã thoát ra khỏi miệng trước khi tôi kịp cân nhắc kĩ càng. “Nếu vậy dừng ở mười hai làm gì? Tôi nghe nói trẻ sơ sinh làm lính cảm tử tốt lắm đấy.”
Một tràng thì thầm phản đối vang lên từ phía nhóm quân sư của Đức vua. Nikolai siết nhẹ tay tôi cảnh cáo bên dưới bàn.
“Anh trai, đem trẻ con vào cũng không dừng chuyện đào ngũ được đâu,” gã nói với Vasily.
“Thì tìm mấy đứa đào ngũ ấy rồi xử phạt làm gương.”
Nikolai nhướng mày. “Anh có chắc bị quân đội bắn chết đáng sợ hơn việc bị bọn nichevoya xé xác không?”
“Nếu chúng có tồn tại,” Vasily chế giễu.
Tôi không tin được những gì mình đang nghe.
Nhưng Nikolai chỉ mỉm cười vui vẻ. “Em đã tận mắt nhìn thấy chúng trên thuyền Volkvolny. Làm sao anh ám chỉ em là kẻ nói dối được.”
“Làm sao em ám chỉ mưu phản là lựa chọn tốt hơn việc phục vụ Quân đội hoàng gia được.”
“Ý em là có thể những người này cũng yêu đời như anh vậy. Họ thiếu vũ khí, thiếu lương thực, và thiếu cả hy vọng. Nếu anh đọc kĩ báo cáo, anh sẽ biết rằng những chỉ huy đang gặp khó khăn trong việc giữ kỷ cương hàng ngũ.”
“Vậy thì họ nên đề ra hình phạt nặng hơn,” Vasily đáp trả. “Đấy là những gì bọn thường dân có thể hiểu mà.”
Tôi đã đấm một hoàng tử rồi. Thêm một tên nữa thì sao? Tôi đã nhổm khỏi ghế trước khi Nikolai kéo tôi ngồi xuống lại.
“Họ hiểu chuyện khi no bụng và được chỉ dẫn rõ ràng,” gã bảo. “Nếu anh để em thi hành những đổi mới đã đề nghị và mở kho để...”
“Em không thể lúc nào cũng làm theo ý mình được, em trai ạ.”
Căng thẳng rạn nứt quanh căn phòng.
“Thế giới đang thay đổi,” Nikolai cất lời, âm điệu sắc bén xuất hiện trong giọng nói. “Chúng ta thay đổi theo, hoặc sẽ chẳng còn gì để tưởng nhớ nhân loại ngoài tro tàn.”
Vasily bật cười. “Anh không biết nên gọi em là kẻ gieo rắc sợ hãi hay một tên hèn nhát nữa.”
“Và em không biết nên gọi anh là thằng ngốc hay thằng ngu nữa.”
Mặt Vasily tím tái. Anh ta đứng bật dậy và đập tay xuống bàn. “Hắc Y chỉ có một mình. Nếu em sợ đối mặt với hắn...”
“Em đã đối mặt với hắn. Nếu anh không sợ hãi - nếu một trong các người không sợ hãi - thì đấy là vì tất cả đều thiếu hụt nhận thức về đối thủ mà chúng ta đang chống lại.”
Một vài đại tướng gật đầu. Nhưng nhóm quân sư của Đức vua, quý tộc Os Alta và công chức, trông đa nghi và sưng sỉa. Với họ, chiến tranh là những trận diễn hành, thuyết quân sự, những mô hình tí hon di chuyển trên bản đồ. Nếu phải lựa chọn, đây sẽ là những người liên minh với Vasily.
Nikolai so thẳng vai, lớp mặt nạ diễn viên lần nữa che phủ biểu cảm của gã. “Bình tĩnh nào, anh trai,” gã bảo. “Chúng ta đều mong muốn điều tốt đẹp nhất cho Ravka.”
Nhưng Vasily không để tâm đến chuyện được an ủi. “Điều tốt đẹp nhất cho Ravka là huyết thống Lantsov trên ngai vàng.”
Tôi hít một hơi sâu. Thinh lặng chết chóc đổ ập xuống phòng. Vasily đã gián tiếp gọi Nikolai là con hoang.
Nhưng Nikolai đã lấy lại bình tĩnh, và bây giờ không gì có thể lay chuyển được gã. “Vậy chúng ta hãy cầu nguyện cho vị vua xứng đáng của Ravka,” gã nói. “Giờ, mọi người cùng giải quyết vấn đề cho xong nhé?”
Cuộc họp lề rề thêm vài phút nữa rồi kết thúc hoan hỉ. Trên đường về Tiểu Điện, Nikolai im lặng một cách bất thường.
Khi chúng tôi đến khu vườn cạnh kiến trúc cột trụ, gã dừng lại ngắt một chiếc lá khỏi hàng rào và nói, “Ta không nên nổi nóng như vậy. Nó chỉ đụng chạm lòng tự ái và khiến anh ta cứng đầu hơn thôi.”
“Vậy sao anh còn làm thế?” tôi hỏi, thật sự thắc mắc. Hiếm khi Nikolai để cảm xúc che mờ lý trí.
“Ta không biết,” gã trả lời, vò nát chiếc lá. “Cô tức giận. Ta tức giận. Căn phòng nóng phát điên.”
“Tôi không nghĩ vậy.”
“Vậy chắc do chứng khó tiêu?” gã bỡn cợt.
Nhưng tôi sẽ không mất hứng vì trò đùa này. Bất chấp phản đối của Vasily và sự do dự của hội đồng để thực hiện bất cứ điều gì, bằng sự kết hợp nhiệm màu của kiên nhẫn và gây áp lực, Nikolai vẫn xoay xở để thực hiện được vài phần trong kế hoạch. Gã đã thuyết phục viện trợ cho dân tị nạn chạy trốn khỏi vùng Vực Tối, và trang bị vải may bởi Sáng Chế Gia cho những trung đoàn then chốt của Thượng Quân. Gã thậm chí còn khiến họ bỏ tiền cho kế hoạch tân trang công cụ nông nghiệp để thường dân có thể kiếm thêm thu nhập ngoài lương tạm ứng. Những điều nhỏ nhặt, nhưng là sự tiến bộ có thể tạo nên khác biệt theo thời gian.
“Đấy là bởi vì anh thật sự quan tâm đến những gì xảy ra cho đất nước này,” tôi nói. “Ngôi vị có thể chỉ là một giải thưởng đối với Vasily, thứ anh ta muốn giành giật như món đồ chơi yêu thích. Anh thì không thế. Anh sẽ là một vị vua tốt.”
Nikolai sững sờ. “Ta...” lần đầu tiên, từ ngữ dường như biến mất khỏi gã. Rồi một nụ cười méo mó, xấu hổ xuất hiện trên khuôn mặt gã. Nó khác xa cái cười nhăn nhở tự tin thường khi. “Cảm ơn cô,” gã nói.
Tôi thở dài trong lúc chúng tôi đi nhanh trở lại. “Giờ anh sẽ trở nên phiền phức, đúng không?”
Nikolai bật cười. “Ta vốn đã phiền phức rồi.”
Ngày trở nên dài hơn. Vầng dương lửng lơ bên dưới đường chân trời, và lễ hội Belyanoch đã bắt đầu ở Os Alta.
Bầu trời mùa này không chịu tối kể cả vào nửa đêm, và bất chấp nỗi sợ chiến tranh cũng như hiểm họa rình rập từ Vực Tối, thành phố ăn mừng thời khắc bất tận khi chạng vạng. Ở Thượng Trấn, buổi đêm đầy ắp những vở opera, ca vũ nhạc và tiết mục ballet xa hoa. Bên kia cầu, những trận đua ngựa gay cấn và những điệu nhảy ngoài trời làm rúng động đường đi dưới Hạ Trấn. Một dòng chảy vô tận những chiếc thuyền hoan lạc nhấp nhô xuyên kênh, và bên dưới ánh hoàng hôn lấp lánh, mặt nước rì rào bao quanh thủ đô tựa chiếc vòng đá quý, được thắp sáng bởi hàng ngàn chiếc đèn lồng treo trên mũi thuyền.
Cơn nóng đã dịu bớt. Đằng sau bức tường cung điện, mọi người dường như phấn chấn hơn. Tôi tiếp tục bắt buộc các cấp Grisha hòa nhập với nhau, và sau đó, tôi cũng không biết bằng cách nào, thinh lặng bối rối đã được thế chỗ bằng tiếng cười và những cuộc chuyện trò rôm rả. Vẫn còn bè nhóm và xích mích, nhưng không khí đã thoải mái và huyên náo hơn trong đại sảnh.
Tôi rất mừng - có thể cả một chút tự hào - khi thấy Sáng Chế Gia và các Tiết Độ Sư cùng uống trà quanh ấm samovar, hay Fedyor tranh luận với Pavel trong buổi sáng, hay em trai của Nadia cố bắt chuyện với Paja lớn tuổi hơn cậu nhóc và rõ ràng không hứng thú. Nhưng tôi có cảm giác mình đang dõi theo họ từ một khoảng cách quá xa.
Tôi đã cố nói chuyện với Mal vài lần từ cái đêm cả hai cãi nhau. Cậu ấy luôn viện cớ tránh mặt tôi. Nếu không phải đi săn thì sẽ là chơi bài ở Đại Điện hay lai vãng tới quán rượu nào trong Hạ Trấn với bạn mới của mình. Tôi nhận ra cậu ấy uống nhiều hơn. Có nhiều buổi sáng, mắt cậu ấy lờ đờ và trên người là những vết bầm và trầy xước như thể cậu ấy vừa đi đánh nhau về, nhưng Mal vẫn luôn đúng giờ và lễ phép một cách tàn nhẫn. Cậu ấy hoàn thành nhiệm vụ cận vệ của mình, đứng im lặng ở cửa ra vào, và giữ một khoảng cách nhất định khi hộ tống tôi.
Tiểu Điện trở thành một chốn cô đơn quá đỗi. Tôi được mọi người vây quanh, nhưng tôi gần như có cảm giác họ không thể nhìn thấy tôi, chỉ thấy những gì họ cần ở tôi. Tôi không dám tỏ ra ngờ vực hay lưỡng lự, nhưng có những ngày tôi thấy mình tuyệt vọng cùng cực bởi gánh nặng trách nhiệm và kỳ vọng luôn đè trên vai.
Tôi tham dự cuộc họp. Tôi tập luyện với Botkin. Tôi dành hàng giờ liền bên bờ hồ để cải thiện kỹ năng sử dụng Vết Cắt. Tôi thậm chí còn nuốt tự ái đến thăm Baghra lần nữa, mong rằng, nếu không còn gì khác để làm, bà sẽ giúp tôi khai triển sức mạnh tốt hơn. Nhưng bà từ chối gặp tôi.
Tất cả đều không đủ. Con thuyền Nikolai đang xây trên bờ hồ là lời nhắc nhủ rằng những gì chúng tôi đang làm hoàn toàn vô dụng. Đâu đó ngoài kia, Hắc Y đang thu gom nhân lực, xây dựng quân đội, và khi chúng đến, không súng ống, bom đạn, binh lính hay Grisha nào có thể ngăn cản chúng. Kể cả tôi. Nếu trận chiến chuyển sang chiều hướng xấu, chúng tôi sẽ phải rút lui về đại sảnh mái vòm để chờ viện trợ từ Poliznaya. Cánh cửa được củng cố bởi thép của Grisha, Sáng Chế Gia đã bắt đầu lấp những vết nứt và lỗ hổng để ngăn bọn nichevoya xâm nhập.
Tôi đã không lường trước được chuyện ấy. Mọi cố gắng tìm kiếm Hỏa Điểu của tôi đi vào ngõ cụt. Nếu David không thể làm những chiếc đĩa gương hoạt động, thì khi Hắc Y hành quân vào Ravka chúng tôi sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài di tản. Cứ chạy và chạy mãi.
Việc sử dụng sức mạnh không còn giúp tôi an lòng như trước đây nữa. Mỗi lần triệu hồi ánh sáng trong xưởng làm việc của Sáng Chế Gia hay kế bên bờ hồ là tôi lại cảm nhận được cổ tay phải trơ trụi, tựa như một vết nhơ. Kể cả với những điều tôi đã biết về các bộ khuếch đại, sức hủy diệt chúng có thể mang lại, sự đổi thay vĩnh viễn tôi nhận được từ chúng, tôi vẫn không thể từ bỏ nỗi khát khao với Hỏa Điểu.
Mal đã đúng. Nó đã trở thành nỗi ám ảnh. Tôi nằm trên giường mỗi tối, tưởng tượng Hắc Y đã tìm thấy mảnh ghép cuối cùng trong câu đố của Morozova. Có khi anh ta đang nhốt Hỏa Điểu trong một cái lồng bằng vàng. Nó sẽ hót cho anh ta nghe chứ? Tôi thậm chí còn chả biết Hỏa Điểu có thể hót hay không. Vài câu chuyện kể nói vậy. Một trong số chúng bảo rằng bài hát của Hỏa Điểu có thể ru ngủ toàn bộ quân thù. Khi các chiến binh nghe thấy nó, họ sẽ dừng chiến đấu, hạ vũ khí xuống, rồi say ngủ bình yên trong vòng tay kẻ địch.
Giờ đây tôi đã thuộc nằm lòng những câu chuyện ấy. Nước mắt của Hỏa Điểu hóa thành kim cương, lông vũ của nó có thể chữa lành vết thương trần thế, mỗi lần nó đập cánh ta có thể nhìn thấy hình ảnh tương lai thấp thoáng. Tôi đã lùng sục bao cuốn truyện kể dân gian, những bài thơ bi tráng, và tuyển tập những câu chuyện của thường dân, cố tìm ra một đặc thù hay manh mối nào đó. Truyền thuyết về Hải Long xoay quanh vùng nước băng giá ở Xương Đạo, nhưng những câu chuyện về Hỏa Điểu đến từ khắp mọi miền đất nước Ravka và xa hơn nữa, và không gì trong số đó nói về mối liên quan giữa nó với một vị thánh.
Tồi tệ hơn, những ảo ảnh bắt đầu rõ ràng và thường xuyên hơn. Hắc Y xuất hiện trước tôi gần như mỗi ngày, thường là trong buồng ngủ của anh ta hoặc lối đi trong thư viện, thi thoảng là phòng quân sự trong một buổi họp hội đồng hoặc trong lúc tôi rời khỏi Đại Điện lúc hoàng hôn.
“Tại sao anh không chịu để tôi yên hả?” Tôi thì thầm vào đêm nọ khi anh ta lượn lờ xung quanh trong lúc tôi đang cố ngồi lại bàn làm việc.
Mấy phút đằng đẵng trôi qua. Tôi không nghĩ anh ta sẽ trả lời. Tôi thậm chí còn có thời gian để hy vọng anh ta đã rời đi, cho đến khi tôi cảm nhận được bàn tay của anh ta trên vai.
“Nếu vậy ta cũng sẽ cô đơn.” Anh ta nói, và ở lại suốt đêm, đến khi ngọn đèn cháy rụi thành tàn không.
Tôi đã quen với việc thấy anh ta chờ mình ở cuối hành lang, hoặc ngồi bên mép giường ngủ khi tôi say giấc vào ban đêm. Một đôi khi anh ta không xuất hiện, tôi nhận ra bản thân lại kiếm tìm hay tự hỏi vì sao anh ta không đến, và điều đấy mới khiến tôi sợ hãi tột cùng.
Điểm sáng duy nhất là Vasily quyết định rời Os Alta để tham dự buổi đấu giá thường niên tại Caryeva. Tôi suýt reo lên mừng rỡ khi Nikolai báo tin này trong lúc đi bộ trở về Tiểu Điện.
“Thu dọn hành lý lúc nửa đêm,” Nikolai nói. “Anh ấy bảo sẽ quay lại để mừng sinh nhật của ta, nhưng ta sẽ chẳng ngạc nhiên nếu anh ấy viện cớ ở lại.”
“Anh nên cố đừng tỏ ra đắc thắng quá thì hơn,” tôi góp ý. “Thế không quý tộc cho lắm.”
“Chắc chắn ta được phép tỏ ra vui mừng chút ít mà,” gã nói cùng một tràng cười. Gã huýt sáo âm điệu lạc tông mà tôi nhớ ra hồi còn trên thuyền Volkony trong lúc cả hai sánh bước. Rồi gã hắng giọng. “Alina, ta biết không phải lúc nào cô cũng là hình mẫu đáng yêu, nhưng...dạo này cô có ngủ không thế?”
“Không nhiều lắm,” tôi thừa nhận.
“Ác mộng?”
Đúng là tôi vẫn mơ về con thuyền vỡ nát, về đám người chạy trốn khỏi bóng tối vùng Vực, nhưng đấy không phải lý do tôi thao thức hàng đêm. “Không hẳn.”
“À,” Nikolai vỡ lẽ. Gã chắp tay sau lưng. “Ta để ý bạn của cô dạo này cứ lao mình vào công việc. Nhiều người tìm cậu ta lắm.”
“Ờ thì,” tôi nói, cố giữ giọng bình thản, “Mal là thế đó.”
“Cậu ta học dò đường ở đâu vậy? Không ai có thể xác định đấy là vận may hay kỹ năng hết.”
“Cậu ấy không học. Cậu ấy luôn thành công như vậy rồi.”
“May mắn thật,” Nikolai bảo. “Ta chưa bao giờ có năng khiếu trong chuyện gì.”
“Anh là một diễn viên tài năng,” tôi đáp một cách khô khan.
“Cô nghĩ vậy sao?” gã hỏi. Rồi gã cúi sát hơn và thì thầm, “giờ ta đang giả vờ ‘khiêm tốn’ đó”
Tôi lắc đầu chào thua, nhưng tôi thấy biết ơn vì mấy lời bông đùa lải nhải của gã, và còn nhẹ lòng hơn khi gã chấm dứt chủ đề.
David mất gần hai tuần để đưa những chiếc đĩa vào hoạt động, nhưng khi anh ta cuối cùng cũng sẵn sàng, tôi đã tập trung tất cả Grisha lên mái nhà của Tiểu Điện để xem thị phạm. Tolya và Tamar ở đó, cảnh giác như mọi khi, kiểm soát đám đông. Mal biến mất không tăm hơi. Tôi đã thức trắng đêm hôm qua trong phòng sinh hoạt chung, mong được gặp mặt và đích thân mời cậu ấy tham dự. Phải đến nửa đêm về sáng tôi mới bỏ cuộc rồi đi ngủ.
Hai chiếc đĩa khổng lồ được đặt ở hai bên đối nhau trên mái nhà. Chúng có thể xoay chuyển thông qua một hệ thống đòn bẩy, và giữ vị trí mỗi bên là một Sáng Chế Gia và một Tiết Khí Sư, đeo kính bảo hộ để tránh ánh sáng chói. Tôi nhận ra Zoya và Paja đã được phân thành một nhóm, Nadia bắt cặp với một Giả Kim Hợp Gia chịu trách nhiệm chiếc đĩa bên kia.
Dù đây là thất bại hoàn toàn tôi lo lắng thầm nghĩ, ít nhất họ đã hợp tác cùng nhau. Không gì vun đắp tình bạn tốt hơn là một vụ nổ bùng cháy.
Tôi vào vị trí ở trung tâm mái nhà, ngay giữa hai chiếc đĩa.
Với thoáng lo lắng, tôi phát hiện Nikolai đã mời đội trưởng quân đội Hoàng gia đến quan sát, cùng với hai đại tướng và vài cố vấn của Đức vua. Tôi mong rằng họ không kỳ vọng điều gì quá hoành tráng. Sức mạnh của tôi có xu hướng thể hiện tốt nhất trong bóng tối dày đặc, và mùa đêm trắng dài lê thê đã làm điều đó trở thành bất khả thi. Tôi đã hỏi David liệu có thể dời lịch thử nghiệm vào tối muộn được không, nhưng anh ta chỉ lắc đầu.
“Nếu thành công, nó sẽ rất hoành tráng. Và tôi nghĩ dù không thành công thì nó sẽ càng hoành tráng hơn, vụ nổ này kia đủ thứ.”
“David, tôi nghĩ anh vừa mới nói đùa đấy.”
Anh ta cau mày, bối rối thấy rõ. “Thật sao?”
David đã chọn ám hiệu của Nikolai trên tàu Volkvolny theo đề xuất của gã và dùng tiếng còi để báo hiệu cho chúng tôi. Anh ta thổi một hơi the thé, người xem lùi lại sát mái vòm, chừa một khoảng rộng cho chúng tôi. Tôi giơ tay lên. David thổi còi lần nữa. Tôi triệu hồi ánh sáng.
Nó tiến vào tôi như dòng nước vàng rực và vỡ òa khỏi tay dưới dạng hai luồng sáng ổn định. Chúng chiếu lên những chiếc đĩa và phản chiếu một vầng sáng chói lòa. Rất ấn tượng, nhưng không có gì đặc biệt.
Rồi David thổi còi lần nữa, chiếc đĩa hơi nghiêng qua. Ánh sáng hắt ngược lại trên mặt gương, tự động tăng lên và gom lại thành hai mũi tên rực nắng đâm xuyên qua hừng đông.
Một tiếng aaa vang lên từ phía đám đông trong khi mọi người che mắt lại. Tôi đoán mình không phải lo phiền phức rồi.
Ánh sáng chém toạc không gian, gửi đến từng đợt thác rạng ngời và sức nóng lan tỏa, như thể chúng đang thiêu rụi bầu trời. David lại thổi thêm một tiếng còi ngắt quãng, và luồng sáng nhập vào nhau thành một lưỡi gươm nung chảy rực rỡ. Nếu Vết cắt là con dao trong tay tôi, giờ nó đã thành một thanh đao.
Hai chiếc đĩa nghiêng xuống, và luồng sáng hạ thấp hơn. Đám đông thở dốc đầy kinh ngạc khi nó sượt qua bìa rừng bên dưới, ngang tầm những ngọn cây.
Đĩa nghiêng thấp hơn. Ánh sáng thiêu cháy bờ hồ và tiến ra giữa mặt nước. Một đợt hơi nóng dâng lên không khí với tiếng ùng ục rõ ràng, và trong chốc lát, toàn bộ mặt hồ dường như đang sôi sục.
David thổi thêm tiếng còi hốt hoảng. Một cách nhanh chóng, tôi bỏ tay xuống, và ánh sáng tan biến.
Chúng tôi chạy ra rìa mái nhà và nhìn xuống.
Cứ như ai đó vừa lấy dao chém sạch phần đỉnh của khu rừng bằng đường chéo ngọt lịm từ ngọn cây đến bờ hồ. Dấu vết những nơi bị ánh sáng chạm đến trên mặt đất là những mương rãnh rực hồng chạy dài đến mép nước.
“Thành công rồi,” David nói bằng giọng mơ màng. “Thật sự thành công rồi.”
Im lặng một chút, rồi Zoya phá lên cười. Sergei cũng tham gia, rồi Marie và Nadie. Bỗng nhiên chúng tôi đều cười nói và cổ vũ, kể cả Tolya ủ rũ, anh ta vác luôn anh chàng David còn đờ đẫn lên vai. Quân lính đang ôm Grisha, cố vấn của Đức vua đang ôm những đại tướng, Nikolai đang nhảy với Paja đeo kính quanh mái nhà, và đội trưởng quân cận vệ khúc khích ôm chầm lấy tôi.
Chúng tôi reo hò và la hét và nhảy nhót khiến toàn cung điện như đang rung chuyển. Một bất ngờ lớn đang chờ đón bọn nichevoya khi Hắc Y quyết định tiến công đây.
“Đi xem nào!” Ai đó la lên, và chúng tôi chạy xuống cầu thang như những đứa trẻ nghe tiếng chuông tan học, cười cợt chạy loạn xạ khắp nơi.
Chúng tôi lao xuyên qua Đại sảnh mái vòm và mở tung cửa, nháo nhào khỏi bậc tam cấp và chạy ra ngoài. Trong lúc mọi người nhanh chân về phía bờ hồ, tôi đứng khựng lại.
Mal đang đi ra từ đường hầm cây cối.
“Đi đi,” tôi bảo Nikolai. “Tôi sẽ theo sau.”
Mal nhìn xuống đường trong khi tiến lại gần, tránh ánh mắt của tôi. Lúc cậu đến gần hơn, tôi thấy mắt cậu đỏ ngầu và trên gò má là một vết bầm xấu xí.
“Chuyện gì xảy ra vậy?” Tôi hỏi, đưa tay về phía khuôn mặt cậu. Cậu ấy lảng đi, liếc mắt nhìn người hầu đang đứng ở cửa Tiểu Điện.
“Mình vấp phải một chai kvas” cậu ấy bảo. “Bồ có cần gì không?”
“Bồ lỡ mất buổi thị phạm rồi.”
“Không phải phiên trực của mình.”
Tôi mặc kệ cơn đau nhói trong lồng ngực và tiếp tục. “Bọn mình đang đến bờ hồ. Bồ muốn đi không?”
Cậu ấy tỏ ra do dự trong thoáng chốc, rồi cậu lắc đầu. “Mình chỉ về lấy ít xu thôi. Người ta đang chơi bài ở Đại Điện.”
Tim tôi quặn thắt. “Bồ nên thay quần áo đi,” Tôi nói. “Trông bồ như đang mặc đồ ngủ ấy.” Tôi thấy hối hận vì câu nói ấy ngay lập tức, nhưng Mal có vẻ chẳng quan tâm.
“Có khi là vậy thật,” cậu ấy đáp. “Còn gì nữa không?”
“Không.”
“Moi soverenyi.” Cậu ấy cúi chào đột ngột rồi nhảy vọt lên bậc thang như thể muốn lánh xa tôi càng sớm càng tốt.
Tôi chậm rãi rảo bước về phía bờ hồ, mong rằng bằng cách nào đó nỗi đau trong tim sẽ nguôi ngoai. Niềm vui từ thí nghiệm thành công trên mái nhà đã tan biến, chỉ còn lại sự trống trải day dứt, tôi như một cái giếng để người khác hét vào và được đáp lại không gì khác ngoài những tiếng vọng rã rời.
Cạnh bờ hồ, một nhóm Grisha đang đi dọc chiều dài con mương, báo cáo kích thước của nó trong chiến thắng và hân hoan. Mương rộng hơn nửa mét cùng độ sâu tương đương, một đường rãnh đất cháy trải dài đến mép nước. Trong rừng, những ngọn cây đổ rạp chồng chất lên nhau thành một đống hỗn độn cành và vỏ. Tôi đưa tay lướt trên một trong các thân cây bị đốn ngã. Thớ gỗ trơn nhẵn, đường cắt gọn gàng và vẫn còn nóng hổi. Hai đám lửa nhỏ bắt đầu lan rộng, nhưng những Tiết Hải Sư đã nhanh chóng dập tắt chúng.
Nikolai cho đem thức ăn cùng rượu sâm-panh đến tận nơi, và chúng tôi dành cả buổi tối bên bờ hồ. Các đại tướng và cố vấn quay về khá sớm, nhưng đội trưởng cận vệ và một vài binh lính của mình ở lại. Họ cởi áo khoác và giày rồi lội xuống nước, và chẳng mấy chốc mọi người đều quyết định kệ áo quần bị ướt mà nhảy tõm vào hồ, tạt nước và đùa giỡn nhấn chìm nhau, rồi tổ chức bơi đua đến hòn đảo nhỏ. Chẳng ai ngạc nhiên khi Tiết Hải Sư luôn thắng, được những đợt sóng may mắn cuốn đi xa.
Nikolai và những Tiết Khí Sư của gã mời mọi người lên chiếc thuyền bay vừa đóng xong được gã đặt tên là Chim Bói Cá. Ban đầu họ hơi e dè, nhưng sau khi nhóm người can đảm đầu tiên trở về, đập tay như vỗ cánh và huyên thuyên về việc bay lượn thật sự thì ai cũng muốn thử. Tôi đã thề sẽ không rời chân khỏi mặt đất lần nữa, nhưng cuối cùng tôi chào thua và nhập bọn cùng họ.
Có lẽ do sâm-panh hoặc vốn dĩ tôi đã biết chuyện gì sắp diễn ra, nhưng Chim Bói Cá dường như nhẹ nhàng và tao nhã hơn Chim Ruồi nhiều. Dù tôi vẫn bám chặt buồng lái bằng hai tay, nhưng tôi có cảm tưởng tâm hồn cũng đang bay bổng trong lúc cả đoàn lướt gió vút lên cao.
Tôi gom hết can đảm để nhìn xuống. Mặt đất nghiêng ngả của Đại Điện mênh mang phía dưới, những lối đi lát sỏi trắng cắt chéo nhau. Tôi nhìn thấy nóc nhà kính của Grisha, vòng tròn hoàn hảo của vòi phun nước hai con đại bàng, ánh vàng lấp lánh của cổng cung điện. Rồi chúng tôi bay vọt qua những dinh thự và những đại lộ dài thẳng tắp trong Thượng Trấn. Đường xá đông nghẹt người đi trẩy chơi Đêm Trắng. Tôi nhìn thấy nghệ sĩ tung hứng và người đi cà kheo ở khu Gersky, những vũ công quay vòng trên sân khấu thắp sáng trong một công viên. Tiếng nhạc vang vọng từ những chiếc thuyền trên kênh.
Tôi muốn ở đó mãi mãi, được gió ngàn vây quanh, quan sát thế giới tí hon hoàn mỹ ngay bên dưới. Nhưng cuối cùng Nikolai bẻ bánh lái uốn thành vòng cung chậm rãi đưa chúng tôi trở lại bờ hồ.
Hoàng hôn thẫm màu thành sắc tím đằm thắm. Tiết Hỏa Sư thắp lửa trại dọc theo bờ hồ, và thấp thoáng trong chạng vạng, người nào đó đang lên dây đàn balalaika. Từ thị trấn bên dưới, tôi nghe tiếng huýt sáo và tiếng pháo hoa nổ tanh tách.
Nikolai và tôi ngồi ở cuối bến tàu dựng tạm, quần xắn lên và chân đu đưa qua lại. Thuyền Chim Bói Cá nhấp nhô ngay bên cạnh, cánh buồm màu trắng xoay theo hướng gió.
Nikolai đá chân xuống hồ làm nước văng tung tóe. “Chiếc đĩa đã thay đổi mọi thứ,” gã nói. “Nếu cô có thể giữ chân bọn nichevoya đủ lâu, chúng ta sẽ có đủ thời gian tìm ra và bắn hạ Hắc Y.”
Tôi nằm phịch xuống, duỗi tay qua đầu và thu vào tầm mắt sắc tím xinh đẹp của bầu trời đêm. Khi nghiêng đầu sang bên, tôi có thể lờ mờ nhận ra hình thù của ngôi trường giờ đây đã vắng lặng, những khung cửa sổ tối om. Tôi muốn các em học sinh thấy được chiếc đĩa có thể làm những gì, để cho các em thêm chút hy vọng. Viễn cảnh chiến tranh vẫn quá đáng sợ, đặc biệt là khi tôi nghĩ đến những mạng sống có thể hy sinh. Nhưng ít nhất chúng tôi không chỉ biết ngồi trên đỉnh đồi chờ chết nữa.
“Chúng ta thật sự có cơ hội chiến đấu rồi,” tôi sửng sốt cất lời.
“Cố đừng phấn khích quá, nhưng ta có nhiều tin tốt hơn đây.”
Tôi càu nhàu. Tôi biết giọng điệu đó. “Đừng nói.”
“Vasily đi Caryeva về rồi.”
“Anh có thể làm phước dìm chết tôi ngay bây giờ không?”
“Rồi ta chịu khổ một mình hả? Ta không nghĩ vậy.”
“Anh có thể nhân dịp sinh nhật để yêu cầu bịt miệng anh ta với một cái rọ mõm hoàng gia,” tôi đề nghị.
“Nhưng vậy thì chúng ta sẽ lỡ mất những câu chuyện thú vị về buổi đấu giá mùa hè của anh ấy. Chắc cô có hứng thú với phép phối giống ngựa đua Ravka ưu việt phải không?”
Tôi để thoát ra tiếng rên rỉ. Phiên trực của Mal sẽ rơi vào tiệc sinh nhật của Nikolai tối hôm sau. Có thể tôi sẽ thuyết phục Tolya hay Tamar đổi chỗ cho cậu ấy. Hiện tại, tôi không nghĩ mình có thể nhìn nổi cảnh cậu ấy trơ mặt đứng gác cả đêm, nhất là khi Vasily cứ lảm nhảm luôn mồm.
“Vui lên đi,” Nikolai an ủi. “Có thể anh ấy sẽ cầu hôn lần nữa đấy.”
Tôi ngồi dậy. “Sao anh biết chuyện đó?”
“Nếu cô còn nhớ thì ta cũng đã hành động tương tự. Ta chỉ ngạc nhiên là anh ấy chưa ngỏ lời lần thứ hai thôi.”
“Rõ ràng là không dễ để gặp riêng tôi.”
“Ta biết,” Nikolai bảo. “Chứ cô nghĩ tại sao ta lại tiễn cô về từ Đại Điện sau mỗi buổi họp hả??”
“Vì tôi là người đồng hành sắc sảo?” tôi chua chát đáp trả, cảm thấy tức vì thoáng thất vọng của bản thân bởi những lời gã nói. Nikolai thật giỏi làm người ta quên rằng mọi việc gã làm đều có tính toán cả.
“Cả chuyện đó nữa,” gã nói. Gã nhấc chân khỏi mặt nước và chăm chú nhìn mấy ngón chân ngọ nguậy của mình. “Từ từ rồi anh ấy sẽ cầu hôn lại ngay.”
Tôi thở dài với vẻ phiền muộn khá cường điệu. “Làm sao để từ chối một hoàng tử nhỉ?”
“Hồi trước cô đã làm được,” Nikolai nói, vẫn đang nghiên cứu bàn chân mình. “Mà cô có chắc là mình muốn từ chối không?”
“Anh đang nói thiệt đó hả?”
Nikolai trở người gượng gạo. “Ờ, anh ấy là người đầu tiên sẽ kế thừa ngai vàng, tài sản hoàng gia, và tất cả”
“Tôi sẽ không kết hôn với Vasily dù thú cưng của anh ta có là một con Hỏa Điểu tên Ludmilla đi nữa, và tôi chẳng quan tâm đến tài sản hoàng gia chi hết.” Tôi nhìn gã chằm chằm. “Anh nói anh không thèm để ý đế mấy tin đồn nhảm về dòng máu của mình mà.”
“Ta đã không hoàn toàn thật lòng về vụ đó”
“Anh? Không thật lòng? Tôi ngạc nhiên đấy, Nikolai. Ngạc nhiên và kinh hãi.”
Gã bật cười. “Ta nghĩ lúc rời xa triều đình thì sẽ dễ nói rằng chuyện đó không quan trọng. Nhưng hình như không ai ở đây cho phép ta quên nó cả, đặc biệt là anh trai ta.” Gã nhún vai. “Trước giờ vốn vậy. Tin đồn về ta xuất hiện từ trước khi ta ra đời kìa. Đấy là lý do mẫu hậu chưa bao giờ gọi ta là Sobachka. Bà bảo nghe như ta là chó lai vậy.”
Tim tôi chợt thót lên khi nghe đến đó. Tôi đã bị gọi bằng đủ thứ biệt danh khi lớn lên.
“Tôi thích chó lai,” tôi nói. “Chúng có đôi tai cụp dễ thương quá chừng.”
“Tai của ta dựng thẳng lắm nha.”
Tôi vuốt tay trên một tấm ván trơn trượt của cầu tàu. “Có phải đấy là lý do anh rời đi quá lâu không? Lý do anh trở thành Sturmhond?”
“Ta không biết một lý do đã đủ hay chưa. Ta chưa bao giờ cảm thấy mình thuộc về nơi đây, nên ta cố tạo ra một chốn riêng để có thể hòa mình vào đó.”
“Tôi cũng chưa bao giờ thấy mình thuộc về bất kì đâu,” tôi thú nhận. Ngoại trừ bên cạnh Mal. Tôi đẩy lùi suy nghĩ ấy. Rồi tôi cau mày. “Anh biết tôi ghét anh ở điểm nào không?”
Gã chớp mắt, giật mình. “Không.”
“Anh lúc nào cũng đúng.”
“Và cô ghét điều đó?”
“Tôi đã thấy anh thay đổi tính cách, Nikolai. Anh luôn cư xử đúng mực theo kỳ vọng của mọi người. Có thể anh chưa bao giờ thấy mình thuộc về nơi đây, hoặc có thể anh chỉ nói thế để làm một cô gái mồ côi nghèo khổ tội nghiệp thích anh hơn.”
“Vậy cô có thích ta không?”
Tôi đảo mắt. “Có, khi tôi không muốn đâm anh.”
“Khởi đầu tốt đấy.”
“Không hề.”
Gã quay sang tôi. Trong tranh tối tranh sáng, đôi mắt nâu của gã tựa như hai mảnh màu hổ phách.
“Ta là một thuyền trưởng, Alina,” gã khẽ nói. “Ta sẽ chiếm đoạt những gì mình có thể chiếm được.”
Đột nhiên tôi cảm thấy được vai gã đang kề sát bên, đùi gã áp chặt người tôi. Không gian ấm nóng và thơm nồng hương mùa hạ cùng khói bốc từ gỗ cây.
“Ta muốn hôn cô,” gã nói.
“Anh từng hôn tôi rồi,” tôi lo lắng cười đáp lại.
Gã nhếch môi mỉm cười. “Ta muốn hôn cô lần nữa,” gã bổ sung.
“Ô,” tôi thở hắt ra. Môi gã cách môi tôi một khoảng nhỏ. Trái tim tôi nhảy vọt như đánh trống. Đây là Nikolai, tôi tự nhắc mình. Chỉ là mưu tính thôi. Tôi thậm chí còn chẳng nghĩ đến chuyện muốn gã hôn mình. Nhưng kiêu hãnh trong tôi vẫn còn tổn thương bởi câu từ chối của Mal. Không phải cậu ấy nói đã hôn nhiều cô gái rồi sao?
“Ta muốn hôn cô,” Nikolai nhắc lại. “Nhưng ta sẽ không làm thế. Cho đến lúc cô thực sự nghĩ về ta thay vì cố quên đi cậu ta.”
Tôi ngả người ra sau và lảo đảo đứng lên một cách vụng về, cảm thấy rối bời và xấu hổ.
“Alina...”
“Ít nhất giờ tôi đã biết không phải lúc nào anh cũng đúng rồi,” tôi làu bàu.
Tôi chộp lấy giày và chạy khỏi cầu tàu.